Tháng 3 năm 1949, khi tôi được điều về Đoàn Thanh niên thành phố, những ưu điểm được ghi nhận ở tôi là tư tưởng rõ ràng, nhìn nhận vấn đề sắc sảo, biết động não, v.v.. Ngoài ra, tôi đã học được từ đồng chí Lưu Phong một bản lĩnh, bất luận quần chúng bàn tán xôn xao, ý kiến bất đồng thế nào, thì đều phải đúc kết lại mấy điểm từ tầm cao và đại cục: cách mạng đang tiến lên, giác ngộ của quần chúng đang nâng cao, thành tích công tác của chúng ta rất hiển hách, những nhân tố tích cực mới đang tuôn trào, đại loại là vậy. Nghe những phân tích như thế, mọi người sẽ lập tức có được cảm giác đứng cao nhìn xa, tâm hồn thư thái, đoàn kết một lòng, tiền đồ xán lạn. Đứng cho cao, nhìn cho xa, vĩnh viễn tràn đầy tự tin, vĩnh viễn điềm tĩnh vững vàng, đây là công phu căn bản của tôi, điều này đã ảnh hưởng đến cả cuộc đời tôi.
Nhưng chẳng mấy chốc tôi đã phơi bày sự ngây thơ non nớt của tuổi thiếu niên và mặt tâm lý lẫn sinh lý không phù hợp với nhu cầu công việc. Ví dụ, khi họp buổi tối, tôi sẽ ngồi trên ghế ngủ gật ngon lành. Kể từ khi bị mất ngủ thời trung học, cả đời tôi rất ham ngủ, luôn đinh ninh giấc ngủ là sự đảm bảo hàng đầu cho sức khỏe và sự nghiệp. Mà tinh thần của một bộ phận cán bộ Đoàn thành phố lúc bấy giờ (97% xuất thân từ đảng viên ngầm là học sinh trung đại học) lại thể hiện chủ yếu ở việc thức khuya tăng ca, càng đến nửa đêm càng đến ngày nghỉ, đặc biệt là mùng Một Tết hay các dịp lễ lớn thì tuyệt đối không nghỉ ngơi không ngủ nghỉ, tăng ca để giành lấy thắng lợi hoàn toàn của cách mạng. Còn tôi thì vô cùng phản cảm với điều này, tôi không hiểu nổi tại sao một nhà cách mạng lại có thể chỉ biết bận rộn mà quên mất việc chắt lọc nguồn cảm hứng chân, thiện, mỹ từ sự hào hùng của sự nghiệp và sự rộng lớn của đời sống. Lúc đó tôi đã biết đến một từ —— chủ nghĩa sự vụ, sao mà lắm chủ nghĩa sự vụ thế không biết. Tôi cũng tin vào danh ngôn của Lenin: Không biết nghỉ ngơi thì không biết làm việc. Tôi đinh ninh rằng mệt mỏi quá mức nhất định phải tự điều chỉnh. "Tinh thần" của tôi không đủ dùng, thỉnh thoảng lại lơ đễnh bỏ quên những việc lãnh đạo giao phó. Tôi muốn chơi, muốn có thời gian đứng ngoài quan sát thưởng ngoạn. Khi các cuộc họp kéo dài vô tận, những lời lẽ vòng vo nói mãi không dứt, tôi sẽ bỗng nhiên ngẩn ngơ đi thưởng ngoạn những chú chim sẻ và mây hồng ngoài cửa sổ, ánh đèn và tàu điện.
Khi mọi người bình tâm lại, liền thừa nhận một nhận thức thông thường: Để một đứa trẻ mười bốn, mười lăm tuổi làm cán bộ thì quả là quá sớm. Vào đợt sáp nhập điều chỉnh cơ cấu mùa hè năm 1949, tôi được khuyên nên tiếp tục quay lại trường học. Nhưng tôi lại không muốn chấp nhận sự sắp xếp này, tôi lúc bấy giờ đã tâm phù khí táo (tâm trạng nôn nóng, kiêu ngạo), cao ngạo hơn trời, khó lòng quay lại ngồi sau bàn học được nữa. Thực chất tôi đã "thất nghiệp", nên đành tạm thời đến đoàn học tập mùa hè để quản lý chuyện bếp núc, và đây là khoảng thời gian tôi học được cách uống rượu lần đầu tiên. Hàng ngày tôi giao thiệp với những con buôn tư nhân cung cấp lương thực, dầu ăn và rau củ, hôm nay bạn phát hiện miến ở cửa hàng A rẻ hơn cửa hàng B hai mươi phần trăm, bạn chuyển sang mua ở cửa hàng A, ngày mai bạn lại phát hiện gạo ở cửa hàng C vừa ngon lại rẻ hơn cửa hàng A. Cuối cùng, bạn gần như từ bỏ hy vọng mua được thực phẩm hời nhất nhờ sự cạnh tranh giữa các tiểu thương, mà lại học được cách cạn ly với họ. Thế nhưng, những bài báo cáo lớn do tổ chức đoàn học tập tổ chức vẫn vô cùng đặc sắc, tôi đã được nghe Ngải Thanh phê bình bài thơ "Đừng véo tôi, đau" của Từ Chí Moà, tôi nghe Chu Dương giảng về phong trào văn nghệ cách mạng, hình như còn có cả những bậc danh gia trong lĩnh vực triết học và lịch sử học như Ngải Tư Kỳ v.v. đến giảng bài cho học sinh tham gia đoàn học tập, bày bán sự phong phú, huy hoàng, bách chiến bách thắng và sự bừng bừng sức sống của ý thức hệ hoàn toàn mới mẻ của khu giải phóng và Đảng Cộng sản.
Tiếp theo, vào cuối tháng 8, tôi được phân công đến học tại khóa 2 Trường Đoàn Trung ương. Tôi học lớp 15. Lớp 15 phần lớn đến từ Bắc Kinh, Từ Mông Sơn từng giữ chức vụ lãnh đạo của Đồng minh Tự chủ Dân chủ Đài Loan là học viên lớp chúng tôi, khi đó là ủy viên chi bộ đảng của lớp. Ngoài ra còn có một số đảng viên học sinh Thượng Hải và Nam Kinh. Hầu hết là cán bộ Đoàn đã có một chút kinh nghiệm "cách mạng". Lớp 17 là học sinh mới đến từ Thượng Hải. Còn lớp 18 chủ yếu là những người mới tham gia công tác đến từ Bắc Kinh.
Ban đầu Trường Đoàn Trung ương chưa vào thành phố, địa điểm trường chúng tôi đặt tại huyện Lương Hương phía nam Bắc Kinh. Đến huyện Lương Hương đi học, điều này mang ý nghĩa tượng trưng. Cách mạng Trung Quốc đi theo con đường nông thôn bao vây thành phố, vừa được giải phóng, những người từ dưới quê vào thành phố đã chiếm thế thượng phong. Việc tôi đến Lương Hương học tập thể hiện rõ màu sắc của lão thành cách mạng. Chúng tôi ở trong những ngôi nhà "mượn" được của bà con nông dân, chúng tôi tranh nhau gánh nước cho bà con, chúng tôi kế thừa truyền thống tốt đẹp yêu quý nông dân của các thế hệ cách mạng tiền bối.
Đây là lần đầu tiên tôi sống ở vùng quê từ khi lớn lên, mang lại cảm giác rất mới mẻ.
Chúng tôi đã nghe rất nhiều lớp học lớn chất lượng cao và quy chuẩn cao, nếu dùng từ ngữ bây giờ, đội ngũ giảng viên của chúng tôi quả thực là một dàn line-up siêu khủng: Lý Lập Tam giảng về phong trào công nhân, Trần Thiệu Vũ (Vương Minh, lúc đó là Chủ nhiệm Ủy ban Pháp chế Viện Chính trị) giảng về Luật Hôn nhân, Đặng Dĩnh Siêu giảng về công tác phụ nữ, Phùng Văn Bân (lúc đó là Bí thư Trung ương Đoàn) giảng về phong trào thanh niên, Ngải Tư Kỳ giảng về triết học, Tôn Định Quốc giảng về lịch sử Đảng. Giọng Bắc Kinh của Đặng Dĩnh Siêu thanh thiết sinh động. Giọng của Ngải Tư Kỳ mang âm điệu Tứ Xuyên. Bài phát biểu của Vương Minh không có bất kỳ điểm đặc sắc nào. Đáng nhớ nhất là Điền Gia Anh - người làm việc bên cạnh Chủ tịch Mao - giảng về Tư tưởng Mao Trạch Đông, ông giảng từ buổi chiều sang buổi tối, sau bữa tối giảng tiếp, kéo dài đến tận đêm khuya. Tiết học lớn được tổ chức ngoài trời, mỗi chúng tôi tự chuẩn bị một chiếc ghế đẩu nhỏ, cầm sổ cắm cúi ghi chép. Sau khi trời tối, người ta thắp đèn khí đá, thu hút quá nhiều côn trùng hướng quang, mấy lần phải ngắt quãng việc giảng bài để dùng giấy gói bắt và tiêu diệt côn trùng. Tôi nhớ mãi cho đến tận bây giờ, Điền Gia Anh đã nói, Tư tưởng Mao Trạch Đông giống như biển cả, mỗi người đều có thể đến múc nước trong đó, nhưng nước thì không bao giờ cạn kiệt. Tư tưởng Mao Trạch Đông giống như chiếc đàn piano, mỗi người đều có thể dùng nó tấu lên những khúc nhạc tuyệt vời vô tận. Khi giảng đến những luận thuật của Tư tưởng Mao Trạch Đông về trí thức, Điền Gia Anh nói, tri thức hóa cần phải chính trị hóa và tổ chức hóa. Ông nói Chủ tịch từng bảo trí thức là "lông gà vỏ tỏi om sòm, tranh qua tranh lại hóa không không", đây là những điều tôi không thể học được từ các tài liệu khác. Điền Gia Anh giảng về Tư tưởng Mao Trạch Đông hoàn toàn bằng ngôn ngữ của chính mình, giảng bằng tâm đắc của chính mình, và tôi có thể cảm nhận được ông cũng đang say sưa trong bài diễn thuyết phóng khoáng tự tại của chính mình.
Nhưng tôi cũng có chút bảo lưu: Ông giảng huyên thuyên không dứt, như mưa trút nước, truyền thụ toàn diện, tai không kịp nghe, một mạch liền giảng sáu bảy tiếng đồng hồ, ngoài việc ăn tối ở giữa chừng ra, đến cả nghỉ giải lao giữa tiết cũng không có, càng không có chuyện tương tác, hỏi đáp, thảo luận, chất vấn nào cả. Ông hoàn toàn là một người giải cứu, người cứu rỗi, người tuyên bố, người chỉ huy, người biết trước giác ngộ trước, ông đang cầm tay chỉ việc dạy dỗ những cán bộ trẻ tuổi này, trong khi người nghe chỉ là kẻ tiếp nhận một chiều, kẻ hấp thụ, kẻ bắt đầu từ con số không hoặc số âm. Kiểu giảng dạy này ít nhất đã khiến tôi cảm thấy mệt mỏi, cho cả tôi và cho cả thầy giáo. Sau chín giờ tối, tôi đã gửi một mẩu giấy nhỏ: "Xin hãy nắm bắt thời gian". Hồi đó nghe giảng là có thể gửi giấy nhỏ, không cần phải kí tên. Thầy Điền đã cầm lấy và đọc to mẩu giấy này, thầy rất dân chủ, nhưng thầy không hề lấy làm lạ cũng không để tâm, lãnh đạo Vụ Giáo vụ ngồi cạnh thầy tỏ ý "cứ giảng thoả mái, cứ giảng thoả mái", thế là thầy cũng chẳng hề thu liễm chút nào mà tiếp tục dạt dào khí thế giảng tiếp xuống dưới. Cũng có một số học sinh nghe thầy giáo đọc mẩu giấy liền lộ ra vẻ mặt kinh ngạc.
Điền Gia Anh đương nhiên không phải là nhân vật tầm thường, tôi không có tiếp xúc trực tiếp với ông, ở đây không bàn nhiều về ông, nhưng ít nhất tôi có thể khẳng định, ông có học vấn, có tài năng, thích suy ngẫm, có tính sáng tạo, đang ở trạng thái cực kỳ hưng phấn, trạng thái bùng nổ ngôn từ và gia tốc tư duy.
Năm 1980, lần đầu tiên sang thăm Mỹ, tôi nhìn thấy một đoạn văn trên cây đàn piano tại nhà của một vị giáo sư, nói rằng đời người giống như cây đàn piano, sự thể hiện của nó quyết định bởi cách bạn tấu lên. Nó khiến tôi nhớ đến đồng chí Điền Gia Anh mang số phận bi trịch đã rời xa cõi đời hơn mười năm nay.
Tại Trường Đoàn Trung ương, đồng thời tiến hành cải tạo tư tưởng cấp tốc, các học viên khao khát tiếp thu những lý thuyết cách mạng, tư tưởng mới, quan niệm mới, kết hợp với thực tế, kiểm điểm xem trong nhận thức tư tưởng vốn có của bản thân có những điểm nào không phù hợp với quan niệm mới, đã chịu ảnh hưởng của những lý thuyết phản động nào, mang những nhận thức mơ hồ nào, thành kiến giai cấp bóc lột nào, từng làm những việc sai trái xấu xa nào, đã có lỗi với nhân dân ra sao, có lỗi với cách mạng thế nào. Không biết hình thành một thứ phong khí gì, càng mắng mỏi bản thân, càng sám hối sự xấu xa phản động của mình, thì càng chứng minh việc học tập đã thu được thành quả.
Lớp chúng tôi hai lần tổ chức đại hội phê bình toàn lớp, giúp đỡ hai học viên, họ đều là trí thức mới tham gia công tác cách mạng đến từ các trường đại học, họ đều là những nhân tố tích cực trong phong trào học sinh chống Tưởng chống Mỹ. Trong đó có một người vi phạm kỷ luật nhà trường, có tình cảm yêu đương với một nữ học viên, hơn nữa phương thức bày tỏ tình yêu của anh ta bị cho là hoàn toàn mang tính chất tiểu tư sản — anh ta tặng cho nữ sinh này một hòn đá, dùng một cách chơi chữ đồng âm nào đó. Một người khác là "lãnh tụ học sinh" nào đó, ăn nói lưu loát, thích thể hiện, tính cách hào sảng, từng nói những lời như kiểu dân chủ tự do, là kẻ điển hình mang "chủ nghĩa anh hùng cá nhân". Tất cả chúng tôi đã tiến hành phê bình vũ bão như cuồng phong sóng dữ đối với hai người họ, mọi người cảm xúc dâng trào, cảm thấy mới mẻ mà lại nhiệt liệt, mặt đối mặt vạch trần sâu sắc phê phán mãnh liệt. Thật là chuyện xưa nay chưa từng thấy. Hai người này, đặc biệt là người phía sau, cũng bị những lời phê bình tại đại hội kiểu mưa bom bão đạn, chiêng trống khua vang làm cho hưng phấn bi tráng, khao khát những kỳ tích đổi mới hoàn toàn, khao khát chương mới toanh trong lịch sử bản thân, lớn tiếng tuyên bố đây là sự giúp đỡ to lớn, sự ấm áp to lớn, sự thúc đẩy to lớn...
Chi bộ Đoàn và chi bộ Đảng của lớp chúng tôi đã tiến hành bầu cử lại một cách hết sức dân chủ, hoàn toàn do đảng viên và đoàn viên đề cử, các ứng viên còn phát biểu, nói rằng nếu mình đắc cử thì sẽ làm thế nào. Các thành viên khác cũng tự do phát biểu, không khí cực kỳ sôi nổi. Người bị cho là mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân ấy là ứng viên ủy viên chi đoàn, có người nêu ra tính cách anh ta nóng nảy, đó là khuyết điểm. Một thanh niên khác liền nói, nóng nảy tuy không tốt, nhưng cũng có cái lợi, đặc điểm của anh ta là "kế hoạch năm năm, hoàn thành trong ba năm", mọi người vỗ tay. Nhưng ngay lập tức có người chỉ ra rằng, quy kết "kế hoạch năm năm, hoàn thành trong ba năm" là hậu quả của tính cách nóng nảy, cách nói này hoàn toàn sai lầm về mặt chính trị, thế là các học viên lại nhận được thêm một bài học nữa. Tôi cảm thấy hối hận, nghĩa là bản thân tôi vốn dĩ cũng mang thái độ chất vấn đối với luận điểm nóng nảy "hoàn thành trong ba năm", nhưng lại không lập tức chỉ ra một cách nghiêm khắc, đã đánh mất đi cơ hội thể hiện sự giác ngộ cao độ trình độ cao của bản thân.
Chủ nghĩa anh hùng cá nhân tuy bị đại hội phê bình, nhưng rốt cuộc vẫn đắc cử ủy viên chi đoàn, điều này rất cảm động.
Lần khác thì trình độ của tôi đã được thể hiện. Về vấn đề nghỉ phép, nhà trường có một đợt sắp xếp, học viên có một số ý kiến, sau khi phản ánh thì phía nhà trường đã tiếp thu ý kiến của học viên, một học viên nói là "đấu tranh đã giành được thắng lợi", tôi liền chỉ ra ngay: Cách nói như vậy là không thỏa đáng.
Tôi đương nhiên là người được khẳng định rồi.
Tôi tin rằng biểu hiện của tôi ở trường Đoàn vẫn là khá tốt. Các buổi thảo luận tổ lớn tổ nhỏ tổ liên kết là võ đài đua nhau thể hiện sự giác ngộ, thể hiện tính đúng đắn về mặt chính trị, nhiệm vụ khi vào trường Đoàn là phải đạt đến tiêu chuẩn của một người cách mạng thông qua phương thức nắm bắt phân tích vấn đề. Về mặt này tôi tuyệt đối không thua kém, thường xuyên được các đồng chí trong tổ khen ngợi thậm chí là ngưỡng mộ. Nhưng chủ nhiệm lớp chỉ ra phương pháp tư duy của tôi có tính phiến diện, tôi nghĩ ý ngài là tôi quá dễ có chút ít tâm đắc là phóng đại lên, tôi tin rằng lúc đó tư tưởng "tả" khuynh của tôi kinh ngạc đến mức nào.
Trong tổ chúng tôi có một bạn học sinh xuất thân từ giai cấp địa chủ, mọi người lần lượt giúp đỡ anh ta thanh toán tội ác của giai cấp địa chủ, anh ta hoàn toàn tiếp nhận. Anh ta nhận được thư nhà trong lúc học tập, biết tin ông nội qua đời, một bạn học lớn hơn tôi một tuổi nhưng trông còn trẻ con hơn tôi liền nói: "Bớt đi một lão khốn nạn." Đứa cháu của người đã chết lộ ra cảm xúc không vui, chúng tôi liền giúp đỡ anh ta nâng cao giác ngộ, tự cho rằng mình đã làm ra những phân tích thấu tình đạt lý. Tôi tỏ ý không đồng tình việc mắng mửi người đã chết, đồng thời, mắng một lão địa chủ thì tuyệt đối không thể có lý do phản cảm với việc đó, chúng tôi đầy cảm xúc phao phí giả định sự bóc lột và áp bức của bao đời tổ tiên lão địa chủ, sự sống sướng hưởng thụ và vơ vét mồ hôi nước mắt nhân dân, chúng tôi nói đến mức đương sự tâm phục khẩu phục.
Ngoài ra, sức khỏe của tôi ở trường Đoàn vẫn không tốt, lại tái phát bệnh mất ngủ, rất khó chữa khỏi. Thời gian dài sau đó, tôi lấy việc ngủ đủ giấc làm phương pháp dưỡng sinh hàng đầu, tôi nói đùa rằng, tôi là người yêu thích giấc ngủ, giấc ngủ có thể đè bẹp những thứ khác, nhưng những thứ khác lại không thể đè bẹp giấc ngủ. Điều này có liên quan đến kinh nghiệm mất ngủ đau khổ thời thiếu niên của tôi.
Trong thời gian học tập tại trường Đoàn, chúng tôi đã đến Bắc Kinh tham gia lễ Đại điển khai quốc. Tôi đến Quảng trường Thiên An Môn với tư cách là thành viên của đội múa trống lưng. Tùng bập tùng bập tùng tùng bập tùng bập, cứ hễ nghĩ đến tất cả những điều này thì nhịp điệu ấy lại vang lên bên tai. Tôi nhớ mãi cho đến tận bây giờ quần chúng nhân dân đã nhiệt liệt hoan hô "Muôn năm Chủ tịch Mao" như thế nào, Chủ tịch Mao đã dùng phương ngôn Hồ Nam hô lớn "Muôn năm nhân dân" ra sao.
Chúng tôi còn lấy chất liệu từ câu chuyện của tổ mình để biên soạn thành một vở kịch nói, nội dung là một học viên có vấn đề về tư tưởng sau khi trải qua đấu tranh tư tưởng đau khổ, dưới sự giúp đỡ của tổ chức và quần chúng đã buông bỏ gánh nặng tư tưởng như thế nào, thông suốt mọi thứ, bắt kịp bước tiến của cách mạng. Tôi là một trong số các diễn viên, đóng vai một đồng chí nhỏ nhiệt tình giúp đỡ người khác giải quyết vấn đề tư tưởng.
Tám tháng học tập tại Trường Đoàn Trung ương đã đặt nền tảng cho kiến thức lý luận của tôi. Kể từ đó, tôi vẫn luôn thích nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu sự khác biệt giữa học thuyết xây dựng đảng của Lenin và học thuyết xây dựng đảng của phái Menshevik, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh của Trần Độc Tú dẫn đến thất bại của đại cách mạng, ba lần chủ nghĩa cơ hội tả khuynh dẫn đến thất bại của cuộc đấu tranh phản vây quét... v.v.
Tôi đã dưỡng thành thói quen phân tích tư tưởng, tiến hành phê bình và tự phê bình, vấn đề gì cũng có thể phân tích cho ra ngô ra khoai, vấn đề gì cũng có thể đưa ra một hai ba ý kiến, lúc này tôi đã bắt đầu chú ý bồi dưỡng năng lực lý luận của bản thân rồi.
Trong thời gian ở Trường Đoàn Trung ương, giữa các bạn học cùng tổ của chúng tôi còn có một số con nhà quyền quý, ví dụ như con trai trưởng của Chu Học Phạm - Chu Bồi Căn, con gái của tướng quân Quốc dân Đảng Bàng Bính Huấn - Bàng Bình Cát. Một tổ khác có một bạn học là con trai của một nhà công thương nghiệp dân tộc nổi tiếng, anh ấy từng mời toàn thể thầy trò lớp chúng tôi đến nhà ăn bữa tối, những tòa sân lớn thông nhau, hành lang, ánh sáng rực rỡ, từng món xào dọn lên, khiến tôi nhớ đến người nhà của mình, tôi thấy vô cùng xót xa.
Khi tốt nghiệp trường Đoàn, chúng tôi đã được Chủ tịch Mao tiếp kiến. Có phải là ở hội trường Hậu Viên Ân Tự không nhỉ? Tôi không nhớ rõ lắm, dù sao thì không phải ở Trung Nam Hải. Cùng được tiếp kiến lúc đó còn có những người tham gia hội nghị hải quân và một số người tham gia các hội nghị về tài chính kinh tế, là một buổi tiếp kiến chung. Chủ tịch Mao bước ra từ phía cánh gà, các ngọn đèn pha lần lượt bật sáng, chiếu rọi lên khuôn mặt Chủ tịch, nói là nói vậy, Chủ tịch Mao không định phát biểu gì cả, ngài chỉ đứng dưới ánh đèn rọi một lát, làm động tác hơi khẽ một chút, lúc thì chắp tay sau lưng, lúc thì vẫy tay nhẹ một cái, lúc thì nhìn về nơi xa, lúc thì mỉm cười một cái. Hình tượng của Chủ tịch Mao khá hùng vĩ, trầm tĩnh, trang trọng, mỗi dáng điệu và cử động đều rất có phong độ, có dáng vẻ như được tạc tượng. Tôi nghĩ, làm một nhân vật lãnh đạo thật khó biết bao, đặt mình dưới ánh đèn pha, thể hiện bản thân, định hình tạo hình, đây vừa là một nghệ thuật, lại càng là một thử thách, người bình thường, đứng đó một cách như vậy, mới căng thẳng làm sao, mới lúng túng làm sao, còn Chủ tịch thì dường như đã quen rồi, cử thế của ngài rất tự tin và rất có "phong thái".
Đồng chí Bạo Huấn Ngô học viên tổ chúng tôi đã đại diện cho các học viên tốt nghiệp trường Đoàn đọc và dâng thư kính chào lên Chủ tịch, Chủ tịch Mao đã bắt tay với anh ấy, tất cả chúng tôi đều cảm thấy vinh dự, và lần lượt bắt tay với bạn Bạo.
Hai tháng cuối của khóa 2 trường Đoàn đã chuyển vào trong thành phố Bắc Kinh, Hậu Viên Ân Tự. Sau khi kết thúc Cách mạng Văn hóa, các học viên lớp chúng tôi đã nhiều lần tụ họp, bao gồm cả những người từng bị đại hội phê bình trước đây, đối với quãng đời trải nghiệm tại trường Đoàn này, vẫn vô cùng trân trọng.