Không thể nói rằng giai đoạn này tôi hoàn toàn mất đi "cảm hứng" văn học. Cuối thu đầu đông năm 1956, tôi đăng truyện ngắn "Mưa đông", đầu xuân năm 1957, tôi viết "Doãn Vi Vi".
"Mưa đông" lấy chất liệu từ một trải nghiệm có thật của tôi. Đầu đông, mưa âm u dần chuyển thành mưa đá, áp thấp, thời tiết tồi tệ. Câu đầu tiên trong truyện ngắn của tôi là "Thời tiết năm nay thật quỷ quái". Xe buýt, đám đông chen chúc, những cái xô đẩy và va chạm thiếu văn minh, tâm trạng u uất. Gần giống như lời than vãn kiểu Chekhov: "Cuộc sống thật dã man làm sao..." - tất nhiên là không có câu y hệt. Lúc này có hai chị em đang vẽ bằng tay trên lớp sương mù của kính cửa sổ xe, vẽ rất đẹp, khiến những hành khách thô lỗ lộ ra nụ cười, xuất hiện một chút ánh sáng tươi đẹp.
Ở đây có Chekhov, lại có cả Tagore: coi trẻ em là thiên sứ, coi sự ngây thơ và tâm hồn trẻ thơ là liều thuốc quý, theo đuổi một sự quay về với bản chất thuần khiết, vui vẻ, như trẻ sơ sinh. Có lẽ sau này nghĩ lại, trong đó còn có Lão Tử: "Năng như anh nhi hồ?" (Có thể như trẻ thơ chăng?), "Như anh nhi chi vị hài" (Như đứa trẻ chưa biết cười).
Tôi viết rất ngắn gọn và tự nhiên. Nó như một bài thơ văn xuôi chảy ra từ nội tâm. Chỉ vỏn vẹn hai nghìn chữ. Viết một mạch là xong, chẳng tốn chút công sức nào. Đúng dịp cuối năm đó, tạp chí "Văn học Nhân dân" biên tập một số chuyên đề về truyện ngắn, mang đi hai tuần thì được đăng. Ước chừng là đã thay thế bài khác để lấy chỗ.
Lãnh đạo Đoàn quận ủy cũ là đồng chí Lưu Lực Bang chuyển cho tôi một lá thư của độc giả, người này rất cảm động về tác phẩm này, và có nhắc đến tài hoa, Chekhov này nọ. Lưu Lực Bang còn đặc biệt dặn dò tôi đọc thư như vậy đừng nên tự kiêu.
Cũng có vài văn hữu khi khen ngợi tác phẩm này lại nói: "Sao trong tác phẩm của cậu lại xuất hiện nỗi buồn nhàn nhạt vậy?"
Điều này e là thật, giữa việc tôi say mê văn học và cuộc sống công việc thực tế mà tôi không hề ngó lơ hay quá hồ đồ, có một sự không hòa hợp, không ăn khớp nào đó, có một sự phân liệt và khó lòng giữ được cân bằng. Lúc này, trải nghiệm và thân phận, cuộc sống và con người, nói đơn giản là chàng trai trẻ Vương Mông nặng 53 kg này đã không thể đè nén nổi văn học nữa, tôi hơi không giữ nổi chiếc xe văn học của chính mình, chiếc xe quái gở, chiếc xe thần kỳ này đang lăn bánh theo hướng thi hóa, mộng ảo hóa, ôn nhu hóa, ngoại biên hóa và tự luyến hóa, tức là hướng siêu thực hóa.
Trong thời kỳ phê phán tôi, W bĩu môi nhắc đến truyện ngắn này, dùng chất giọng mỏng nói: "Sao hai đứa trẻ chỉ vẽ vời một chút mà cả toa xe liền trở nên ấm áp, tươi sáng cơ chứ, thật là khó hiểu, hư vô mờ mịt quá."
Không còn cách nào khác, W là sinh viên đại học, là người phụ trách công tác tuyên truyền của Đoàn ủy thành phố, là người thích đọc sách bao gồm cả sách văn nghệ.
Mãi đến năm 1980, lần đầu tôi sang Mỹ, gặp được Hán học gia Tiến sĩ David Arkush, ngoài việc cho tôi xem luận văn thạc sĩ ông viết hồi còn ở Đại học Harvard mang tên "Bàn về 'Tên cán bộ mới đến tổ chức' của Vương Mông", ông còn photocopy bản dịch tiếng Anh của "Mưa đông" từ thư viện đưa cho tôi, bản tiếng Anh đó được đăng vào năm 1961, do một tạp chí văn học nước ngoài của Tiệp Khắc ấn hành. Thời điểm đó tôi đang làm sản xuất thực phẩm phụ tại Tam Lạc Trang.
Còn về "Doãn Vi Vi", viết vào đầu xuân 1957, mấy ngày đó tôi bị cảm cúm. Đầu tiên là Trương Huyền, sau đó là vài biên tập viên báo chí đến thăm tôi. Do sự can thiệp của Chủ tịch Mao, từ một đứa trẻ nghịch ngợm trong văn đàn, tôi bỗng chốc gần như trở thành đứa con cưng. Một nữ biên tập viên nói thẳng với tôi: "Ban đầu, chúng tôi đọc tác phẩm của cậu (ám chỉ "Tổ chức"), cứ tưởng cậu nghiêm túc và hung hăng lắm, gặp mặt rồi mới biết Vương Mông thực ra rất ngoan." Một nữ biên tập viên khác thấy tôi đang ốm, chẳng nói chẳng rằng liền chạy ra đầu ngõ mua một hộp "Linh Kiều Giải Độc Hoàn" đến.
Trong lúc ốm tôi đọc Lỗ Tấn. Tôi chợt nhớ đến một số phụ nữ trong vòng bạn bè thân thích, họ vốn cũng là đảng viên hoạt động bí mật, là minh viên, là những nhân vật từng hô mưa gọi gió trong phong trào sinh viên, mấy năm nay, đa phần đều kết hôn sinh con, ủ rũ rệu rã, những thói hư tật xấu nhỏ cũng lộ ra không ít. Tôi bèn viết dưới góc nhìn ngôi thứ nhất "tôi", đi thăm người bạn cũ Doãn Vi Vi, phát hiện cuộc sống của Doãn chẳng có chút tươi sáng nào, thậm chí còn bán cả bản thảo thơ Bạch Cư Dị "Hương Sơn Tập" mà cô từng chuyên tâm nghiên cứu thời đại học cho người thu mua đồ cũ. Doãn bận rộn chăm con, khắp phòng đầy tã lót. Thái độ của Doãn đối với bảo mẫu cũng cực kỳ tệ hại. Kết thúc là "tôi" không ăn cơm mà xin cáo từ, lúc tiễn biệt Doãn Vi Vi có chút lay động, nói với "tôi" một câu: "Gió to rồi, dựng cổ áo khoác của anh lên!"
Ở đây có Chekhov, cũng có Lỗ Tấn, ví dụ như "Tại tửu lâu thượng". Giai đoạn này tôi thích những câu thơ của Khuất Nguyên: "Hà tích nhật chi phương thảo hề, nhi kim vi thử tiêu ngải dã, khởi kỳ hữu tha cố hề, mạc hảo tu chi hại dã..." (Sao ngày xưa là cỏ thơm, mà nay lại thành ngải đắng thế này, há chẳng phải vì nguyên cớ khác, mà vì không chịu tu dưỡng bản thân hay sao...). Vậy ở đây cũng có Khuất Nguyên. Hơn nữa, ở đây còn có Giả Bảo Ngọc trong "Hồng Lâu Mộng" nữa chứ, Bảo Ngọc cứ hay cảm thán, những cô gái tốt đẹp, cứ kết hôn là biến thành một người khác.
Hơn nữa, ở đây có Fadeyev và "Đội cận vệ thanh niên". Trong bản thảo thứ hai của "Đội cận vệ thanh niên", tức bản sửa đổi theo ý kiến của Stalin, một đảng viên lão thành là Sulga đến nhà người bạn gái thời trẻ mà ông đã nhiều năm không gặp là Yelizaveta Alexeyevna, ông vốn định nhờ Li-sa giúp đỡ, nhưng Yelizaveta lại than vãn về chính quyền. Sulga bèn chuyển sang tìm một đảng viên khác là Fomin, kẻ luôn miệng nói mọi thứ đều tốt đẹp, kết quả lại bị Fomin phản bội. Theo chỉ thị của Stalin, tác giả cần giải thích một cách thuyết phục tại sao khu vực bị địch chiếm đóng này lại phải dựa vào một đám trẻ con để kháng chiến chống phát xít Đức. Nhưng cảnh gặp gỡ giữa Sulga và Yelizaveta được viết rất cảm động, sự vô tình của thời gian, sự mài mòn của cuộc sống, sự xa lạ của người tình cũ không thành đôi, đôi mắt mờ đục lúc gian nan, kỳ vọng và thất vọng, sự thất vọng sai lầm và sự tự chui đầu vào rọ còn sai lầm hơn nữa, tất cả đều vô cùng lay động. Rõ ràng khi viết về cảnh bạn cũ - người tình năm xưa gặp lại sau bao năm xa cách, tôi đã học tập thủ pháp của Fadeyev.
Tác phẩm này viết còn nông, hơi non nớt. Ban đầu, tôi gửi cho trang phụ bản của báo "Nhật báo Bắc Kinh". Sau đó biên tập viên chịu trách nhiệm là Tân Đại Minh trả lại bản bông, nói là phút cuối tổng biên tập Chu Du quyết định không dùng nữa. Bản thảo chứng minh rằng, biên tập viên đã vâng lệnh sửa rất nhiều chỗ, như việc sửa Doãn Vi Vi từ hai đứa con thành một đứa — lưu ý, lúc đó chưa thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình mỗi cặp vợ chồng một con. Tôi chuyển nó cho "Văn học Nhân dân", các biên tập viên của "Văn học Nhân dân" khôi phục lại tất cả những chỗ mà "Nhật báo Bắc Kinh" đã sửa thành nguyên trạng. Sau đó trong cao trào phản hữu, chính tôi đã yêu cầu dừng lại. Rồi khi cao trào phản hữu sắp qua đi, tôi chủ động nộp ra bản thảo gốc đã bị các biên tập viên sửa cho lộn xộn.
Sự việc phát triển sau đó là, trong thời gian bị phê phán, Doãn Vi Vi trở thành một vấn đề lớn. Nội bộ in thành tài liệu tuyệt mật, từng người một vẻ mặt quỷ dị, dường như đã phạm phải đại sự gì đó.
Một đồng chí tương đối trẻ tuổi hơn, trong bài phát biểu đã nói: "Ngay khi những Doãn Vi Vi đang nhấm nháp nỗi buồn nhỏ bé của họ, thì từng đoàn tàu chở vật liệu xây dựng đang lao vun vút trên đồng bằng, từng cây cầu lớn sừng sững dựng lên, từng nhà máy thủy điện bắt đầu phát điện, từng chiếc máy tiện máy phay mới tinh đang quay tít, từng hợp tác xã nông nghiệp hân hoan giành mùa màng thắng lợi... Cậu và Doãn Vi Vi của cậu, thật nhỏ bé, thật hèn hạ làm sao!"
Đồng chí ấy nói rất đanh thép, hùng biện thao thao bất tuyệt, cực kỳ có sức thuyết phục và tính kích động, tính gợi cảm. Ngoài việc phi logic và hơi tục tĩu ra thì nó phù hợp với mọi yêu cầu.
Mãi đến cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, tôi tình cờ tìm ra bản thảo gốc của "Doãn Vi Vi", tôi đã vận dụng nó vào tác phẩm mới "Chỉ hải câu trầm — Doãn Vi Vi", đăng trên tạp chí "Tháng Mười". Vì điều này tôi còn đạt được giải Gấu Băng của tạp chí "Tháng Mười".
Hai tác phẩm ngắn này là sự kết thúc của một giai đoạn sáng tác của tôi. Tôi muốn gọi chúng là những chương cuối cùng trong giai đoạn sáng tác trước hôn nhân, thời kỳ còn là trai tân của tôi, mặc dù tác phẩm sau có lẽ hoàn thành ngay sau khi mới cưới không lâu. Một thanh niên, dù nam hay nữ, trong thời kỳ ngây thơ và sau khi đã có bạn đời, tâm trạng cảm nhận hoàn toàn khác biệt. Giai đoạn trước, anh ấy hoặc cô ấy khá khó chịu, hơi khoa trương, đắm chìm trong ảo tưởng, lề mề, thường lập luận trên không trung, trữ tình trước gương, kỳ tưởng trong hồi ức và liên tưởng. Còn giai đoạn sau đó thì lại có thể không tìm thấy cảm giác, cạn kiệt tài năng, mắt cao tay thấp, thích làm thầy người khác, sự chế giễu và độc ác dần thay thế cho linh khí và thiện ý...
Có một câu nói mà rất rất lâu sau tôi mới nhận ra: Gió to rồi, gió to rồi, gió to rồi. Là điềm báo chăng? Là trùng hợp chăng? Là lời sấm truyền của văn học? Là trực giác bản năng? Gió lớn nổi lên, mây bay cao, dựng cổ áo lên, khó bình yên!