Không lâu trước, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Trung Quốc có tổ chức một kỳ họp mở rộng của Ủy ban toàn quốc. Tại buổi đọc sách ở Tây Sơn, họ đã phát đoạn băng ghi âm bài phát biểu của Thủ tướng Chu và Chu Dương tại hội nghị này. Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng nhắc đến chuyện Chu Dương là người dịch và giới thiệu tác phẩm "Anna Karenina" đến Trung Quốc (một phần văn bản là do Tạ Tố Đài dịch). Chu Dương lập tức bày tỏ đây là một sai lầm của ông. Thủ tướng nói, giới thiệu những danh tác này thì cần phải có lời tựa hoặc lời bạt hay, để dẫn dắt độc giả hiểu và đọc danh tác một cách đúng đắn. Chu Dương cũng đưa ra một luận điểm nổi tiếng: Càng là tinh hoa thì càng cần phải phê phán, bởi chỉ có những tinh hoa trong di sản mới được mọi người tiếp xúc, mà ngay cả trong tinh hoa cũng khó tránh khỏi có độc tố, nếu không phê phán thì tác hại càng lớn hơn. Kiểu hùng biện như vậy quả thực cao tay, khiến người ta phải run sợ.
Đặc điểm lớn của công tác tư tưởng thời bấy giờ chính là hở chút là giáng đòn "đương đầu bổng hát", đập một chưởng mạnh, khiến người ta lúc nào cũng như vừa bừng tỉnh sau cơn đại mộng, đầu óc mơ hồ, toát mồ hôi lạnh.
Trong bài phát biểu, Chu Dương có nhắc đến tên Vương Mông, ông nói: "Vương Mông, đã bị gán cho cái danh 'hữu phái' rồi, bây giờ, mũ đã được tháo rồi, anh ta vẫn có tài hoa, chúng ta đối với anh ta, cần phải giúp đỡ."
Hoàng Thu Vân đã sớm kể lại cho tôi nghe những lời Chu Dương nói về tôi, và bảo rằng nói như vậy là có lợi cho tôi.
Ý chính trong bài phát biểu của Thủ tướng Chu là phải đón chào những cơn sóng gió lớn của đấu tranh giai cấp. Ông kể mình rất thích hát bài "Hồng Hồ thủy, lãng đả lãng" (Nước hồ Hồng, sóng vỗ sóng), nói rằng có một bức ảnh chụp cảnh ông cùng các diễn viên hát bài này, trong ảnh chỉ có một ca sĩ quen lối hát giọng Tây cứ mở tròn miệng, trông không hài hòa với mọi người. Ông kể việc dùng dàn nhạc giao hưởng đệm trên sân khấu khiến người ta nghe không rõ lời ca, ông đành phải trốn ra chỗ cách xa sân khấu. Tôi nghĩ ý của ông vẫn là đề xướng phong cách dân tộc, hình thức dân tộc trong biểu diễn âm nhạc, cũng thuộc phạm vi chỉnh đốn phương hướng công tác văn nghệ, nhưng mùi thuốc súng thì chưa nồng lắm.
Ông nói rằng, đã có Việt kịch "Lương Sơn Bá với Chúc Anh Đài" rồi, sao còn phải làm một bản tiểu vĩ cầm hiệp tấu khúc làm gì? Lúc này, nhạc trưởng của Dàn nhạc Trung ương là Lý Đức Luân liền đưa một mẩu giấy, nói về sự thành công của bản hiệp tấu khúc và tình trạng được quần chúng hoan nghênh, Thủ tướng Chu đọc ngay mẩu giấy của Lý tại chỗ, hơn nữa còn nói cảm ơn Lý đã giúp ông hiểu thêm về tình hình và kiến thức liên quan. Sự khiêm tốn của Thủ tướng Chu đã làm tôi cảm động.
Cốt lõi bài phát biểu của Thủ tướng Chu không phải là những vấn đề cụ thể này, mà là đấu tranh giai cấp. Thủ tướng muốn giới văn nghệ chuẩn bị sẵn sàng, phải chấp nhận thử thách trong những cơn sóng gió lớn của giai cấp, phải được giáo dục trong những cơn sóng gió lớn ấy, tăng cường tài năng, nâng cao giác ngộ, khắc phục điểm yếu, vân vân.
Thủ tướng nói lời lẽ thấm thía, tận tâm khuyên bảo, thậm chí là vô cùng lo lắng. Rốt cuộc là gió gì, sóng gì đây? Ông không nói cụ thể, tôi thậm chí còn nghĩ có lẽ chính ông lúc đó cũng chưa rõ vấn đề này. Dù sao thì sóng gió cũng sắp tới rồi, những cơn sóng gió lớn không bình thường sắp tới rồi, ông nhìn ra xu thế, ông dự cảm được rằng thử thách phía trước không hề nhỏ. Ông muốn nói với những người bạn rằng, tôi yêu các bạn, các bạn phải chuẩn bị đi thôi!
Người trong giới văn nghệ cũng yêu quý ông, nghe nói từ sớm ở Trùng Khánh, ông đã thiết lập tình hữu nghị tốt đẹp với một nhóm văn nghệ sĩ cánh tả. Các diễn viên kịch nói của Nhà hát Nghệ thuật Nhân dân Bắc Kinh, sau khi diễn xong, lúc nửa đêm tháo bỏ trang điểm, khi đang ăn đêm thường bất ngờ phát hiện Thủ tướng Chu đang ngồi cùng họ, Thủ tướng cụng ly vì sự thành công trong buổi diễn của họ, một hơi uống cạn một ly trà thủy tinh đầy rượu Mao Đài. Mà khi các diễn viên khuyên Thủ tướng nên đi nghỉ sớm, Thủ tướng sẽ hơi phiền lòng mà nói: "Sao các cậu không hiểu nhỉ, tôi đang nghỉ ngơi đây này."
Tôi nhớ lại nhiều điềm báo như vậy. Vi Quân Nghi từng nói, bà tham gia một buổi họp của giới giáo dục, khi nhắc đến chuyện phòng chống xét lại, phòng chống biến chất, mọi người đã nêu ra nhiều ví dụ, cho thấy vấn đề tư tưởng của thanh niên hiện nay nghiêm trọng đến mức nào.
Từ lời kể của Vi Quân Nghi, bạn không thấy được quan điểm của chính bà. Có thật là sắp sửa xét lại rồi không? Có thật là như lâm đại địch rồi không? Có phải là quá căng thẳng rồi không? Bà ấy dường như cũng không rõ, bà dường như cũng đầy khó xử, đầy căng thẳng.
Chưa nói đến Hoàng Thu Vân, ông kể rằng tác phẩm "Đào Uyên Minh vãn ca" và "Quảng Lăng tán" của Trần Tường Hạc đã gặp rắc rối lớn, bởi vì trong lời bạt của bài sau có viết, nếu Kê Khang ở thời nay, cũng sẽ là một người phụ trách của hội văn nghệ sĩ nào đó, liền bị Khang Sinh cáo buộc là mượn xưa nói nay. Nghe nói Khang Sinh còn chỉ ra, trong vở kịch "Tạ Dao Hoàn" của Điền Hán, có một loại khổ hình do gian thần áp dụng gọi là "viên hầu đái quan" (khỉ mặc áo đội mũ), đó chính là ám chỉ việc "đội mũ" (gán tội). Liên hệ với vở kịch lịch sử "Võ Tắc Thiên" của Quách Mạt Nhược cùng thời kỳ, trong đó có đoạn Thượng Quan Uyển Nhi tư thông với kẻ mưu phản, Võ Hậu vì tiếc tài mà tha cho Thượng Quan, nhưng lại xăm một đóa hoa mai lên trán Thượng Quan Uyển Nhi để bày tỏ sự trừng phạt nhẹ nhàng. Hoàng bảo những chi tiết kiểu này, ông xem thấy cực kỳ khó chịu. Hoàng Thu Vân kể lại chuyện này rất kín đáo, hơn nữa còn thở dài không dứt, còn có thể nói gì nữa đây? Chẳng bao lâu sau, tiểu thuyết lịch sử "Đỗ Tử Mỹ hoàn gia" (Đỗ Tử Mỹ về nhà) và "Lỗ Lượng Trai trích ấn" của ông cũng đều bị lôi ra phê phán. Ông luôn luôn lắc đầu, thở dài, căng thẳng, cẩn thận từng li từng tí mà lại chẳng hề đồng tình.
Nhân vật ở tầng cao hơn và cũng điển hình hơn chính là Thiệu Thuyên Lân, ông là dịch giả của tác phẩm "Những kẻ bị làm nhục và bị chà đạp" của Dostoevsky, điều này rất có ý nghĩa tượng trưng, bởi vì, tôi tin rằng một bộ phận lớn, một bộ phận rất lớn những người cộng sản, là xuất phát từ sự đồng cảm đối với những người bị làm nhục và bị chà đạp, xuất phát từ tinh thần chính nghĩa muốn giải thoát nhân dân khỏi cảnh lầm than mới bước lên con đường cách mạng. Khi ấy, Thiệu Thuyên Lân đang là Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Trung Quốc, gầy gò với hai má hóp sâu, mỗi khi gặp ông, tôi thường lo rằng thân hình mảnh khảnh ấy không chống đỡ nổi cái đầu tương đối lớn của ông.
Tình hình có biến, cuốn "Thanh xuân vạn tuế" được duyệt đi duyệt lại, ngoài Phùng Mục ra, một vị bí thư của Đoàn Trung ương cũng tham gia vào hàng ngũ duyệt bản thảo, cho rằng tiểu thuyết thiếu việc viết về sự kết hợp giữa trí thức với công nông là một khiếm khuyết lớn, nhưng chẳng ai dám chốt hạ, chẳng ai chịu trách nhiệm cho việc cho phép phát hành hay phủ định. Bản thảo lại đến tay đồng chí Thiệu Thuyên Lân. Thiệu lại tìm tôi, ông không hề che giấu sự tán thưởng của mình đối với bản thảo, ngôn ngữ nè, chất thơ nè, chi tiết nè, Vương này biết viết tản văn nè, ông nói một tràng dài. Tuy nhiên, xuất bản hay không, ông cũng rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trầm ngâm mãi không thôi. Sợ là có người phê bình: Trong sách không viết về sự kết hợp giữa trí thức và công nông. Ở đất nước chúng ta, xuất bản một cuốn tiểu thuyết trường thiên cũng là chuyện lớn. Hay là cậu cứ để đấy đã? Hay là cậu tìm một nhà xuất bản địa phương nào đó lặng lẽ xuất bản ra? Ông nói thế. Tôi biết, lại không có hy vọng gì rồi. Tôi biết, ông ấy cũng cảm thấy vô cùng bất lực.
Các cấp lãnh đạo từ cao đến thấp đều dự cảm được sự áp sát của những cơn sóng gió lớn, nhưng không ai nói rõ được nguồn gốc và hình thức, nội dung và tầng lớp của sóng gió, càng không ai biết giới văn nghệ nên chuẩn bị những gì. Giọng điệu họ bàn luận giống như đang bàn về một cơn bão, hay một con đường hẻm núi hiểm trở, hoặc một kỳ thi vượt ải, giống như đang bàn về một trận động đất không thể dự báo hơn. Những gì họ bàn luận là một "cái khác" khách quan, một sức mạnh vĩ đại bên ngoài, một mối đe dọa không thể chống cự; không do họ làm chủ, không do họ quyết định, không do họ chào đón hay không chào đón, không thể tránh né, không thể thoát khỏi, không thể đưa ra bất kỳ đánh giá hay phân tích nào về nó.
Có thể giải thích một cách đơn giản rằng, thứ chủ tể sức mạnh vĩ đại này chính là tính cách và quyết sách của Chủ tịch Mao, nhưng thế thì rẻ rúng quá. Trong đời sống chính trị của chúng ta có những từ vựng quan trọng khác: thế (cái gọi là "thế mạnh hơn người"), quy luật (cái gọi là quy luật khách quan không chuyển dời theo ý chí con người), lịch sử (cái gọi là một số giai cấp thắng lợi, một số giai cấp bị tiêu diệt, đây chính là lịch sử văn minh mấy ngàn năm), nguyên tắc (cái gọi là không thể lấy nguyên tắc ra để giao dịch), bao gồm cả lý luận (khoa học, kiên định, nhìn xa trông rộng và bách chiến bách thắng), vân vân.
Tôi còn thường suy ngẫm về một từ, đó chính là quán tính. Từ sau năm 1840 đến nay, lịch sử Trung Quốc tràn đầy sự sục sôi, bi tráng, hy sinh, nhiệt huyết, kiên quyết, đấu tranh, oanh oanh liệt liệt, khí thế hừng hực. Làm sao nó có thể yên tĩnh lại, ổn định lại, hòa bình lại, kiến thiết lại được cơ chứ. Đặc biệt là Chủ tịch Mao, cái ông muốn là oanh oanh liệt liệt, lại oanh oanh liệt liệt, khí thế hừng hực, lại khí thế hừng hực, cao ốc kiến linh (nhìn từ trên cao xuống), lại cao ốc kiến linh, thế như chẻ tre, lại thế như chẻ tre, lúc nào cũng sôi sục nhiệt huyết, lúc nào cũng sẵn sàng xung phong, bộc phá và lựu đạn, kéo dài mãi cho đến tận về sau rất lâu rất lâu.
Còn một ví dụ nữa, bây giờ tôi kể ra có lẽ là do sự nhạy cảm của tôi. Vào giai đoạn sau ở Đảm Thạch Câu, có đồng chí Vương Hử cùng lao động với chúng tôi. Ông từng kể, Bí thư thứ hai Thành ủy Lưu Nhân từng hỏi riêng Uông Gia Cầu - khi đó là Bí thư Đoàn Thành ủy: "Cậu nói xem tại sao không thể làm bao sản đáo hộ (khoán sản lượng đến hộ gia đình)?" Uông trả lời theo lý luận kinh điển rằng, như vậy sẽ dẫn đến phân hóa hai cực, sinh ra chủ nghĩa tư bản... Lưu thở dài: "Cái chủ nghĩa Mác-Lênin của cậu..." Mấy người cùng lao động suy ngẫm mãi, không ai hiểu ý câu hỏi của đồng chí Lưu Nhân. Thật khiến người ta hoang mang, thời đó bất kỳ người dân thường nào cũng biết chỉ cần làm bao sản đáo hộ là có thể giải quyết được vấn đề lương thực, nhưng bao sản đáo hộ là đại kỵ đại cấm, nói đến bao sản đáo hộ chẳng khác nào mưu phản. Sau này ở Tân Cương, một sinh viên đại học bình thường không mấy quan tâm đến chính trị, đã nói nửa công khai rằng, giải quyết vấn đề nông nghiệp của Trung Quốc, rất đơn giản, làm bao sản đáo hộ là được. Mọi người đều cười, đều biết anh ta nói đúng, đều biết là không được, ở đây chẳng có gì thâm sâu cả, chỉ có thường thức. Vĩ nhân sở dĩ có sai lầm, thường không phải là sai ở những thứ cao siêu tinh túy, mà là sai ở thường thức. Nếu oanh oanh liệt liệt làm nửa đời người, cuối cùng lại bắt buộc phải làm bao sản đáo hộ, nhìn từ góc độ hưng phấn của ý thức hệ mà nói, thì thật là cụt hứng, thật là chán nản biết bao.
Thời kỳ đầu giải phóng, trong cuốn "Cán bộ tất đọc" chúng tôi từng học có bài "Chỉnh phong văn hiến", trong đó bài "Phản đối đảng bát cổ" Chủ tịch Mao nhắc đến việc Đảng Cộng sản không thể dựa vào việc dọa người để ăn cơm, mà phải dựa vào chân lý, dựa vào thực sự cầu thị, dựa vào khoa học để ăn cơm. Lại còn nói, diễn thuyết làm văn ra chỉ thị, không được dựa vào dọa người, phải dựa vào chân lý, dựa vào sự hữu dụng. Mao Trạch Đông mấy lần nhắc không được làm bộ làm tịch để dọa người, lúc đó xem thì không biết là ám chỉ điều gì, có vài lão đồng chí bảo là ám chỉ Vương Minh, tôi đương nhiên vẫn không hiểu lắm. Đến giữa thập niên 60 thế kỷ 20, mới nếm ra được chút hương vị, nhưng vẫn không dám nghĩ, càng không dám nói. Mao Trạch Đông thích dùng một từ, "tê phấn" (tro bụi), nếu không có văn chương của Mao Trạch Đông, tôi căn bản không biết chữ "tê" này. Chủ tịch Mao thường nói phản động phái phải hóa thành tê phấn, trải qua năm 1957, 1958, tôi đã sơ bộ nếm trải tư vị của việc hóa thành chuẩn tê phấn (tức cháo hoa cương sảm tử) rồi, không thể hóa thêm lần nữa.
……Than rằng: Lịch sử vừa khoảnh khắc, kiếp này liệu vô duyên. Nhân sinh chẳng còn trẻ, hóa bụi tình sao cam? Muốn vượt sông băng lấp, muốn leo núi tuyết phong. Hừng hực hoặc oanh liệt, thê lương vẫn thảm thương. Tịch mịch lại râm ran, ai người muốn trồng cày! Tiều tụy sớm chiều tối, xé lòng năm lại năm. Vẫn còn chí đánh cược, phóng mắt nhìn Hòa Điền!