Bán Sinh Đa Sự

Lượt đọc: 97 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười Ba, Nghệ Thuật Và Cuộc Sống

❊ ❊ ❊

Tôi thích công việc và học tập, tôi cũng thích ngày lễ, tôi gần như dành toàn bộ thời gian nghỉ ngơi quý báu của mình (thời gian này thường bị chiếm dụng) cho việc đọc sách và thưởng thức (phim ảnh và biểu diễn).

Là một người lao động trẻ, tôi có một thuận lợi: thường xuyên nhận được vé mời xem các buổi biểu diễn văn nghệ khác nhau. Ngay từ thời gian học tập tại Trường Đoàn Trung ương, tôi đã xem vở kịch "Người ái quốc" do Nhà hát Nghệ thuật Thanh niên biểu diễn, thể hiện cách một nữ nhà cách mạng kiên trinh bất khuất dưới những đòn tra tấn dã man. Giọng của nữ diễn viên khàn khàn, có một sức biểu cảm đặc biệt. Cảnh tra tấn được thể hiện qua màn chiếu, vô cùng chấn động. Trước buổi biểu diễn, đồng chí Liêu Thừa Chí đã đến Trường Đoàn Trung ương để giảng bài, và đặc biệt nhắc đến vở kịch này. Khi đó, Liêu là Viện trưởng nhà hát "Thanh Nghệ", Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên toàn quốc.

Tôi cũng đã xem hai phiên bản của vở nhạc kịch "Lưu Hồ Lân", cùng với các vở nhạc kịch "Bạch Mao Nữ", "Xích Diệp Hà" và "Huyết Lệ Cừu". Xem xong những vở nhạc kịch này, các đồng đội của chúng tôi, những người ở Quận Đoàn, cứ hô to gọi lớn, phấn khích đến cực điểm, tràn ngập lòng căm thù giai cấp, chỉ hận không thể tự tay bắn chết Hoàng Thế Nhân. Khi tôi xem "Xích Diệp Hà" tại hội trường Bộ Đường sắt Đông Đơn, bên cạnh tôi ngồi một người trông giống công nhân, miệng phả ra mùi tỏi nồng nặc. Tôi cố hết sức đè nén sự khó chịu của mình, tự nhủ rằng hơi thở của anh ấy tuy không được thơm tho, thế nhưng, anh ấy là anh em giai cấp của chúng ta, là người đáng yêu nhất. Thử thách mà tôi đang phải đối mặt lúc này là dùng quan điểm của tiểu tư sản để chê bai mùi tỏi của người ta, hay dùng tình cảm của vô sản để yêu thương anh em giai cấp của mình đây? Dĩ nhiên tôi đã chọn vế sau.

Tôi thích giai điệu mang âm hưởng Tấn kịch của "Lưu Hồ Lân" và âm hưởng Hà Bắc bang tử của "Bạch Mao Nữ". "Dao sát ngã, phủ khảm ngã, nhĩ bất cai giá dạng tao đạp ngã..." Khúc thứ nhất vang dội, khúc thứ hai đẫm máu nước mắt, khúc thứ ba vươn vấn bên xà nhà, cách mạng vốn dĩ thân thiết với văn nghệ của nhân dân. Sự u phẫn, uất ức, đau khổ, nóng bỏng, la hét của các làn điệu dân ca, âm nhạc dân gian, hý khúc địa phương Trung Quốc vốn dĩ thân thiết với cách mạng, gọi là tâm ý tương thông, tuyệt cú mèo!

"Nhạc kịch phương Tây (Ý)" cũng cảm động không kém đối với tuổi trẻ. Tôi vô cùng xúc động trước vở "Trà hoa nữ" do Trương Quyền và Lý Quang Hi biểu diễn, phấn chấn tinh thần trước Khúc ca uống rượu, đau đớn và phẫn nộ trước khúc song ca cuối cùng giữa Violetta và Alfredo. Trước khi nữ chính qua đời, họ hát: "Hãy để chúng ta rời khỏi thế giới tội lỗi này, đến nơi chốn xa xôi kia...". Tôi muốn bảo họ rằng: "Hãy để chúng ta tiêu diệt thế giới cũ tội lỗi, tạo lập một xã hội hoàn toàn mới đi."

Nghệ thuật của Puccini và Verdi cũng đã xây nên con đường lớn dẫn đến cách mạng!

Tôi cũng từng xem Bình kịch "Tiểu nữ tế" của Tiêu Bạch Ngọc Sương và Hà Bắc bang tử "Trần Diệu Thường" của Lý Quế Vân vào khoảng thời gian Tết Nguyên Đán. Nội dung vở trước tuy nông cạn, nhưng hát rất ngọt ngào dịu dàng, đẫm tình cảm sâu lắng. Cho đến nay tôi vẫn có thể nhại lại hai câu: "Điểu ố nhập ư lâm, kê thượng oa ốc ốc ố..., hắc hết lạp a ố thiên an ừm..." Vở sau thì tôi thích âm nhạc hơn, tiếng sáo đệm và cả phần biểu diễn nữa. Dù sâu sắc hay nông cạn đi nữa, bao trùm trong vở kịch vẫn là nỗi khát khao hướng về cuộc sống hạnh phúc, và nỗi bi ai khi không thể có được hạnh phúc.

Thời đó đương nhiên không có phương tiện nào khác, nhưng chỉ từ chiếc đài bán dẫn, tôi cũng đã nghe khắp các làn điệu dân ca mọi miền và các bài hát sáng tác gần gũi với dân ca. Đảng Cộng sản đến, tôi mới biết khắp Trung Quốc có nhiều dân ca, âm nhạc dân gian đặc sắc đến thế, trong khi thời kỳ Quốc Dân Đảng và Nhật Bản, bầu không khí Bắc Kinh chỉ vang lên những bài hát thịnh hành, âm thanh trụy lạc. Đảng Cộng sản sao có thể không thắng chứ? "Ngũ canh tiểu điều", "Vương nhị tẩu bái niên" của Đông Bắc; "Thập nhị bả liêm đao", "Tín thiên du", "Tại na diêu viễn đích địa phương" của Tây Bắc; "Tiểu hà thưởng thủy", "Thoa điều" của Vân Nam; "Thêu cúc áo", "Lan Hoa Hoa" của Sơn Tây; "Nghênh xuân vũ khúc", "Tân Cương hảo" của Tân Cương; "Thảo nguyên thượng thăng khởi bất lạc đích thái dương" của Nội Mông; "Tạng tộc nhân dân ca xướng giải phóng quân" của Tây Tây. Điều khiến tôi đặc biệt đắc ý là, cứ nghe đến "Lan Hoa Hoa" là tôi cảm thấy thật phi thường: "Nhĩ yếu thị tử lai nhĩ tảo tảo địa tử, tiền sướng nhĩ tử lai hậu sướng ngã Lan Hoa Hoa tẩu!" Cả lời lẫn giai điệu, đó chính là ngọn lửa cách mạng. Một đồng nghiệp nghe đến đây liền nói: "Con nhỏ lẳng lơ này!" Tôi cảm thấy có sự báng bổ quá lớn. Tôi không thích điều đó. Khi một người còn trẻ, văn học và nghệ thuật, bài hát và âm nhạc đều chứa đựng quá nhiều sự thiêng liêng, nó không dung thứ cho những lời bàn ra tán vào của "phàm nhân", thậm chí còn chán ghét sự hài hước. Người trẻ tuổi dễ rơi vào sự u sầu và cảm xúc mãnh liệt, nhưng lại quá non nớt, không dung chứa nổi sự hài hước.

Còn có một ca sĩ người Nội Mông là Bao Âm Đắc Lực Cách, điệu trường điều của cô ấy tôi hoàn toàn không nghe ra là đang hát cái gì, nhưng tôi dám chắc, cô ấy hát quá hay.

Chẳng bao lâu sau, "Lan Hoa Hoa" nổi đình nổi đám, Nikitin của Đoàn ca vũ Cờ đỏ Aleksandrov của quân đội Liên Xô cũng dùng tiếng Trung để đơn ca "Lan Hoa Hoa". Còn Bao Âm Đắc Lực Cách thì đoạt giải lớn tại Liên hoan Thanh niên Thế giới. Tôi không thể không khẳng định bản thân mình là người có thính giác, có đôi tai.

Tôi có một hai lần tự mua vé đi xem biểu diễn của Đoàn Ca vũ Trung ương, điệu múa lụa đỏ do họ biểu diễn vô cùng cuốn hút.

Tôi càng may mắn hơn khi được xem buổi biểu diễn của nhiều nghệ sĩ Liên Xô. Múa ba lê của Ulanova. Zoya, Mikhailov, Nikitin, Halima Nasyrova (Kazakh), Tamara Khanum (Uzbek), Rashid Behbudov (Azerbaijan), tất cả đều khiến tôi kinh ngạc đến mức câm nín. Đặc biệt là bài "Khúc ca người kéo thuyền trên sông Volga" do Mikhailov hát, trầm lắng và áp lực. Tôi tin rằng bài hát này cùng với bức tranh sơn dầu "Những người kéo thuyền trên sông Volga" của Repin cũng là một trong những hợp phần tinh thần của Cách mạng Tháng Mười. Văn học và nghệ thuật của nước Nga quá mãnh liệt và đầy bi phẫn, nó tất yếu sẽ thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng cháy rực.

Bài "Những bông hoa trong vườn mùa xuân thật đẹp" do Nikitin hát uyển chuyển mềm mại, hơi có chút điệu đà. "Điệu nhảy tròn Kazakh" do ca sĩ người Kazakh Halima hát phóng khoáng tươi sáng, lay động lòng người. Nụ cười hòa quyện trong tiếng hát của cô ấy khiến tôi say đắm. "Ở nơi xa xôi ấy", "Khúc dao bán vải" do Rashid người Azerbaijan biểu hiện vô cùng phong phú, làm say đắm tâm hồn.

Tôi tin chắc rằng, nghệ thuật là hương vị đích thực của cuộc sống, là sự thăng hoa của cuộc sống, là động lực của cuộc sống, là nguồn cội của hạnh phúc, là sự vươn lên về mặt tinh thần, là ngôi nhà an thân lập mệnh của con người. Cuộc sống nên hướng về nghệ thuật, cuộc sống hướng về nghệ thuật mới là cuộc sống đáng sống, mới là cuộc sống của con người mới trong xã hội mới.

Cứ thế, tôi cũng cảm thấy tiếc nuối cho những kẻ quá thiếu tế bào nghệ thuật, thậm chí có phần coi thường họ, ít nhất là có sự xa cách. Niềm đam mê nghệ thuật này sau đó cũng đã khiến tôi phải trả một cái giá vô cùng đắt.

Huống chi tôi còn nghe Tchaikovsky, nghe Beethoven, nghe Mozart trên đài phát thanh, và cũng nghe Lưu Thiên Hoa cùng A Bính mù. Tôi biết con người vốn dĩ có thể thấu cảm đến nhường nào, văn minh đến nhường nào, phong phú đến nhường nào, rực rỡ đến nhường nào. Mà hiện thực thì... Tôi nhớ đến một câu thoại của nhân vật trong kịch Chekhov: "Cuộc sống mới hoang dã làm sao."

Tôi thích bản nhạc giao hưởng "Thảo nguyên Trung Á" của Borodin, thích sự đan xen giữa nét dài lâu và vương vấn, vô tận và lưu luyến. Tôi thích tổ khúc "Scheherazade" tức "Nghìn lẻ một đêm" của Rimsky-Korsakov, có thể gọi là hoa mỹ và mượt mà. Tôi cũng thích hát bài hát "Ngôi sao phương bắc" của Glinka và bài hát "Mẹ dạy tôi hát" của Dvorák. Tất cả những thành quả nghệ thuật tốt đẹp đều đi thẳng vào tim tôi, thấm sâu vào hồn tôi. Tôi từng nghe đĩa hát tiếng hát của Quách Lan Anh tại nhà của Bí thư Quận Đoàn Lưu Lợi Bang, sự nồng đượm và giọng ca thuần khiết của cô ấy cũng khiến tôi say sưa lưu luyến. Bài "Tiểu hà thưởng thủy" và "Thoa điều" của Hoàng Hồng cũng mang lại cho tôi niềm vui lớn lao.

Tôi dành nhiều thời gian rảnh rỗi hơn cho việc đọc sách. Tôi thích đọc "Thất thủ ở Paris", "Giông bão" và "Sóng lớn" của Ehrenburg. Tôi biết ông quả thực có những chỗ viết vội vàng và thô ráp, nhưng dù sao ông cũng có bố cục hoành tráng, tầm nhìn bao quát, sắc thái lãng mạn, hồi ức rực rỡ và tình ý vô hạn. Với hoàn cảnh và trải nghiệm của Ehrenburg, tình ý của ông thật hiếm có! Tôi đến nay vẫn nhớ những lời ca của đội du kích mà ông đã viết:

Hãy mau thổi còi,

Đồng chí,

Đã đến lúc chiến đấu rồi.

Bây giờ tôi đã không còn nhìn ra những câu từ này có điểm gì hay, nhưng vào thời điểm ấy, ba câu thơ này cũng khiến nước mắt tôi tuôn rơi như mưa.

Phần sau của "Giông bão" viết về phong trào bảo vệ hòa bình sau Thế chiến II, cuốn sách mới của ông có tựa đề là "Sóng thần", cũng coi là "đi cùng nhịp sống". Tôi nhớ nhân vật chính ham ăn nhàn rỗi người Pháp mà ông viết, mỗi bữa ăn chính của hắn, đều chừa lại một chỗ ngồi cho người thân đã hy sinh trong chiến tranh, vô cùng chấn động.

Tôi thích "Anna Karenina" của đại văn hào Tolstoy, bút pháp của ông tinh tế sinh động, chuẩn xác kỳ diệu. Từ đó, tôi bắt đầu cảm nhận được tình yêu, cảm nhận được nhân sinh, cảm nhận được sự giao lưu, tiếp xúc, sức hấp dẫn và sự huyền bí, hơn thế nữa còn cảm nhận được tâm huyết chạm trổ tinh vi và sức mạnh của văn học. Cuộc gặp gỡ giữa Anna và Vronsky, cảnh trượt băng của Levin và Kitty, sinh nhật con trai Anna là Alyosha, từng buổi vũ hội tiệc tối, giấc mơ và cái chết của Anna, tất cả đều khiến tôi cảm nhận được sự bất tử đích thực.

Tôi đọc Turgenev với tâm trạng thoải mái và gần gũi hơn. Bản dịch của Linyi tao nhã đến cùng cực. Lisa trong "Tổ ấm quý tộc" sau đó đã trở thành nữ tu. Yekaterina trong "Đêm trước" đã cổ vũ những người cách mạng Bulgaria. "Đêm trước" mang lại cho người ta một sự thưởng thức nghệ thuật vô cùng viên mãn.

Còn Dostoevsky khiến tôi chấn động, hành văn của ông giống như dòng sông cuồn cuộn, sóng đục cuồn cuộn trời cao, bạn thấy khó chịu chỗ nào là ông viết chỗ đó, ông tự tay phá hủy mọi hy vọng mọi tâm nguyện của bạn (trong khi đọc), ông khiến bạn tuyệt vọng khiến bạn phát điên, ông ấy phải đau khổ biết nhường nào!

Những đêm cuối thu và đầu đông năm 1952, tôi đã trải qua trong việc đọc Balzac. Điều khiến tôi khâm phục và cảm động chính là tính chuẩn xác trong miêu tả, mọi thứ đều như thấy tận mặt người, nghe tận tai tiếng, đến tận chốn cảnh. Nhân sinh có quá nhiều điều tuyệt diệu, mà mọi sự tuyệt diệu chỉ có khi trở thành tác phẩm văn học thì mới có thể lưu truyền mãi về sau, tỏa sáng hơn sinh mệnh, vĩnh cửu hơn sinh mệnh.

Tôi đọc đi đọc lại Lỗ Tấn, "Thương thế" là một bài thơ văn xuôi dài. "Kẻ cô độc" và "Trên lầu rượu" từng câu từng chữ đẫm máu và nước mắt. Tôi đặc biệt thích "Dã thảo" của ông, thích "Đêm thu", "Diều giấy" và "Chuyện cũ tốt đẹp", còn có "Tuyết": "Bông tuyết cô độc ấy, chính là tinh hồn của mưa..." Thế rồi tôi cũng trở nên lạnh lùng và u phẫn, đối với cõi đời mịt mờ, đối với những kẻ vô cảm và lạnh lùng, đối với những người hoàn toàn không có ác ý nhưng lại luôn gây tổn thương cho người khác — như người đàn bà họ Dương kể cho Tường Lâm tẩu nghe về hình phạt dành cho người tái giá sau khi chết trong vở "Cầu phúc" — Lỗ Tấn giỏi nhất là viết về những loại đàn bà ngu muội đầu đường xó chợ ấy, tôi cảm thấy một sự hụt hẫng lớn lao.

Cùng lúc đó, tôi ngày càng yêu thích Chekhov, nỗi u sầu, sự trầm ngâm, tiếng thở dài, giọt nước mắt đọng trong đôi mắt của ông đã khiến tôi mê muội tâm thần. Tôi cũng đặc biệt thích bản dịch của Nhữ Long, trôi chảy mà tao nhã, kín đáo mà sâu lắng, từng câu từng chữ đều thấm sâu vào tim tôi, nảy mầm sinh trưởng.

Vào giữa thập niên 50 của thế kỷ 20, chuyên gia Liên Xô Leslie đã hướng dẫn Nhà hát Nghệ thuật Thanh niên dàn dựng vở "Cậu Vanya", tôi đã tìm mua "Tuyển tập kịch Chekhov" do Tiêu Cúc Ẩm dịch từ bản tiếng Anh, gồm "Mòng biển", "Ba chị em", "Cậu Vanya", "Vườn anh đào", chúng khiến tôi mê mẩn phát cuồng. Cuộc sống thường ngày, phong cảnh, sự phiền muộn, thất vọng và những giấc mộng ảo cứ tan vỡ không ngừng, sao qua tay Chekhov lại có vẻ như chẳng tốn chút sức lực nào mà nhào nặn thành một vở kịch lay động lòng người đến thế. Đó là vở kịch đẫm vị đời, hơi thở con người, hình hài của tự nhiên và nỗi thống khổ vô hạn của sinh mệnh, những lời thoại trong các vở kịch ấy lại càng là văn xuôi tựa như thơ, đây chính là điều tôi yêu thích nhất, là thứ tôi tìm kiếm. Tôi học thuộc lòng những lời thoại trong các vở kịch này, câu nói của Vanya "Cơn mưa lớn đã tạt qua...", câu nói của Sonya "Chúng ta sẽ được nghỉ ngơi..." Phần cuối vở "Vườn anh đào", lời chú thích của tác giả về hiệu ứng âm thanh, thứ âm thanh kỳ lạ truyền đến từ ngoài trời, tiếng rìu đập vào cây anh đào, một thời đại, một giai cấp, một nhóm người cứ thế bị hủy diệt, thế nhưng Anya vẫn mộng tưởng về một cuộc sống mới, mặc dù chẳng ai biết cuộc sống mới trông ra sao. Những điều này, đọc lên tựa như được ơn trên khai sáng, như rót nước lạnh vào đầu đỉnh điểm, như lột xác hoàn toàn, như rửa sạch ngũ tạng, như linh hồn bay cao... Điều tôi cảm nhận được là một sự run rẩy, một sự tái sinh, một sự giải thoát và một nỗi sợ hãi.

Để mua được vé xem vở "Cậu Vanya", tôi không tiếc thời gian xếp hàng. Tôi còn viết thư cho biên tập viên chương trình phát sóng trực tiếp của Đài Phát thanh Nhân dân Trung ương, yêu cầu phát sóng. Tôi đã nhận được thư hồi âm cho biết thời gian phát sóng, nhưng đến giờ hẹn lại không phát sóng, không rõ lý do vì sao.

Vượt lên trên tất cả chính là tác phẩm "Cận vệ thanh niên" của Fadeyev, ông có thể viết ra linh hồn của những người thanh niên thuộc quốc gia công nông xã hội chủ nghĩa thế hệ ấy, tuyệt đối không giáo điều, tuyệt đối không rập khuôn, tuyệt đối không hùa theo, thế nhưng nó lại là tác phẩm rực rỡ nhất, phong phú nhất, tiến bộ nhất, cách mạng nhất và đúng đắn nhất. Xưa nay trên đời, sẽ không bao giờ có ai viết ra được một thế giới tinh thần như thế nữa. Ulya thuần khiết sâu thẳm, Ulyana tựa đóa linh lan trong thung lũng, Kulenin hoang dã dũng mãnh, đặc biệt là Lyuba rực rỡ như hoa như lửa... Một quốc gia có những thanh niên như thế chỉ có thể là Liên Xô, chỉ có thể là đất nước do Lenin và Stalin tạo lập.

Không có chủ nghĩa xã hội, không có Cách mạng Tháng Mười, không có Đảng Cộng sản Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế, thì dẫu có cuồng tưởng cũng không thể tưởng tượng ra nổi một thế giới tinh thần tươi đẹp đến nhường này.

Tôi tin rằng, văn học nâng tầm cuộc sống, văn học khiến người đàn ông thêm hào hùng mà người phụ nữ thêm xinh đẹp, văn học khiến cuộc sống tươi tắn mà chiến đấu hào sảng, văn học khiến tư tưởng phong phú, tình cảm sâu sắc, ngôn từ và năm tháng mê đắm, văn học khiến trời và đất, trăng và sao, chim và muông thú, hoa và cỏ, khiến kim mộc thủy hỏa thổ đều tràn trề nhựa sống. Văn học và cách mạng đều theo đuổi sự hiến dâng, theo đuổi sự hoàn mỹ, theo đuổi sự thánh thiện, theo đuổi tình yêu và sự vĩnh hằng, văn học quả là một sự nghiệp huy hoàng biết bao!

Ngược lại, tôi không hiểu nổi, tại sao một số tác phẩm của chúng ta, viết về nhân vật hợp tác hóa thì trong lòng chỉ có mỗi hợp tác hóa, viết về nhân vật xóa nạn mù chữ thì trong lòng chỉ có mỗi việc xóa nạn mù chữ, viết về nhân vật nuôi heo thì trong lòng chỉ có mỗi việc nuôi heo, đem sữa người nhường cho heo ăn. Nhân vật của chúng ta tại sao lại đơn điệu và khô khan đến thế?

Đây là may mắn của tôi mà cũng là bất hạnh của tôi, văn học và nghệ thuật đối với tôi không chỉ là đối tượng thẩm mỹ, càng không chỉ là phương thức giải trí, khi tiếp nhận chúng, sự dấn thân, sự xúc động, sự đắm chìm của tôi đã biến chúng thành mưu cầu giá trị, chuẩn mực giá trị, tình cảm giá trị của sinh mệnh tuổi trẻ tôi. Sự tốt đẹp, chất thơ, tài năng, tình cảm sâu sắc, sự cảm động, niềm trầm tư, sự thăng hoa và vĩnh hằng không chỉ là mỹ học tiếp nhận của Vương Mông thời trẻ, mà còn trở thành một thứ tôn giáo bán phần của Vương Mông: lý tưởng, mưu cầu, hương vị tối hậu của việc sống, mục tiêu nhân sinh, triết lý nhân sinh, ánh sáng giá trị. Tôi đinh ninh tin tưởng vào lý tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa cộng sản của chúng ta, bởi vì chúng tốt đẹp hơn, có chất thơ hơn và cuốn hút hơn chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa phong kiến rất nhiều. Tôi thích những người trẻ tuổi, những người chân thành, những người sống thiên về tình cảm, bởi vì họ sẽ cũng giống như tôi, dốc lòng hướng về nghệ thuật, hướng về sự thăng hoa của thế giới tinh thần. Tôi không tài nào dung hợp với một số người, một số cách làm, một số lời nói, bởi vì chúng sẽ hủy hoại, sẽ làm tê liệt vầng hào quang nghệ thuật trong tâm trí tôi. Có những việc tôi rất hào hứng và nhiệt tình, bởi vì nó khơi gợi cho tôi trí tưởng tượng mang chất thơ. Có những việc tôi bắt đầu chán ngấy, bắt đầu thoái thác ứng phó, bởi vì nó quá thiếu vắng sự sáng tạo lãng mạn. Văn học khiến tôi càng thêm yêu cuộc sống và sự nghiệp, yêu những người bạn tâm đầu ý hợp với mình, nhưng văn học lại khiến tôi bắt đầu lạnh nhạt cho đến chán ghét đời sống thường nhật quá tầm thường, quá thực tế, thiếu vắng sự lãng mạn và mưu hiểm của sự sáng tạo. Trong cuộc đua giữa văn học và cuộc sống, tôi thường để văn học giành quán quân — mà đây lại là một sự non nớt và nông cạn kiểu "chỉ biết một mà không biết hai". Vương Mông thuở trẻ một lòng một dạ với nghệ thuật, lại không thoát khỏi sự non nớt và nông cạn của tuổi đôi mươi, thì khó mà tránh khỏi việc tự hủy hoại chính mình.

Nhiều thập kỷ sau, tôi đọc tác phẩm "Nguy hiểm và sáu xu" của nhà văn người Anh Somerset Maugham, ông lấy họa sĩ người Pháp Gauguin làm nguyên mẫu để viết về một người Anh sống ở Pháp, vốn là một môi giới chứng khoán có nghề nghiệp đàng hoàng và thu nhập ổn định, bỗng nhiên mê mẩn nghệ thuật vào thời tráng niên. Vợ ông ta đau đớn giận dữ tột cùng, đại ý là, vợ ông ta đinh ninh rằng, nếu là ngoại tình thì đối thủ của cô ta là một người phụ nữ khác, cô ta hoàn toàn có khả năng đánh bại một kẻ tương đồng. Thế nhưng, một khi đã đắm chìm trong nghệ thuật, đối thủ của cô ta lại là một lý tưởng, một sự mưu cầu, một sự cuồng si, mười con ngựa cũng không kéo hắn quay đầu lại được, hắn đã hoàn toàn hết thuốc chữa. Vợ ông ta thậm chí còn ủy thác cho thám tử tư của mình tung tin ra ngoài rằng người chồng đã bỏ trốn cùng một người phụ nữ khác, bởi vì điều đó sẽ bình thường và chính đáng hơn nhiều so với việc bỏ nhà ra đi vì nghệ thuật, thể diện của cô ta cũng sẽ đẹp đẽ hơn biết bao.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Vương Mông

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.