Khi Vân Mậu đi máy bay lần đầu tiên, anh được xếp cho một chỗ ngồi cạnh lối đi. Sau bao nhiêu lời tốn nước bọt cùng một chiếc thẻ trai giới bằng gỗ tử đàn, anh mới đổi được chỗ ngồi cạnh cửa sổ với người bên cạnh. Hóa ra người ngồi cạnh cửa sổ là một kẻ béo mập, vừa vặn vẹo cơ thể đổi chỗ vừa nói: "Cậu đấy nhé, tôi nhường cậu thì nhường thật, nhưng cậu lại còn nói cái khúc gỗ rách này của cậu là bảo vật gì chứ, nào là công nghệ Càn Long, nào là Cục Tạo Vấn. Người phương Bắc, chưa từng thấy ai không thực tế như cậu."
Vân Mậu không thèm để ý đến hắn. Máy bay cất cánh, nhìn xuyên qua ô cửa sổ, lần đầu tiên Vân Mậu nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành uốn lượn trên sống núi Yên Sơn, lên lên xuống xuống, trái trái phải phải, giống như món đồ chơi của một đứa bé trai vậy.
"Nhìn từ con đường ở quê nhà Lang Phường đúng là khác hẳn, đến cả Tần Thủy Hoàng cũng chưa từng nhìn thấy Trường Thành từ góc độ này." Vân Mậu thầm nghĩ.
Thầy bói trong trấn nói, trong bát tự của Vân Mậu ngũ hành thiếu mộc, còn Vân Mậu từ nhỏ đã thích cỏ cây. Trong trấn chẳng có gì để ngắm, quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy con chó ấy, mấy gương mặt người ấy, cách một hai tháng lại có vài cô góa phụ xinh đẹp lên được dăm bữa nửa tháng, búi tóc chải chuốt láng bóng, ruồi nhặng đậu lên còn chẳng đứng vững nổi, sáu cái chân hì hục bám víu thế nào cũng không chắc, trượt ngã, hít phải dầu thơm rồi bay đi. Thế nhưng những cô góa phụ này biết mình xinh đẹp, mỗi bước đi đều cảm thấy tứ phương tám hướng có người đang nhìn mình, thường thì đi đường cũng chẳng nổi nữa. Cho nên những lúc rảnh rỗi không có việc gì làm, Vân Mậu không ngắm người, mà ngắm cỏ cây.
Ngắm nhiều rồi, Vân Mậu quan sát được rất nhiều chi tiết và sự thay đổi của cỏ cây. Trong làng cây hòe rất nhiều, tụ lại thành rừng, cuối xuân nở hoa trắng và hoa tím, lớp hoa rụng trước phủ lên lớp đất mùn, lớp hoa rụng sau lại phủ lên lớp trước, tích tụ lại có thể dày đến nửa tấc, giẫm lên cứ như đang giẫm trên nền tuyết vậy, chỉ khác là giẫm lên, ngửi kỹ sẽ thấy có mùi thơm của cỏ cây mà tuyết không có. Vân Mậu ngồi trên mặt đất trải đầy hoa hòe, hơi đất ấm áp, xông cho búi trĩ ở hậu môn từ từ co lại, đỡ đau hơn hẳn. Vân Mậu nghĩ, cỏ cây có trăm vẻ, loại cỏ cây nào cũng đẹp, con người cũng có trăm vẻ, nhưng tại sao không phải ai cũng đẹp cơ chứ? Cỏ cây cũng có sinh lão bệnh tử, con người cũng vậy, nhưng tại sao con người lại quyến luyến không nỡ buông tay đến thế? Tại sao cây cối miền Bắc lại ít gỗ cứng thế nhỉ? Tại sao cây cối lại không thể bay vút lên giống như pháo thăng thiên, thoát khỏi mặt đất, bay lên không trung, bay cao hơn cả ngọn núi, cao hơn cả Vạn Lý Trường Thành trên núi, toàn bộ hệ thống rễ giống như nhân sâm bị đào lên, trần trụi giữa không trung cơ chứ?
Một cước hất ngược lên góc bốn mươi lăm độ đá vào mông Vân Mậu, tiếp đó lại bồi thêm một cước nữa, hoa hòe và bụi bặm cùng bay tung tóe, bố Vân Mậu thở hồng hộc nói: "Mày bóp cu xong mày quay tay, mày quay tay xong định học Lâm Đại Ngọc chôn hoa đấy à? Lợn đến giờ cho ăn rồi, đụ má mày."
Trong làng phân thành phần gia đình, các chủ hộ đều tụ tập lại nhà đội sản xuất. Việc phân thành phần không mất nhiều thời gian, mỗi nhà chỉ có ngần ấy gia sản, lại vô cùng minh bạch, nhà mày giết một con gà, hầm lên, gặm xong, xương gà vứt ở cửa, tất cả hàng xóm láng giềng trong vòng một tháng đều bàn tán chuyện nhà mày ăn trọn cả một con gà. Nhà Vân Mậu chưa bao giờ được ăn trọn cả một con gà, là nhà đầu tiên được phân thành bần nông, bố Vân Mậu cảm thấy vô cùng vinh quang, nhưng sau đó phát hiện ra rất nhiều nhà cũng được phân thành bần nông, ông cảm thấy chừng đó vẫn chưa đủ vinh quang, liền lì lợm ngồi ì ở hội trường không chịu đi, so bì xem nhà nào nghèo hơn với những người khác.
"Nhà tôi chỉ có một cái nồi."
"Nhà tôi có một cái nồi bị thủng, cho nên nhà tôi coi như không có nồi."
"Nhà tôi có năm đứa con, không đứa nào qua nổi mười tuổi."
"Nhà tôi có bảy đứa con, không đứa nào qua nổi mười tuổi. Ban đầu có mười bảy đứa, chỉ sống sót được bảy đứa này thôi."
"Nhà tôi mỗi người chỉ có một chiếc quần ra hồn, bốn mùa trong năm, quanh năm suốt tháng, giặt xong chỉ có thể nằm lì trên sảnh kháng, vì không có cái để thay."
"Nhà tôi có chín người, bảy đứa trẻ con, hai người lớn, chỉ có đúng một chiếc quần ra hồn, một người ra ngoài thì tám người còn lại đành nằm lì trên sảnh kháng, vì không có quần để mặc."
Mẹ Vân Mậu nghe thấy, từ trên sảnh kháng trong nhà hét vọng ra hội trường: "Bố con Vân Mậu cái đồ mặt dày nhà ông, mau chóng quay về đây mau, đưa cái quần đây cho tôi, tôi còn phải về nhà ngoại."
Vân Mậu là anh cả trong số bảy đứa con này, đến năm mười tuổi, cậu mới có chiếc quần của riêng mình, cậu muốn đi học.
Bố Vân Mậu nói: "Đi học một tháng mất hai đồng, người ta còn phải ăn cơm nữa chứ? Lấy đâu ra hai đồng này mỗi tháng hả?"
Vân Mậu nói: "Con muốn đi học, con không ăn cơm nữa."
Bố Vân Mậu nói: "Không ăn cơm thì được, nhưng lấy đâu ra hai đồng này mỗi tháng?"
Vân Mậu nói: "Chú và cô đều làm việc trên đường sắt, con đã cầu xin họ rồi, mỗi tháng họ có thể hỗ trợ một ít tiền."
Bố Vân Mậu nói: "Mày đi học rồi thì các em mày lấy gì mà đọc sách, mày chỉ có một người chú, một người cô thế này thôi, không thể cứ đi vay tiền người ta mãi được. Vay nhiều tiền thế, lấy gì mà trả?"
Vân Mậu nói: "Con đi học, con không ăn cơm, để phần cơm cho các em ăn."
Sau khi tốt nghiệp trung học, Vân Mậu trở thành người có học thức nhất trong cả đại đội, được điều về làm kế toán cho đội sản xuất.
Sổ sách của một đại đội không nhiều lắm, những lúc rảnh rỗi, Vân Mậu lại ra khu rừng hòe ấy. Thời gian rảnh rất nhiều, bên cạnh rừng hòe có một con sông chảy qua, trong sông có cá, phần lớn là cá diếc. Vân Mậu thường xuyên ra câu cá, những lúc cá không cắn câu thì tranh thủ chợp mắt. Bên kia sông là một thôn khác, họ giàu có hơn thôn của Vân Mậu, họ có đất tự canh, mỗi hộ có vỏn vẹn không phẩy hai lăm ly, trồng cao lương. Dù cá ngon hơn cao lương nhưng cá dẫu sao cũng không phải là lương thực, có cá không bằng có cao lương.
Vợ đại đội trưởng sinh đôi, hai cậu con trai, ngực vợ đại đội trưởng vốn dĩ đã nhỏ, sữa lại ít, hai đứa con bú vào lại càng không đủ sữa. Vợ đại đội trưởng nói với Vân Mậu: "Đại đội trưởng các anh vốn còn định nếm thử sữa người có vị ra sao, phen này thì hỏng bét con mẹ nó rồi. Mỗi lần hai thằng nhóc này đói, nhìn tôi khóc là tôi lại muốn bóp chết chúng nó rồi nhảy sông tự vẫn. Hai cái đồ đòi mạng này bú mút muốn rút cạn cả người tôi, đầu ti của tôi sắp bị chúng nó bú rụng ra đến nơi rồi đây này."
Vân Mậu đỏ bừng mặt, không dám nghe tiếp xem đầu ti rốt cuộc đã bị bú mút thành ra cái dạng gì nữa. Cậu xách cần ra bờ sông câu cá, tối đến mang số cá câu được trong ngày ra thành phố bán cho những quán ăn cá thể vừa mới manh m sớm hôm sau mua sữa bột, hai đồng bảy một túi, về thôn ngủ li bì qua buổi trưa, ăn vội mấy miếng cơm rồi đến đại đội trưởng.
Đại đội trưởng nói: "Đụ má mày, giờ này mới ló mặt đến đây, mấy giờ rồi hả?"
Vân Mậu nói: "Sữa bột, mua cho con anh đấy. Sau khi hai thằng con anh được bú no nê, biết đâu anh cũng có cơ hội nếm thử vị sữa người đấy."
Vân Mậu đi câu cá ròng rã một năm trời. Tối câu cá, bán cá, sáng ngủ, chiều đến đại đội trưởng quản lý sổ sách. Sáng nào đại đội trưởng cũng khoe với bất kỳ ai gặp mặt rằng sáng nay Vân Mậu ra ngoài làm việc công cho đại đội rồi. Sau này, buổi chiều và buổi tối cũng nói vậy, cứ gặp ai là lại bảo sáng nay Vân Mậu ra ngoài làm việc công cho đại đội rồi.
Một năm sau, Vân Mậu cảm thấy không thể làm cái nghề kế toán câu cá này mãi được.
Sau khi bán cá mua sữa bột, vẫn còn thừa lại một ít tiền, Vân Mậu đều đưa hết cho bố. Giao nộp hơn nửa năm trời, Vân Mậu nói với bố: "Cho con đi học cấp ba là đúng rồi chứ gì? Bây giờ con đã trả hết số tiền đó rồi." Bố Vân Mậu bảo: "Mẹ mày nằm viện, các em mày đau ốm, tính ra nhà mình hiện tại vẫn còn thiếu người ta tổng cộng ba trăm đồng." Vân Mậu nghe xong choáng váng cả đầu óc, ba trăm đồng cơ đấy, có câu cá thêm mười năm nữa cũng chẳng trả nổi.
Hai đứa con trai của đại đội trưởng tròn một tuổi, so với những đứa trẻ một tuổi khác trong thôn, chúng to lớn hơn hẳn một vòng. Sau khi cai sữa, vợ đại đội trưởng mỗi lần gặp Vân Mậu vẫn hay lẩm bẩm: "Chị cứ hay mơ thấy hai đứa nhỏ đói quá, bú lấy bú để muốn lấy mạng chị, đầu ti sắp bị bú rụng ra đến nơi rồi. Chị giật mình tỉnh giấc, sờ thử xem, đầu ti vẫn còn đây, nhưng mồ hôi vã ra lạnh ngắt." Ánh mắt đại đội trưởng nhìn Vân Mậu cũng bắt đầu có vẻ lạ thường, có lần bán được nhiều cá, Vân Mậu mua tặng đại đội trưởng một chai rượu Nghênh Xuân, là loại hương nước tương, Mao Đài Lang Phường. Đại đội trưởng kéo Vân Mậu ngồi uống cùng, uống say mèm, đôi mắt sáng lấp lánh, hỏi Vân Mậu, ngực vợ tao bên to bên nhỏ, vú trái to vú phải nhỏ, sao mày biết hay vậy? Sữa người rốt cuộc có vị gì, mày nói tao nghe thử xem nào?
"Mày đến đây làm gì?" Nhị cữu của Vân Mậu hỏi.
"Con muốn mua hai bao thuốc Hàng Đại, muốn nhờ cậu phê cho một tờ phiếu." Vân Mậu đáp.
"Thuốc Hàng Đại á? Đắt lắm đấy, bốn hào tư một bao, thằng ranh con nhà mày có tiền không hả?" Nhị cữu hỏi dồn.
"Có ạ." Vân Mậu đáp gọn lỏn.
"Mày có hút thuốc đâu cơ chứ, mày chỉ lêu lổng lang thang, nghe dăm ba cái bài hát lưu manh, chứ có hút thuốc bao giờ đâu, mày mua thuốc làm gì?"
"Con không muốn làm kế toán đại đội nữa, con muốn lên huyện học nghề thu mua đồ cổ. Lần trước đi huyện làm việc giúp đại đội, con thấy mấy sư phụ lớn tuổi ở trạm văn vật huyện thu mua đồ cổ do người ta mang đến nộp, nghe nói sau đó họ sẽ đem đi Bắc Kinh và Thiên Tân. Sư phụ đó toàn đếm tiền mệnh giá mười tệ, mười tệ một! Nhà mình nợ tiền người ta, nhiều tiền lắm, quá nhiều tiền luôn, con mà làm kế toán đại đội thì ba đời cũng chẳng trả hết nợ, con muốn học thu mua văn vật. Con mang thuốc ngon biếu sư phụ, chắc là sư phụ sẽ chịu dạy con thôi."
Sư phụ tuyệt đối không thèm cho Vân Mậu bước chân qua cửa trạm văn vật. Vân Mậu liền dâng một điếu thuốc Hàng Đại, sư phụ nhận lấy, châm hút, Vân Mậu lại dâng tiếp điếu nữa, sư phụ lại nhận hút tiếp, nhưng vẫn không cho cậu bước vào cửa. Vân Mậu sang quán bên cạnh mua một chiếc bánh nướng, ngồi thừ ra ở bậc thềm trước cửa trạm văn vật, ăn cho no căng bụng. Có rương hòm và đồ đạc cần khiêng vác, Vân Mậu lập tức xắn tay áo giúp một tay. Xích xe đạp bị tuột, Vân Mậu liền giúp lắp vào tử tế. Sư phụ rảnh rỗi, ngồi ở bậc thềm đánh cờ tướng, Vân Mậu liền đứng bên mớm nước đi, giúp sư phụ thắng liền mấy ván. Sư phụ đi ra ngoài, ngài đi đến đâu, Vân Mậu bám theo sát gót đến đấy, sư phụ vào hợp tác xã mua kem đánh răng, Vân Mậu đứng trân trân nhìn sư phụ móc ví. Sư phụ ngoảnh đầu nhìn mấy cô góa phụ trên phố, Vân Mậu liền cười hề hề với các cô ấy. Sư phụ đi vệ sinh, Vân Mậu cũng theo vào nhà vệ sinh, sư phụ đi tiểu, Vân Mậu cũng đứng tiểu chung, sư phụ vẩy vẩy con cu, Vân Mậu cũng bắt chước vẩy vẩy con cu.
Sư phụ cáu kỉnh nói: "Đụ má mày chứ, mày đầu thai thành quỷ ám hả, sao cứ bám theo tao mãi thế hả? Đừng có bám theo tao đi tè nữa, theo tao đi thu mua đồ vật đi, đứng ở một bên mà xem cho kỹ, nghe cho nhiều, ngẫm cho thông lý do vì sao, đừng có mà nhiều lời."
Vân Mậu khi đi học đã hình thành một thói quen, cảm thấy chuyện gì đáng ghi nhớ thì sẽ tìm một cuốn sổ để ghi chép lại.
Những dòng chữ dưới đây được trích ra từ sổ tay của Vân Mậu.
"Món đồ cổ đầu tiên thu mua được là một chiếc gối sứ. Nền trắng, họa tiết màu nước tương, hoa cỏ. Sư phụ bảo đây là đồ lò Từ Châu, đời Tống. Tôi hỏi sao ngài biết chắc thế, lỡ đâu là đời Nguyên, đời Minh, đời Thanh, đời Dân Quốc, hay của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì sao? Sư phụ chửi tôi một trận te tua, bảo rằng, mày làm sao phân biệt được ngựa với lừa? Mày làm sao phân biệt được cây hòe với cây liễu? Mày làm sao biết bố mày thích đụ lồn chứ không phải đụ đít? Tôi nghe xong, đại khái là hiểu được phần nào, nhưng hình như vẫn chưa thông suốt lắm. Chỉ có điều tôi biết cực kỳ rõ ràng, chiếc gối sứ này đã mang lại cho tôi khoản lời tám mươi đồng, tôi đi câu cá bán cá ròng rã một năm trời cũng chẳng để dành được số tiền lớn đến thế này đâu nhé! Tờ tiền lớn mệnh giá mười tệ, tận tám tờ, tờ nào trông cũng đẹp mắt như tờ nào, đẹp hơn hẳn những tờ tiền một tệ và một hào nhiều lắm."
"Liên tiếp ba ngày liền ở vùng quê chẳng có hàng quán nào bán đồ ăn, mãi đến tận mười giờ tối quay về nhà tôi mới được ăn bữa cơm đầu tiên trong ngày."
"Có chuyến đi Sơn Đông, bị tống vào đồn công an và trạm biên phòng tận ba lần. Mỗi ngôi làng ven biển đều có nhân viên biên phòng, hễ thấy kẻ nào khả nghi là tóm cổ ngay lập tức coi như đặc vụ Đài Loan. Tôi thanh minh rằng tôi nói giọng Hà Bắc cơ mà, đừng bắt tôi chứ. Họ bảo, đặc vụ Đài Loan dạo gần đây toàn chuyên tâm học nói giọng Hà Bắc để tiện bề lẻn vào thủ đô Bắc Kinh vĩ đại. Tôi đưa giấy giới thiệu của cửa hàng văn vật Thiên Tân, cửa hàng hữu nghị Bắc Kinh ra cho họ xem, họ chưa từng thấy bao giờ, liền vặn lại, sao biết được đây không phải là giấy tờ do Đài Loan làm giả? Bị áp giải vào đồn công an và trạm biên phòng, mấy ông mặc quân phục cầm giấy giới thiệu của tôi lên xem, liền bảo, ây da, mày sớm đưa cái này ra thì có chuyện gì đâu chứ? Thế là họ thả tôi đi. Thật ra, nếu họ bắt tôi khai nhận, cái gì tôi cũng sẽ khai ra ngay tức khắc ấy chứ. Cái roi điện kia kìa, chưa bị đánh lần nào nhưng chỉ nhìn thôi đã thấy thốn cả đít rồi. Lần đầu tiên bị áp giải vào trong đó, nghe thấy tiếng la hét thảm thiết phát ra từ căn phòng bên cạnh, sau đó có một viên công an bước ra, hắn cười tủm tỉm với tôi, thú thực lúc đó tôi són cả ra quần. Mặc quần bông dày cộm nên bề ngoài không nhìn thấy được, nhưng con cu thì biết thừa. Tôi bắt đầu hoài nghi phim ảnh. Những nhân vật điệp viên ngầm được miêu tả trong phim, chịu đựng đủ mọi cực hình mà vẫn cắn răng không khai nửa lời, liệu có thật trên đời này không cơ chứ? Nếu mà tôi bị bắt, chắc chắn tôi không thể chịu đựng nổi đòn roi tra tấn đâu, chỉ cần đưa dụng cụ tra tấn ra dọa thôi là tôi khai tuốt tuột rồi. Cho nên, tôi tuyệt đối không thể làm điệp viên ngầm được. Tôi tự đặt ra cho bản thân một quy tắc sống còn, để không phải ngồi tù, tôi tuyệt đối không được nhúng tay vào những món đồ vừa mới đào trực tiếp từ trong mộ ra, đồ xuất thổ thì kiên quyết không nhận, chỉ nhận những món đồ được lưu truyền qua nhiều đời, đã qua tay vài đời chủ."
"Vương Đại Văn thuê năm chúng tôi xuống nông thôn thu mua đồ cổ đồ gỗ, không phân biệt lớn nhỏ, cứ mỗi món là hai đồng. Tôi đứng nhìn người ta khiêng đồ đạc từ trong nhà ra, từng món, từng món một, đứng chết trân ở ngưỡng cửa mà đôi chân run lẩy bẩy, chỉ sợ chủ nhà đổi ý không bán nữa. Có nhà gom được nhiều nhất, người ta khuân ra tận năm cặp ghế khoanh từ trong cái lều bên cạnh chuồng lợn. Lần thứ hai tôi đến nhà ông ta, ngồi trò chuyện mới hỏi sao nhà ông nhiều đồ thế này thế nọ. Ông ấy bảo, toàn là đi thu mua gom góp trong thành phố hồi phá tứ cựu đấy cả. Hồi đó giá rẻ mạt, một cặp ghế khoanh có chạm trổ hoa văn tinh xảo giá có năm đồng, hoặc chỉ cần đổi mấy cân cao lương là xong. Không bán á? Giữ lại trong thành phố thì chỉ có nước rước họa vào thân. Đồ gỗ tốt thế này, ở nông thôn xưa nay hiếm thấy, đừng có mà dại dột. Chỉ có trí thức và mấy ông quan trong thành phố mới chuộng mấy thứ này, địa chủ nhà quê có tiền cũng chỉ biết đầu tư mua đất thôi. Bọn trí thức cũng thật đáng thương, trời nóng nực không dám cởi trần phô ngực, trời lạnh thì con cu bị cước sưng vù lên, ngồi trên chiếc ghế gỗ cứng đàng hoàng tử tế thế này mà còn bị người ta mác tội muốn phục bích, trốn đằng nào cũng không thoát khỏi cảnh bị người ta đụ cho nhừ tử. Nhưng tôi lại thích họ, họ rất khác biệt, có linh khí, lại vô cùng quật cường."
"Đã từng thu mua qua biết bao nhiêu món đồ gỗ cao cấp. Mặt bàn được cẩn toàn sứ thanh hoa nung, xung quanh viền bàn chạm trổ dày đặc hoa văn hồi văn và rồng quấn. Gỗ hoàng hoa lý đẹp làm sao, toàn là những mắt gỗ sần sùi u bướu hình mặt quỷ."
"Đại đội trưởng về hưu rồi, cứ nằng nặc bắt vợ mình đi làm cùng tôi, lão ta thì ở nhà rảnh rỗi không thèm làm gì, bắt vợ ra ngoài kiếm tiền rồi về mua rượu Nghênh Xuân cho lão uống. Vợ đại đội trưởng than thở rằng từ ngày đại đội trưởng về hưu chẳng có việc gì làm nên cứ hở ra là thượng cẳng chân hạ cẳng tay đánh đập bà ta, tiện thể lại lôi chuyện cái đầu ti ngày trước khổ sở thế nào ra kể lể. Tôi bảo thẳng là tôi không muốn nghe. Nếu mụ ta cứ cố tình nhắc đi nhắc lại chuyện bị chồng đánh hay chuyện đầu ti đau đớn ra sao thì đừng có theo tôi đi làm nữa. Sau này, có chuyến đi Sơn Tây thu mua đồ sứ, đồ bạc và đồ vàng, dọc đường gặp chốt kiểm tra xe cộ, vợ đại đội trưởng là người chịu thương chịu khó, cứ nhét thấu những món đồ có giá trị vào sâu trong ngực áo. Lúc bấy giờ tôi mới vỡ lẽ ra, ngực vợ đại đội trưởng quả thực bên to bên nhỏ, vú trái to vú phải nhỏ thật. Số đồ vàng và đồ bạc lôi ra từ chiếc áo lót bên phải của mụ ta nhiều hơn hẳn so với phía bên trái."
Số tiền kiếm được, Vân Mậu cứ thế tích lũy lại, chưa từng tiêu xài hoang phí. Ngoại trừ đại đội trưởng ra, hầu như chẳng ai hay biết chuyện này. Vân Mậu từng nghiêm khắc cảnh cáo đại đội trưởng, nếu dám hé môi nửa lời chuyện tôi kiếm được bộn tiền ở bên ngoài, tôi sẽ cho ông cả đời này không bao giờ được ngửi thấy mùi rượu Nghênh Xuân nữa. Vân Mậu thầm nghĩ, đợi đến khi tiền tích góp được thật nhiều, sẽ đem ra tiêu một trận hoành tráng, giống như hoa hòe rụng kín mặt đất ven sông dày đến nửa tấc, ngả mông ngồi phịch xuống một cái thật đã đời.
Khu đất xây nhà của gia đình Vân Mậu nằm ngay trục đường chính giữa thôn. Đêm mùng Sáu tháng Giêng, Vân Mậu lôi chiếc bao tải dứa đựng đầy tiền mặt dưới hầm ngầm ra, đặt lên cân để cân thử, nặng trịch, đếm đi đếm lại mà đếm mãi không hết nổi. Trăng tròn vành vạnh, to và sáng hơn cả đèn đường, Vân Mậu ngồi phịch lên chiếc bao tải dứa chứa tiền, trầm ngâm châm liền hai điếu thuốc hút. Mấy năm gần đây ăn nhiều ớt quá, bệnh trĩ ngày càng hành hạ đau đớn, cứ đến ngày trăng tròn đi đại tiện là máu tươi chảy đầm đìa.
Vân Mậu cho xây dựng một tòa nhà lầu hai tầng ở phía sau căn nhà cũ, ngốn hết năm vạn tám, tường bên ngoài ốp kín gạch men bóng loáng. Gạch men một đồng sáu một viên, sáng bóng soi gương được, hiện tại thôn trưởng, trấn trưởng, khu trưởng đều đến tham quan, chụp ảnh, uống trà. Thôn trưởng bảo, chói lóa mắt quá, lần sau đến chắc phải đeo kính râm thôi. Vân Mậu muốn xây một tòa lầu ba tầng ở phía trước ngôi nhà, bố Vân Mậu liền mắng: "Mày bị tiền nung cho lú lẫn rồi à? Cháy xém cả lông cu rồi hả? Tao còn muốn sống thêm mấy năm nữa đấy, nhà chúng ta mà xây tòa nhà cao nhất thôn này thì trời có sập xuống cũng đè chết kẻ đứng cao nhất đầu tiên." Vân Mậu chợt nhớ đến Bắc Kinh nơi cậu vẫn hay lui tới, liền cho xây dựng một căn tứ hợp viện hai gian ở phía trước căn nhà cũ. Người trong làng chưa từng thấy kiểu nhà này bao giờ, liền bàn tán xôn xao rằng nhà họ Vân gây nghiệt quá nhiều, tiền nhiều quá không biết tiêu vào đâu nên mới gom tiền xây đền chùa đấy. Vân Mậu thầm mắng trong lòng, đụ má chúng mày.
Số tiền còn lại, Vân Mậu mua hẳn hai chiếc xe máy Honda 125, mỗi chiếc giá một vạn tư, cả huyện chỉ có đúng ba chiếc mà một mình Vân Mậu ở cái thôn này đã ôm trọn hai chiếc, một mình cậu sở hữu cả hai chiếc xe.
Bác cả của Vân Mậu đét đét vào tấm chắn bùn chiếc Honda 125, lớn tiếng mắng nhiếc: "Thằng ranh con nhà mày sắp gặp họa to rồi đấy, Đảng sắp ra tay trừng trị mày rồi kìa! Chính phủ sắp ra tay thu thập mày rồi đấy! Đảng cười hì hì một tiếng là dọn dẹp được mày ngay, chính phủ cười hì hì một tiếng là tóm cổ mày liền, mày có tin không?"
Sau khi buôn bán đồ cổ đồ gỗ được ba mươi năm, đôi mắt của Vân Mậu đã mờ đục, chiếc ghế đẩu gập bằng gỗ hoàng hoa lý thời cuối nhà Minh mà hồi trẻ cậu mua với giá năm hào nay đã được bán đấu giá lên tới một triệu rưỡi, Vân Mậu quyết định gác kiếm quy ẩn không làm nữa.
Dòng cuối cùng trong nhật ký công việc của Vân Mậu ghi chép lại thế này: "Bây giờ ai nấy đều khoe là đã trở nên giàu có, nhưng thế này thì không thể gọi là giàu có được, đây gọi là đời trước ăn mòn xương tus, đời sau gặm mút máu con cháu."
Nhà nhà trong thôn đều đua nhau xây nhà theo kiểu đền chùa, tường nhà đâu đâu cũng dán gạch men, đến cả nhà vệ sinh công cộng cũng ốp gạch men nốt. Vân Mậu đập bỏ tòa nhà lầu hai tầng ở phía sau nhà cũ đi, cơi nới xây lại thành tòa nhà bốn tầng, trên đỉnh tòa nhà bốn tầng còn thuê thợ dùng gạch cũ xây dựng thành những ô cửa hoa thị hình chiến lũy giống hệt như Vạn Lý Trường Thành. Ngày dọn vào nhà mới, lão đại đội trưởng cùng vợ lão đều đến chung vui, hai đứa con trai của bọn chúng nay đã lớn phổng phao mà vẫn chứng nào tật nấy, hưng phấn chạy nhảy lung tung khắp tòa nhà bốn tầng. Vân Mậu uống liền nửa cân rượu Nghênh Xuân. Lão đại đội trưởng thắc mắc hỏi, mày rảnh hơi đâu mà đi xây cái Trường Thành làm gì thế hả? Định phòng thủ ai đấy? Đảng à? Chính phủ phăng teo à? Mày đang mộng mị cái quái gì thế? Vân Mậu đáp, uống say vào rồi, tao nói cho mày nghe một câu thật lòng thế này nhé, lúc trước chúng mày xúm lại châm chọc mỉa mai tao xây đền chùa là chơi ngông làm trái lương tâm, thế mà giờ đây chẳng phải nhà nhà đều đua nhau xây đền chùa đấy thôi? Chúng mày xây đền chùa, thì tao xây Vạn Lý Trường Thành, tao chính là Tần Thủy Hoàng đấy, chúng mày vẫn cứ phải gọi tao bằng ông nội, vẫn mãi chỉ là đám cháu chắt mà thôi, dân trí thức trong thành phố người ta gọi đây là lợi thế người đi đầu đấy nhé.
Sau khi gác kiếm không buôn bán đồ cổ đồ gỗ nữa, Vân Mậu bắt tay vào làm hai việc.
Thứ nhất, tự tay thiết kế một số món đồ gỗ dùng riêng cho bản thân, toàn bộ đều làm bằng gỗ hoàng hoa lý, gỗ đỏ và gỗ cẩm lai. Một bàn cờ, một mặt là bàn cờ vây, một mặt là bàn cờ tướng. Một chiếc bàn uống trà, hai chiếc ghế, thoạt nhìn giống kiểu đời Minh mà lại chẳng phải kiểu đời Minh, nghĩ đến Đảng và chính phủ, Vân Mậu cho khắc hai dòng chữ bên hông bàn trà: Uống nước nhớ nguồn, Vân Mậu giám chế. Một chiếc ghế Vân Mậu, có thể tùy chỉnh độ ngả của gác chân và tựa lưng, vừa có thể ngồi, vừa có thể nằm, lật người úp sấp bám chặt lấy tay vịn ghế, có thể bung nở rực rỡ những đóa hoa hậu viên.
Thứ hai, giúp một gã đàn ông gầy gò hiện thực hóa một số ý tưởng thiết kế của hắn. Gã gầy gò người nhỏ thó nhưng lại có niềm đam mê cuồng nhiệt với những vật thể khổng lồ. Thu mua một nghìn chiếc giường cổ bày xếp cạnh nhau, một nghìn chiếc ghế cổ bày xếp cạnh nhau, một nghìn cánh cửa gỗ bày xếp cạnh nhau. Bốn tấn gỗ hoàng hoa lý cắt thành những thanh nhỏ, dùng kỹ thuật mộng âm dương ghép lại thành bản đồ Tổ quốc không gian ba chiều. Bốn tấn gỗ hoàng hoa lý làm thành những chiếc tủ sách chia ô dùng chung của thập niên năm mươi, sáu mươi mà không dùng đến dù chỉ một chiếc đinh. Vân Mậu lờ mờ cảm nhận được tài năng nguyên thủy tiềm ẩn ở gã gầy này, nhưng vẫn chưa thể hoàn toàn xác định được liệu gã gầy này đang khai thiên lập địa hay chỉ đang lãng phí gỗ lậu mà thôi.
Ở hai việc này, Vân Mậu lần đầu tiên cảm nhận được niềm vui sướng của sự sáng tạo. Ngay tại xưởng chế biến đồ gỗ của riêng mình, ngửi thấy mùi chua nhè nhẹ tỏa ra khi cây gỗ hoàng hoa lý Việt Nam bị lưỡi cưa xẻ đôi, cậu lại nhớ đến mùi hương hăng hắc dịu nhẹ khi hoa hòe chớm nở vào đầu mùa. "Đừng nói đến Tần Thủy Hoàng, ngay cả Càn Long cũng chưa từng dùng qua bộ bàn trà bằng gỗ đỏ phối gỗ hoàng hoa lý đỉnh cao thế này, càng chưa từng được ngồi lên chiếc ghế Vân Mậu." Vân Mậu thầm nghĩ.
Vân Mậu chợt nhớ đến khoảnh khắc ngồi máy bay lần đầu tiên trong đời. Máy bay bay lượn ổn định trên độ cao vạn mét, bên ngoài ô cửa sổ khoang khách là những đám mây trôi bồng bềnh. Gã đàn ông béo mập ngồi bên cạnh với vẻ mặt thống khổ cất giọng nhỏ xíu hỏi Vân Mậu: "Tôi muốn ra ngoài, cậu bảo bây giờ phải làm thế nào đây? Tôi muốn đi tè, tôi muốn đi ỉa, nhưng mà ở nhà xí công cộng quen rồi, cái nhà vệ sinh chật hẹp quái quỷ trên máy bay này không có ai đứng bên cạnh là tôi không sao tiểu được, không sao đại tiện nổi. Cửa phòng mà cứ đóng kín mít thế này, tôi thấy bức bối ngột ngạt lắm, tôi muốn ra ngoài, cậu bảo, phải làm sao bây giờ?"
Vân Mậu đáp lại gã béo ngồi bên cạnh rằng: "Trên máy bay có tận hai cửa thoát hiểm đấy, anh cứ thương lượng tử tế với cô tiếp viên hàng không xem sao, biết đâu anh lại được ra ngoài hít thở không khí trong lành đấy. Sau khi ra ngoài rồi, anh cứ thế rơi thẳng xuống dưới, chẳng mấy chốc là anh sẽ nhìn thấy Vạn Lý Trường Thành ngay thôi."