Tôi bắt đầu đọc các ấn phẩm "Nhân Dân Văn Học", "Văn Nghệ Báo" và bắt đầu quan tâm đến cái gọi là phong vân văn đàn của chúng ta là từ sau khi bắt đầu viết văn. Trước đó, ấn tượng của tôi là đa phần các bài văn thời sự đều không dễ đọc, một thanh niên vắt mũi chưa sạch, hễ cầm bút lên là có loại hùng tâm hoặc dã tâm muốn trùm lên tất cả. Điều này tuy ngây thơ nhưng chẳng có gì lạ: Nếu tôi cho rằng những gì mình viết ra là sự kế thừa thành quả của văn đàn hiện tại, có lẽ tốt nhất là tôi đừng viết nữa, tiếp tục tích cực làm cán bộ đoàn của mình, tiền đồ có lẽ còn vô lượng hơn rất nhiều.
Năm 1954, trên Văn Nghệ Báo bắt đầu phê phán "chủ nghĩa một cuốn sách", tôi hoàn toàn đọc không hiểu, nhiệm vụ của nhà văn ngoại trừ cuốn sách này đến cuốn sách khác ra, chẳng lẽ còn có cái gì khác quan trọng hơn, thiêng liêng hơn nữa sao? Chủ nghĩa một cuốn sách là không tốt, vậy hai cuốn, ba cuốn hay là không có cuốn nào, không có sách thì sẽ tốt hơn sao?
Trong vô số những lời phê bình dành cho Đinh Linh, không có gì hoang đường hơn, mất lòng người hơn việc phê phán "chủ nghĩa một cuốn sách". Đó là suy nghĩ của tôi, một kẻ ngoài cuộc lúc bấy giờ.
Xuất hiện những lời phê bình đối với tác phẩm "Trận chiến trên vùng đất trũng" của Lộ Linh, lời phê vô cùng cao cả và huy hoàng. Tôi nhớ đồng chí Tống Chi De đã viết những câu văn có tầm cao nhìn xa trông rộng ấy. Trong khi đó, khi lần đầu đọc cuốn tiểu thuyết này, cảm giác của tôi là nó được viết một cách uyển chuyển và sâu tình, là một trong những tác phẩm tiểu thuyết trong nước cảm động nhất mà tôi từng đọc trong những năm tháng đó, vượt trội hơn nhiều tác phẩm khác. Chẳng hạn như trên báo từng đăng tác phẩm của một nhà văn lão thành nổi tiếng, miêu tả một thanh niên nông thôn đi kết hôn, dọc đường lo cho cái lo của người, khó cho cái khó của người, nào là cứu người bệnh, nào là chặn chỗ vỡ đê, nào là giải quyết tai nạn giao thông... khiến cô dâu và người thân lo đến phát hoả, cuối cùng cử hành hôn lễ trong tình trạng đến muộn giờ lâu và quần áo rách rưới không còn mảnh vải lành. Tiểu thuyết như thế ý tứ tuy hay, nhưng thực sự khó mà khen nổi. Vậy mà tác phẩm này lại được báo chí thêm lời của biên tập viên để hết sức đề cao.
Còn cuộc đấu tranh phê phán "Tập đoàn phản cách mạng Hồ Phong" bắt đầu từ năm 1955 lại càng khiến tôi đầu óc mù mịt. Lời tựa của Chủ tịch Mao viết thực sự rất tuyệt, sắc bén đến tận xương tủy, từng chữ vang dội như sấm rền, không chỉ như tiếng sét đánh ngang tai mà còn khiến trời đất đảo lộn — cũng khiến người ta hoa mắt chóng mặt. Sự kiện này đã châm ngòi phong trào trấn áp phản cách mạng ở khắp các cơ quan. Một đơn vị nhỏ như chúng tôi đã lôi cổ người đầu bếp ra, anh ta đã nói một vài câu về Tống Khánh Linh. Có mấy ngày anh ta không được nấu cơm mà bị bắt đi quét dọn vệ sinh. Một người quen cũ ở trường cấp ba Hà Bắc, cũng là thành viên của tổ chức ngoại vi dưới đất, lại càng bị lôi ra đấu tố đến là tưng bừng khói lửa. Tôi thầm giật mình, cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Tôi thấy làm vậy có hơi quá đà, nhưng dù sao đó cũng là hành động anh minh vĩ đại. Tôi phải học tập và nâng cao thật tốt từ trong đó.
Còn "Hạt Đậu Nhỏ" do tôi công bố vào năm 1954 thì rất mang tính cách mạng, là đề tài trấn áp phản cách mạng (sau khi được đăng tôi mới hiểu ra mình đã được thơm lây nhờ đề tài trấn áp phản cách mạng). Sau khi viết xong bản thảo đầu của "Tuổi trẻ muôn năm", tôi bắt đầu viết một chút tác phẩm ngắn. Viết xong không dán tem mà cứ thế gửi thẳng bản thảo đến tạp chí "Nhân Dân Văn Học". Hồi đó có quy định, gửi bưu điện các bản thảo văn kiện đều được miễn cước phí. Ở phần cuối bản thảo, tôi có một đoạn trữ tình dài, theo lối của Antonov. Tôi tự cho rằng trọng điểm của tiểu thuyết không phải là tố giác kẻ xấu, mà là làm nổi bật thanh thiếu niên Trung Quốc mới đang phải đối mặt với sự so sánh và chuyển biến đột ngột giữa ánh sáng và bóng tối ra sao. Tôi từng nghe câu chuyện về một đứa trẻ bị thọt chân do di chứng bệnh bại liệt, thường xuyên bị mẹ đánh, nhưng sau khi giải phóng, vào lúc bị đánh tương tự, đứa bé ấy đã khóc thét lên rằng: "Chủ tịch Mao không cho phép đánh người!" Cô bé khuyết tật ấy đã tin tưởng và gọi tên Đảng Cộng sản, Chủ tịch Mao! Câu chuyện của cô bé khiến tôi rơi nước mắt đầm đìa.
Phần đuôi trữ tình trong "Hạt Đậu Nhỏ" của tôi đã bị phó tổng biên tập tạp chí "Nhân Dân Văn Học" (lúc bấy giờ là ấn phẩm cái gọi là "hoàng gia" có uy tín và địa vị nhất toàn quốc) là Cát Lạc cắt bỏ hoàn toàn. Tôi vô cùng xót ruột, bèn viết thư đến kháng nghị. Tổng biên tập Cát đã tiếp tôi, chỉ ra rằng đoạn đó tôi viết tạp nhạp và dung tục. Đây là sự vấp ngã đầu tiên của chủ nghĩa "bánh bao chua — sentimental" (cảm súc) của tôi.
Tác phẩm "Ngày Tết" vốn là một bài tản văn, tôi gửi cho tờ "Quan Sát Mới", thư từ chối của biên tập viên nói rằng tôi viết rất có tình cảm nhưng lại quá tản mạn. Nhận được bản thảo bị trả về, tôi dùng hai mươi phút để bịa ra một câu chuyện, chuỗi các nội dung y hệt lại với nhau rồi gửi đi, lập tức được đăng trên "Học Tập Văn Nghệ" và nhận được lời khen ngợi. Từ trước đến nay tôi vẫn luôn cảm thấy ngượng ngùng khi phải bịa chuyện, dùng phương pháp bịa chuyện để viết tiểu thuyết luôn khiến tôi có cảm giác giống như dùng chút tài vặt để lừa gạt người ta. Cuối cùng, tôi cũng phải thừa nhận rằng viết tiểu thuyết không thể tách rời việc bịa chuyện.
Than ôi, viết tiểu thuyết không thể quá dung tục, quá dung tục thì giống như bán bánh bao thịt chó. Cũng không thể quá thanh cao tự luyến: Quá tự cao tự đại thì tốt nhất bạn đừng nên bước chân vào lĩnh vực tiểu thuyết, đây vốn là một thể loại văn học có quy mô lớn, lưu hành từ xưa đến nay trong các quán rượu quán trà, được giới bán sức lao động và tầng lớp bình dân yêu thích.
Trước đó, trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ, mấy tuần cuối cùng tôi cũng giống như vừa trải qua một trận ốm nặng, đầu óc quay cuồng, hoa mắt chóng mặt, ăn ngủ không yên, tứ chi rệu rã, hoàn toàn không có chút chắc chắn nào, tôi đã viết xong bản thảo đầu của "Tuổi trẻ muôn năm". Sợ bản thảo bị thất lạc, tôi đã chép một phần khá lớn bản thảo vào cuốn sổ tay lớn, sau đó mua rất nhiều giấy viết bản thảo kẻ dọc loại năm trăm chữ để chép lại. Ngoài bản thân ra, tôi còn nhờ em gái tôi là Vương Minh cùng một đồng chí đồng nghiệp là đồng chí Chu Văn Tuệ giúp tôi chép lại. Việc chép cũng đã xong, thấm thoắt đã đến mùa đông năm 1954, tính từ lúc bắt đầu đặt bút viết đúng tròn một năm, tôi coi như đã có trong tay một tập bản thảo dày cộm.
Văn học chính là một thứ như thế, bất kỳ kẻ đắc ý nào, đặc biệt là những kẻ thất thế, những kẻ nhàn rỗi, những kẻ nghèo túng tự cho là có tài mà không gặp thời, những kẻ tự luyến, những kẻ mộng du, những người nhiệt tình có tinh thần sứ mệnh, cũng có thể là kẻ hoang tưởng, người có quan hệ riêng tư với nhân viên biên tập và xuất bản... đều có thể thử sức, đều có khả năng tung hoành một phen, hơn nữa, trong những năm tháng kinh tế kế hoạch, gần như chỉ có việc viết lách là không bị chi phối bởi kế hoạch, bạn muốn viết thì viết, viết xong là có thể thành sự, thời đại đó những người có chí hướng viết lách biết bao nhiêu mà kể.
Đồng thời, một khi bạn đã dấn thân vào cái việc được gọi là tập viết (một cách nói khiêm tốn đầy vẻ chua chát) ấy, cho dù bạn có học rộng tài cao đến đâu, có chức vị và học vấn thế nào, sở hữu phẩm chất đạo đức và nhân cách cao đẹp bao nhiêu, bao nhiêu kinh nghiệm trải đời, bao nhiêu tài năng linh cảm, ý tưởng kỳ lạ và tinh thần hy sinh khí phách anh hùng... thì bạn vẫn cứ là không đủ dùng, bạn nhiều lắm cũng chỉ được tính là một kẻ nửa vời mà thôi.
Nhưng cũng quả thực có những người cầm bút thế này: thành kính, hiến dâng, theo đuổi, quên mình, dốc toàn bộ tâm can thể xác của mình cho văn học. Những người như thế rất khó dung hòa với đám đông, rất khó dung hòa với người cùng chí hướng, và cũng rất khó tìm được tri âm. Không phải tất cả độc giả đều thích phủ phục rưng rưng nước mắt để ngước nhìn văn học. Họ thà đi đọc sách để giải sầu giải muộn, mượn câu chuyện lời nói của người khác để giải tỏa nỗi uất ức của chính mình. Một nhà văn coi văn học cao quá đỗi, cao tít tầng mây, cao như Thượng Đế, mà lại tự thiết kế bản thân ít nhất là theo hình mẫu thiên sứ hoặc thánh nhân. Xác suất thành công của họ tuyệt đối không vượt quá một phần trăm. Mà phần lớn cuối cùng sẽ tự chuốc lấy sứt đầu mẻ trán — tan xương nát thịt.
Tôi nhớ đến một người đồng hương kiêm bạn học của cha tôi, ông ấy đến từ khu giải phóng cũ, lúc bấy giờ đang đương chức biên tập viên xưởng phim Bắc Hưởng là thầy Phan Chi Đinh. Tôi đã tìm gặp ông ấy, ông ấy sống ở khu nhà ở mới Hòa Bình Liễu. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy tòa chung cư mới, tôi vô cùng thích thú. Vợ của thầy Phan là một diễn viên kịch nói. Vóc dáng xinh xắn, phong vận hãy còn vẹn nguyên ấy đã nói với tôi rằng: "Mai mốt em viết kịch bản đi, chúng chị diễn." Khiến tôi mê mẩn đến độ hồn phách bay bổng.
Chẳng bao lâu sau, chú Phan gửi thư đến nói rằng: "Cháu có tài năng kinh ngạc...", câu nói ấy lại khiến tôi lên cơn sốt một trận, cứ như vừa chết vì sung sướng một lần, để rồi một sợi "hồn thơm" lại từ từ, ngọt ngào, sống lại.
Chú ấy nói đã giới thiệu bản thảo cho Ngô Tiểu Vũ, phụ trách phòng văn nghệ Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc. Ngô dùng bút danh Tiêu Dã Mục, truyện ngắn "Giữa vợ chồng chúng ta" của ông đăng trên tạp chí "Thanh niên Trung Quốc" đã vấp phải sự phê bình nghiêm khắc do Đinh Linh dẫn đầu. Truyện kể về mâu thuẫn giữa một người nam trí thức và một người nữ xuất thân từ công nông, trong đó có đoạn viết người nam muốn ngắm trăng, còn người nữ thì phàn nàn trăng không bằng chiếc bánh nướng, không thể giải quyết được vấn đề đói khát. Truyện như vậy và sự phê bình như thế (bài viết phê bình của Đinh Linh mang tựa đề "Nhìn nhận nó như một khuynh hướng"), bao gồm cả tựa đề bài văn được nâng lên tầm cao chính trị, ngày nay đọc lại thì mang màu sắc hài kịch, nhưng vào thời điểm đó lại tạo ra những bi kịch hoàn toàn có thật. Kể từ đó, ngoại hình và lời ăn tiếng nói, ngữ điệu và cử chỉ của Ngô Tiểu Vũ đều mang lại cho tôi cảm giác xui xẻo, vận hạn.
Thế là tôi ngày đêm ngóng trông, trong mơ cũng nhìn thấy thầy Ngô Tiểu Vũ, nhận được sự chỉ điểm của ông. Lúc gọi điện thoại cho giọng tôi run lẩy bẩy, giống hệt như một gã thái giám đang nói chuyện với hoàng thượng. Ngô bảo tôi rằng biên tập viên Lưu Lệnh Mông đang duyệt bản thảo. Cho đến tận mùa xuân hạ năm sau, vẫn không có tin tức gì, điện thoại cũng không gọi được cho biên tập viên Lưu, đột nhiên lại nghe được tin đồn từ chỗ lãnh đạo Đoàn Thanh niên thành phố rằng biên tập viên Lưu đã "có chuyện" trong phong trào chống Hồ Phong, tôi lại càng kêu trời không thấu kêu đất không ăn rằm.
Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc nằm ở ngõ Lão Quân đường, Đông Tứ Thập Nhị Điều, rất gần nơi làm việc và nơi ở của tôi. Tôi đạp xe đến cổng nhà xuất bản, nhìn thấy một số biên tập viên mang kính cận dày cộp, nói giọng phổ thông vướng âm miền nam với vẻ mặt đậm chất thư sinh đang đi làm hoặc tan sở. Tôi muốn hỏi thăm nhưng không có cửa, muốn luồn lách nhưng không có đường, muốn lấy lòng nhưng không có duyên, muốn giao lưu nhưng không xứng, muốn khóc cũng chẳng có nước mắt.
Tôi đợi ròng rã suốt một năm trời, bản thân trở nên gần như mê tín. Tôi thường nghĩ, giả sử buổi sáng trời đổ mưa, thì rất có thể đó là điềm báo "Tuổi trẻ muôn năm" sắp có tiếng tăm, sắp có tin vui. Giả sử có một con quạ bay đến kêu lên mấy tiếng liền với tôi, tôi nghĩ đây rất có thể là dấu hiệu bản thảo bị phủ quyết hoàn toàn... Đến mùa đông năm 1955, Ngô Tiểu Vũ bèn tìm đến Tiêu Ân, phó chủ nhiệm ủy ban công tác thanh niên Hội Nhà văn Trung Quốc, nhà văn lão thành, để bảo ông ấy nói chuyện với tôi. Chúng tôi nói chuyện tại nhà thầy Tiêu, số 8 ngõ Triệu Đường Tử, quận Đông Thành (sau này thầy Tiêu chuyển đi Quảng Đông làm việc, căn viện này được bán lại cho nhà thơ Tạng Khắc Gia). Thầy Tiêu đánh giá rất cao nền tảng của bản thảo và "cảm giác nghệ thuật" của tôi, chỉ ra rằng vấn đề cốt lõi của bản thảo nằm ở tuyến chính, không có tuyến chính thì không thành sách được.
Hóa ra là thế! Hóa ra vị thần linh Bồ Tát cứu khổ cứu nạn của tôi, tổ tông cha mẹ của tôi chính là ngài, tuyến chính vĩ đại! Tuyến chính chính là linh hồn của tôi đấy! Đồng thời cũng là đao phủ, là hung thần ác sát của tôi! Những từ ngữ như thế đừng nói là viết ra, ngay cả việc hiểu và thực hiện cho đúng, trước đây chúng ta chưa từng nghe bao giờ. Tôi chỉ biết viết tiểu thuyết dài khó nhất là cấu trúc, nào ngờ trong cấu trúc lại còn có một vị lão gia là "tuyến chính", lão ta mọc ngay trên huyệt mệnh môn của tiểu thuyết!
Đồng chí Ngô Tiểu Vũ dáng người cao lớn, gù lưng, hút thuốc lá không ngừng, những ngón tay bị khói thuốc nhuộm đen sì đã khẳng định niềm đam mê của tôi, nói rằng: "Tác phẩm này sửa cho tốt, cậu sẽ đạt được thành công lớn." Một từ mà Ngô Tiểu Vũ rất thích nói là "mài", "còn phải mài giũa cho thật kỹ". Chữ mài này của ông ấy nghe vào tai tôi vô cùng khổ sở. Còn thầy Tiêu Ân thì nói chuẩn bị để Hội Nhà văn ra công hàm chính thức, xin cho tôi nghỉ sáng tác nửa năm.
Thầy Tiêu cũng nhắc đến một loại thuốc bổ mà ông đang tiêm vì sức khỏe kém, hình như gọi là cái gì mà "tinh chất gan". Hai người họ cũng bàn về vấn đề nhuận bút cho một cuốn sách của thầy Tiêu.
Ngày vui thỏa sức ca vang, tuổi trẻ kề vai về quê! Tôi không tìm được từ ngữ thích hợp, cứ gặp chuyện vui là lại nhớ đến Đỗ Phủ, mặc dù thơ của Đỗ Phủ chẳng dính dáng mảy may nào đến trải nghiệm của tôi. Tôi cứ nghĩ, những chuyện tiếp theo chắc chắn sẽ thuận buồm xuôi gió, thông suốt mọi bề.
...Bây giờ tôi thường suy nghĩ về một chuyện, nếu kết quả không phải thế này mà là thế khác thì sao? Nếu Ngô Tiểu Vũ và Tiêu Ân phủ định bản thảo đầu tay của tôi một cách dứt khoát gọn gàng thì sao? Liệu tôi còn dũng khí để tiếp tục nỗ lực nữa không? Tuổi trẻ, tài năng, niềm đam mê và xung động sáng tạo mới mỏng manh làm sao! Ngoại trừ việc biết ơn những người thầy ân sư này, tôi có thể rút ra được những nhận thức sâu sắc nào lớn lao hơn từ đó không?
Trong khoảng thời gian một năm chờ đợi tin tức, tôi cũng từng viết kịch bản kịch nói, tôi viết nó trong một căn phòng làm việc lớn, khi thời khắc nửa đêm đến, chiếc đồng hồ treo tường điểm 12 giờ, từ khắp nơi truyền về những báo cáo chiến đấu với kẻ thù giai cấp, sự nghiệp vô cùng vĩ đại và sôi nổi, nhưng những nhân viên làm việc lại chỉ là những con người bình thường. Con người bình thường và sự nghiệp vĩ đại, đó chính là nơi tọa lạc của sức căng, là nơi tọa lạc của tính kịch.
Tôi đã gửi bản thảo kịch bản này cho đại sư Tào Ngu. Rất nhanh chóng tôi nhận được hồi âm của ông, ông mời tôi đến nhà ông dùng bữa trưa chung. Lúc bấy giờ hình như ông ấy sống ở ngõ Thiết Sư Tử. Ông ấy nói tôi viết có hương vị, nhưng nội dung không dễ nắm bắt, nói không rõ ràng. Mấy chục năm sau đó, mỗi khi có cơ hội gặp lại thầy Tào, ông thường hay hồi tưởng lại cảm nhận của mình khi đọc những tác phẩm tập viết đầu tay của tôi ngày trước.
Đoàn Thanh niên thành phố đã sảng khoái phê chuẩn kỳ nghỉ sáng tác cho tôi. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ câu nói của Uông Gia Lương — lúc bấy giờ là phó bí thư Đoàn Thanh niên thành phố, sau này từng giữ chức phó bí thư Thành ủy Bắc Kinh kiêm hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương — khi nhìn thấy công hàm của Hội Nhà văn do tôi đưa tới: "Hội Nhà văn, thật đáng nể!" Vâng, danh xưng hội nhà văn này nọ vào thời điểm đó rất có sức hù dọa.
Mùa xuân năm 1956, theo lời mời, tôi tham dự hội nghị những người sáng tạo trẻ tuổi lần thứ nhất do Hội Nhà văn và Đoàn Thanh niên Trung ương phối hợp triệu tập. Tôi đã nếm trải cảm giác giấc mơ trở thành hiện thực. Sợ kiêu ngạo, hội nghị không gọi là nhà văn trẻ mà chỉ gọi là tác giả. Nhưng đông đảo người tham dự vẫn cứ giống như hít phải khí cười mà thành tiên vậy. Cứ thế, thoắt cái tôi đã trở thành một nhà văn trẻ, thực sự vừa may mắn vừa hổ thẹn, chỉ với mỗi "Hạt Đậu Nhỏ" và "Ngày Tết", tôi thấy ngượng chín cả mặt. Tôi nhớ đến những cuốn sách chói lọi của Lỗ Tấn "Gửi các nhà văn trẻ" và những tác phẩm cùng tên của Gorky. Đại hội sắp xếp cho chúng tôi ở khách sạn Chính Dương Môn, lò sưởi ấm đến mức tôi không tài nào chợp mắt nổi. Tôi thực sự đã cảm nhận được cái vị "nóng sốt đến khó chịu"...
Hội nghị được tổ chức theo hình thức lớp tập huấn ngắn hạn, Mâu Thuẫn, Lão Xá, Chu Dương, Trần Hoang Mê... đều đến giảng bài cho chúng tôi. Cụ Mâu giảng về sự xuất hiện của nhân vật, Lão Xá giảng về ngôn ngữ. Chu Dương giảng tư tưởng văn nghệ, hình như ông ấy thà giữ một khoảng cách nhất định với các nhà văn còn hơn, vừa lên tiếng ông đã nói: "Các đồng chí làm tư duy hình ảnh, còn tôi thì làm tư duy logic nha, ha ha ha..." Ông cười đầy đắc ý. Có lẽ bởi vì lúc bấy giờ tôi là phó bí thư đoàn ủy của quận, rất được ban tổ chức hội nghị coi trọng, được sắp xếp làm tổ trưởng này nọ, nhưng tôi lại hoàn toàn phụ lòng mong đợi, hoàn toàn không nghĩ tới chuyện bản thân có thể phát huy chút lợi thế về mặt chính trị để định hướng cho người khác, mà ngược lại chỉ còn biết cảm thấy tự ti hổ thẹn. "Hạt Đậu Nhỏ" còn cách sự xuất sắc rất xa, thế mà Tống Tiêu Bình — người viết ra những tác phẩm văn học thiếu nhi tuyệt đẹp như "Đứa trẻ vùng biển" — lại chỉ được tính là đại biểu tham dự hội nghị mà thôi.
Tại hội nghị này, những từ ngữ mà các tác giả trẻ hay nhắc đến nhất chính là mấy từ sau đây, một là "phát", không phải có ý phát tài như hiện nay, mà chỉ việc được đăng báo, tác phẩm nào của ai được "phát" có nghĩa là được công bố. Điều này lập tức khiến người ta cảm thấy cao hơn người khác một bậc, tác phẩm nào của ai không được "phát" thì chính là thất bại, là xui xẻo, là cạn kiệt tài năng, là tiền đồ mịt mờ. Từ thứ hai là tập sách, bởi vì phần lớn người tham dự đều viết các tác phẩm ngắn, ai làm được việc tập hợp các tác phẩm ngắn của mình lại để xuất bản thành sách, người đó tự nhiên sẽ cao minh và thành công hơn rất nhiều so với những người chỉ mới được in thành chữ chì trên báo chí. Từ thứ ba là gia nhập hội, như Lưu Thiệu Đường và những người khác, từ lâu đã gia nhập Hội Nhà văn và trở thành hội viên, lại càng lợi hại và giàu có hơn đám người chúng tôi dẫu viết được dăm ba món đồ đã tới dự họp.
Nhờ có "Hạt Đậu Nhỏ", tôi được xếp vào tổ văn học thiếu nhi, tôi có cơ hội chiêm ngưỡng phong thái của Thiệu Yến Tường, người từng viết tác phẩm "Giếng nước ngọt do Chủ tịch Mao đào", được coi là văn học thiếu nhi. Ông ấy hình như là phó trưởng đoàn đại biểu Bắc Kinh. Ông mặc chiếc áo gió màu vàng be, khi đi xe rất thích đứng ở cửa xe. Tôi cảm thấy dáng điệu của ông ấy rất giống Pushkin, lúc đó tôi đang say sưa với tác phẩm "Yevgeny Onegin" của Pushkin, tôi tin rằng Thiệu nhất định có thể viết ra những tác phẩm tầm cỡ như Pushkin.
Tại hội nghị này, tôi cũng có cơ hội nhìn thấy Lưu Thiệu Đường đeo kính gọng tối màu vành rộng, anh ta thường xuyên ngậm điếu thuốc lá, nói chuyện giọng hào sảng. Anh ta có thể không chút kiêng dè mà bàn về hợp đồng và nhuận bút, lúc bấy giờ anh ta đang say sưa với việc viết ra tác phẩm "Nông trang Hòn Đá Mài" phiên bản Trung Quốc giống như Panfilov của Liên Xô. Cuốn tiểu thuyết này nổi tiếng bởi độ hoành tráng, tập này nối tiếp tập kia, nhưng ít nhất là ở Trung Quốc, rất ít người đọc nó. Nghe nói cậu em Lưu còn đề xuất tại hội nghị rằng thà giảm thọ mười tuổi, cũng phải cho ra mắt tác phẩm sớm hơn một tuần. Tôi đã nghe được lời chê trách của nhà thơ già Tạng Khắc Gia tại buổi họp tổ về việc Lưu Thiệu Đường bỏ học (Đại học Bắc Kinh) để đi theo con đường sáng tác chuyên nghiệp. Ban đầu Lưu thi đỗ vào khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh, nhận được sự ca ngợi của toàn quốc. Sau đó, anh ta không thể an tâm học tập, đã được chủ nhiệm bộ môn văn nghệ của báo "Thanh niên Trung Quốc" là đồng chí Ngô Nhất Khanh điều về tòa soạn để "nuôi" dưỡng. Ở tổ văn học thiếu nhi, tôi còn quen biết các nhà văn như Trịnh Văn Quang, Lưu Hậu Minh, Khả Nham, và thỉnh thoảng có những buổi tụ họp vui vẻ cùng họ. Văn Quang là Hoa kiều về nước, có chút thực lực, nhà có đầu bếp, chúng tôi không chỉ một lần được cải thiện đời sống ở nhà anh ấy, cùng nhau nghiên cứu thảo luận thậm chí là ngâm thơ đọc tác phẩm. Vui biết nhường nào!
Trong thời gian hội nghị, Thủ tướng Chu đã đến gặp gỡ mọi người, và cùng nhảy những điệu nhảy uyển chuyển với mọi người tại sảnh lớn của khách sạn Bắc Kinh. Đây là một kỷ lục chưa từng có về sự đắc ý phơi phới "ngựa ô phi nhanh trong ngày xuân" của một thế hệ tác giả trẻ, và cũng gần như là cuốn phim tư liệu đầy nắng ấm cuối cùng về những bước nhảy vội vã, những tư duy văn chương rực cháy.
Hội nghị đã tổ chức một hoạt động, đông đảo người tham dự được gặp gỡ các thanh niên văn nghệ của thành phố. Tôi đã gặp một vị lãnh đạo cấp trung nào đó của Đoàn Thanh niên thành phố — người tổ chức hoạt động này, và lúc đó tôi mới biết rằng những nhà văn trẻ nổi tiếng mà tôi vô cùng ngưỡng mộ như Lưu Thiệu Đường, trong mắt một số đồng nghiệp là cán bộ đoàn của tôi lại là những thanh niên dị loại có vấn đề về tư tưởng, chính trị không tiến bộ, cực kỳ cần phải được chấn chỉnh, cứu vớt và cải tạo — thế mà tôi lại không hề trân trọng tư cách và thân phận cán bộ của mình. Và từ lời nói của Lưu và những người khác, tôi cũng biết được họ có phần cuồng ngạo ra sao, xem thường và chán ghét những thanh niên hết lòng yêu mến văn học nhưng chưa chắc đã có khả năng đạt được thành tựu. Anh ta đã dùng những lời lẽ vô cùng bất thiện để nói với một nhà văn trẻ khác rằng: "Cậu cứ cãi lại nó! Phủ định nó đi! Tuyệt đối đừng thèm đếm xỉa đến nó!" Cuối cùng tôi cũng không tài nào hòa nhập hoàn toàn với bọn họ được. Ngay từ đầu tôi đã bị kẹt cứng ở chính giữa rồi.