Vì sự nghèo nàn và khốn khó, vì chiến tranh loạn lạc, vì sự quan tâm và tham gia chính trị quá sớm, tôi từng nói rằng tôi không có tuổi thơ.
Tôi không có tuổi thơ, nhưng tôi có những trải nghiệm từ năm năm, sáu năm, bảy năm cho đến tuổi thiếu niên, không thiếu một năm nào, không thiếu một ngày nào. Nhớ lại chuyện cũ, trong lòng vẫn tràn đầy niềm vui và sự lưu luyến.
Tôi thích cùng bạn học đi ra ngoài cổng Bình Trắc (cổng Phụ Thành) để chơi. Ở vòm cổng thành có lính Nhật gác với lưỡi lê tuốt trần. Người Trung Quốc qua lại đều phải cúi đầu chào chúng, đây là một ký ức vô cùng tồi tệ. Vừa ra khỏi cổng thành là rừng cây, hoa cỏ, đồng ruộng, mương nước, tràn ngập hương thơm của cây cỏ, dọc đường đi phải nhảy qua mấy con mương. Cho đến thời kỳ Đại Nhảy Vọt, khu vực Đay Ngư Đài ở đây vẫn giữ được nét hoang sơ tự nhiên. Hai hàng cây dương mọc sát nhau ở đó, vào mùa thu khi lá vàng sẽ tỏa ra một mùi hương tương tự như lê chua, dạo bước trên thảm lá rụng trong rừng cây khiến người ta cảm thấy dạt dào thi vị. Thành phố sau đó đã mở rộng lên gấp nhiều lần biết bao.
Tôi càng thích đi từ nhà ở Tây Thành qua Thái Bình Thương (nay là con phố ở phía nam Bình An Lý, trước đây, giao thông công cộng trên tuyến đường vòng từ Tây Tứ đến khu vực Địa An Môn đều đi qua Thái Bình Thương chứ không phải Bình An Lý), qua Xưởng Kiều, Đông Quan Phòng đến cửa sau Bắc Hải. Ở Thái Bình Thương có mấy căn tứ hợp viện cao cấp, trên cổng lớn có viết câu đối bằng sơn: "Trung hậu truyền gia cửu, thi thư kế thế trường", "Vật hoa thiên bảo, nhân kiệt địa linh", "Thủ thân như chấp ngọc, tích đức thắng di kim", "Hựu thị nhất niên phương thảo lục, y nhiên thập lý hạnh hoa hồng"…… Những câu thơ này tôi đã sớm học thuộc, không phải học từ sách vở mà học từ cổng lớn của mấy căn tứ hợp viện, điều này cũng cho thấy tôi đã đi qua đó rất nhiều lần. Câu thơ "Phương thảo hồng" và "Hạnh hoa hồng" khiến tôi say mê, liên tưởng đến những bài văn mẫu từng học thời thơ ấu.
Tường rường vây của những viện lạc này rất cao, có tường còn căng cả dây thép gai, cành lá cây trong viện vươn ra tận bên ngoài, cửa viện thường xuyên đóng kín, tôi chưa từng thấy bất kỳ ai ra vào từ những viện lạc cao cấp như vậy. Hai bên ngõ ở Thái Bình Thương đều là cây hòe ta, là con ngõ đặc trưng của Bắc Kinh xưa — những con phố nhỏ, kể từ khi tuyến xe điện mặt trời rẽ từ Bình An Lý đi vào hoạt động, rất ít xe cộ đi lại trên con phố cũ phải rẽ ngoằn ngoèo mấy bận này. Đi trong con ngõ như thế này, tâm trạng vô cùng vi diệu, nên được coi là một thứ tận hưởng.
Vừa bước vào cửa sau Bắc Hải, âm thanh đầu tiên nghe thấy là tiếng nước chảy qua cống ngầm rơi xuống, lập tức cảm thấy mát rượi, bước vào một thế giới thanh lương. Đi tiếp về phía nam hai bước, âm thanh xào xạc to lớn của những tán lá dương lập tức bao trùm lấy bạn, lúc này cả thế giới chỉ còn lại hai hàng cây dương được trồng ngay ngắn, có từ lâu đời, thân cây sần sùi mà cong hóa thẳng, dáng vẻ yểu điệu thướt tha cùng độ nghiêng theo gió đã thể hiện phong cách vừa cổ kính lâu đời lại vừa trẻ trung phóng khoáng. Lâm Đại Ngọc trong "Hồng Lâu Mộng" từng phàn nàn tiếng ồn của lá cây dương, tôi hoàn toàn không hiểu nổi. Đối với tôi, tiếng rào rạt của lá dương là một khúc nhạc của thiên nhiên, một khoảng thanh lương, một bầu trời khoáng đạt và đầy sức sống. Mỗi khi nghe thấy tiếng rào rạt của hai hàng cây dương ở cửa sau Bắc Hải, tôi lập tức nhận được sự an ủi lớn lao, cảm giác mà tôi có được chính là cảm giác được cứu rỗi bất ngờ giữa cái nắng gay gắt của mùa hè.
Tôi cũng thích cảnh tượng thành phố Bắc Kinh trở về với tự nhiên trong khoảng thời gian ngắn: những đêm mùa hè, hóng mát trong sân nhà hay tận đầu ngõ, nghe chị Vương Sát ngâm đọc những câu thơ vịnh gì đó của Đỗ Mục: "Ngân chúc thu quang lãnh họa bình, khinh la tiểu phiến phản phác lưu huỳnh. Thiên giai dạ sắc lương như thủy, tọa khán khiên ngưu chức nữ tinh". Quả thực đêm hè Bắc Kinh lúc đó đi đâu cũng có thể nhìn thấy đom đóm bay lượn khoan thai. Dì hai còn kể cho tôi nghe một câu chuyện, nói rằng có một đứa trẻ vì làm mất một xu tiền mua giấm, bị mẹ kế đánh chết, đứa trẻ đáng thương sau khi chết đã biến thành một con đom đóm, xách đèn lồng đi tìm một xu tiền đã mất của mình. Từ đó tôi vô cùng cảm thấy hạnh phúc vì mẹ của mình không phải là mẹ kế.
Sau trận mưa lớn, nước trong ngõ đọng lại ngập đến đầu gối, chuồn chuồn bay là đà sát mặt nước. Trên cây dương thỉnh thoảng có tiếng ve kêu râm ran. Bắc Kinh nhiều cây hòe ta nhất, vào mùa xuân thì có những con sâu xanh nhỏ xíu, treo lủng lẳng trên những sợi tơ rủ xuống từ thân cây. Số 27 ngõ Tiểu Nhung Tuyến, nơi gia đình chúng tôi chuyển đến ở trước thời kỳ giải phóng, vừa rẽ về hướng đông là có một cây hòe ta cực lớn, ở sân sau nhà chúng tôi cũng có một cây hòe lớn. Sau đó, quả nhiên tôi đã viết về hoa hòe trong "Người thanh niên đến ban tổ chức". Mùa thu, ngay cả trong sân viện cũng có thể nghe thấy tiếng dế kêu rả rích. Tôi từng rất thích nuôi dế, chọi dế, thích cho dế ăn đậu xanh. Người sành sỏi bảo tôi rằng dế ngon cần phải cho ăn nhân sâm, tôi liền không hiểu nổi, ai mà biết nhân sâm là gì chứ?
Mùa hè tôi cũng thích nuôi dế mèn, tôi có những chiếc lồng dế được đan bằng cọng cao lương rất khéo léo, truyền rằng tháp góc Tử Cấm Thành được xây dựng dựa trên phương pháp đan lồng dế trong dân gian. Tôi biết cách cho dế mèn ăn dưa chuột, vỏ dưa hấu và hoa bí ngô, từ nhỏ tôi đã thích nghe tiếng kêu của dế mèn. Tôi không hiểu tại sao có người lại ghét tiếng kêu của dế mèn, chê nó ồn ào, giống như có người chê nhạc giao lưu ồn ào, lại có người sợ nghe tiếng đàn vĩ cầm hoặc đàn nhị, bảo rằng nghe xong "nhức óc" vậy.
Tôi thích tất cả những tiếng rao, bán cá vàng nhỏ và ốc nhồi lớn, bán gà tẩm vị và kẹo hồ lô, cả hai món này đều có hình thức kích thích tiêu dùng là rút thăm trúng thưởng. Người bán bánh bao vỏ cứng là người Lạc Lễ, Sơn Đông. Người bán thạch phàn và thạch mát thì giống như giọng nam cao. Đêm đông thì bán thịt thủ dê, được thái mỏng hơn cả giấy, những lát thịt thái ra trở nên trong suốt. Chỉ là bán một gánh củ cải nước thôi mà tiếng rao cũng khúc chiết uyển chuyển vô cùng đặc sắc. Đêm khuya giá lạnh, đôi khi sẽ nghe thấy tiếng sáo của người mù bói toán, "xoa mi rây đô rây mi la xoa — xoa (trầm đi một quãng tám) đô mi rây đô……" Tôi cảm thấy vô cùng thê lương. Người nhà nói, những người này ngoài mặt là bói toán nhưng thực chất rất có thể là bán thuốc phiện — buôn bán ma túy. Điều này lại càng khiến tôi cảm thấy bí ẩn hơn. Ban ngày tôi cũng thường xuyên nhìn thấy những người mù, trông rất đáng thương. Có một vài cậu bé bằng tuổi tôi cứ hay bắt nạt người mù, người khuyết tật, lại có cả một cặp mẹ con ăn mày mà người mẹ trông giống như bị bệnh tâm thần. Tôi đồng tình thương họ.
Ngày nay, có lẽ là để xoa dịu tâm lý hoài cổ của những người Bắc Kinh cũ, người ta tổ chức những màn đồng ca tiếng rao Bắc Kinh cũ trên sân khấu, lộn xộn náo loạn như ếch kêu dưới giếng, tệ hại đến cùng cực. Sân khấu không phải là con ngõ, việc tập trung lại dưới ánh đèn sân khấu để làm ồn không phải là tiếng rao theo đúng thời gian, địa điểm, mùa vụ và chủng loại, các thành viên trong đội đồng ca làm sao có tâm trạng và thanh đới của những người tiểu thương chứ? Cuộc sống và nghệ thuật gắn kết chặt chẽ với nhau, thế nhưng cuộc sống và nghệ thuật không thể sao chép lẫn nhau, sao chép phương pháp rao bán hàng thì không thể thành công, mà chỉ càng cho mọi người thấy rằng, tất cả những gì thuộc về quá khứ đã trở thành quá khứ không bao giờ quay trở lại.
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tôi thích xem kịch nói "Long Tu Cụ" của Lão Xá là vì nhân vật chính Trình Điên Tử do Vu Sĩ Chi thủ vai, có thể rao một câu rất chuẩn vị: "Bán ê đại a cấm (kim) ngư ứ, bán ê xỉ âu (tiểu) cấm (kim) ngư ứ la ê (lai) ải……" Chữ "xỉ âu (tiểu)" ở đây là trọng tâm của cả câu, phải kéo dài giọng, phải truyền tải một cách rõ ràng toàn bộ đặc điểm của vần ghép. Nhưng tôi cũng có điểm chưa thỏa mãn, trong ký ức của tôi, mùa xuân ở Bắc Kinh ngoài cá vàng ra, thì chính là nói những người bán cá vàng đều bán kèm theo cả "ốc nhồi lớn", sao Trình Điên Tử lại quên rao ốc nhồi lớn nhỉ?
Chị gái lớn hơn tôi chỉ một tuổi rưỡi, tôi chịu ảnh hưởng từ các trò chơi của chị và bạn bè của chị, từ nhỏ đã chơi rất nhiều trò chơi của con gái: nhảy lò cò, đá cầu, chơi chuyền (bằng hạt đào và bi thủy tinh), dùng chỉ lụa buộc túi thơm (bánh ú nhỏ), còn có cả nhảy dây và những thứ tương tự. Nhưng về sau bắt đầu bị con gái bài xích, bản thân cũng cảm thấy nhạt nhẽo.
Có mấy ngày tôi say mê với việc tự chế tạo một cỗ máy chiếu phim, bởi vì tôi đã biết nguyên tắc của phim ảnh và tác dụng lưu giữ thị giác gì đó. Điều tôi nghĩ đến là tự mình vẽ ra các hình động, đóng thành tập, lật nhanh cuốn sách nhỏ, để đạt được hiệu quả xem phim. Đã nỗ lực rất nhiều, nhưng không thành công cho lắm.
Dù sao tôi cũng là con trai, dần dần cũng có những trò chơi hoang dã hơn một chút, chơi đánh trận trên tường thành, ngày nào cũng làm súng lục không dứt, lúc ấy luôn tưởng tượng ra cảnh mình cầm một khẩu súng lục trông giống như súng thật, quát lớn một tiếng "Đứng lại!" Cạp — cúc, bắn hạ "kẻ địch" ngay dưới chân.
Thế nhưng trò chơi nhảy nhót của tôi lại không thể kiên trì tiếp được nữa. Học kỳ thứ hai năm cấp hai, tôi đến trường Trung học số 4 Xí Khố để xem trận thi đấu bóng chày giữa trường chúng tôi và trường Trung học số 4. Các nam sinh đều đi đường tắt nhảy từ trên tường xuống, tôi do dự, trèo lên tường thành, muốn nhảy mà lại thôi, nhảy xuống một cái, mắt cá chân phải bị trẹo một cú, đau đớn khôn cùng. Kết quả, gây ra rạn xương ở chỗ cổ chân, nghỉ dưỡng hơn một tháng, ảnh hưởng đến việc lên lớp, duy chỉ có học kỳ này, bài thi của tôi không lọt vào bảng xếp hạng. Tôi đã nếm trải hương vị của sự thất bại, trong giấc mơ thấy rõ mồn một thành tích xuất sắc của mình, nhưng trên giấy báo điểm lại nhìn thấy sự thất bại. Tôi trong giấc mơ cứ gặng hỏi mãi, đây là thật hay là mơ? Câu trả lời trong giấc mơ là, không, đây không phải là mơ, đây là thật, chính là tôi thi rất tốt, rạn xương rồi mà thi vẫn rất tốt. Sự tự tin như thế này chính là nguồn gốc nỗi nhục nhã vô bờ bến của tôi: càng tin tưởng bản thân thì lại càng cảm thấy mất mặt.
Nói cho cùng, tuổi thơ của tôi vẫn trôi qua quá nhút nhát và yếu đuối nhỉ. Một người bạn của bố từng tặng tôi một con diều hình đại bàng, tôi thử mấy lần mà rốt cuộc vẫn không cho bay lên trời được, khi đọc bài "Diều" của Lỗ Tấn, cảm giác của tôi là mình đáng thương hơn cả người em và người anh trong bài viết, tôi thậm chí còn chẳng cần đến sự phá hoại của bạo lực và thói hung hược, tôi thậm chí còn chẳng cần đến sự áp bức của văn hóa ăn thịt người phong kiến, bản thân tôi từ đầu đã nhút nhát trước rồi, trèo tường bị rạn xương, thả diều rơi xuống đất, đánh nhau không có sức đánh trả, không cần người khác bắt nạt, và cũng không thể chiến thắng bất kỳ ai……
Chuyện cũ đã qua, Bắc Kinh ngày nay đã không còn là thành phố của những năm tháng đó nữa, tất cả những ký ức tuổi thơ đã không còn khả năng tái hiện trước mắt. Tiếng nước ở cửa sau công viên Bắc Hải vẫn như xưa, nhưng các giống cây dương đã được thay mới, không còn tiếng rào rạt đó nữa. Khắp nơi xe cộ tấp nập, khắp nơi nhà cao tầng, ai có thể rút chiếc súng gỗ trong túi áo ra quát lớn một tiếng "Đứng lại" ở trên tường thành nữa chứ? Đêm hè không còn bắt đom đóm nữa, bầu trời mùa đông cũng không thể nhìn thấy từng đàn quạ đen sì bay lướt qua, mùa xuân không nghe thấy tiếng chim hoàng anh, mùa thu không nghe thấy tiếng dế kêu.
Ở Tân Cương, con trai thứ hai của tôi là Vương Thạch thường tự làm diều, vừa thả là bay lên tận trời cao, tôi ngẩng đầu nhìn lên, tâm sự phơi phới, lòng dạ thảnh thơi. Có một số tâm nguyện, thế hệ mình chưa hoàn thành, thế hệ sau hoàn thành, đó cũng là niềm vui.
Vào sinh nhật lần thứ 68 của tôi, sư phụ Hào Tuấn Khanh — người lái xe cho Bộ Văn hóa — đã tặng tôi một con diều rết lớn, nói là anh ấy đã đọc những bài viết liên quan đến việc thả diều của tôi, anh ấy nghĩ, việc này có gì khó đâu? Sau đó, chúng tôi đã cùng nhau có vài lần kinh nghiệm thả diều lên tầng không trung cao. Rốt cuộc, mọi hy vọng đều ở nhân gian, mọi hy vọng ở nhân gian đều rất có khả năng trở thành hiện thực, mặc dù có thể phải sáu mươi năm sau mới thực hiện được.