Tác giả bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" là Hoàng Công Vọng, bức tranh bắt đầu được sáng tác vào năm Chí Chính thứ bảy nhà Nguyên (1347), mất ba năm, mãi đến năm Chí Chính thứ mười nhà Nguyên (1350) mới hoàn thành. Tương truyền rằng bức tranh này được họa sĩ Hoàng Công Vọng vẽ khi đã bước sang tuổi tám mươi, dành cho Vô Dụng Sư – người sư đệ cùng tu đạo với ông. Toàn bức tranh thanh tao nhã nhặn, khí độ bất phàm, cảnh vật trong tranh lấy non nước Chiết Giang làm gốc, nhưng không câu nệ phong cảnh thực tế của Chiết Giang, bút pháp phóng khoáng, là kiệt tác vẽ cạn kiệt huyền cơ năm tháng non sông, được công nhận là tác phẩm tiêu biểu của Hoàng Công Vọng.
Bản thân họa sĩ Hoàng Công Vọng, tự Tử Cửu, hiệu Nhất Phong, Đại Trì Đạo Nhân, người Thường Thục, Giang Tô. Ông giỏi vẽ phong cảnh, khéo miêu tả cảnh quan thiên nhiên Giang Nam. Phong cách tranh của ông chủ yếu dùng thủy mặc, thiển giáng (màu đỏ nhạt), cùng với Ngô Trấn, Vương Mông, Nghê Tản được gọi là "Nguyên tứ gia". Ông vốn là một thư lại của Chiết Tây Liêm Phóng Ti, do liên lụy trong vụ án tham nhũng của cấp trên mà bị vu oan vào ngục. Ra tù, ông đổi hiệu là "Đại Trì", sau đó được bậc tôn sư phái Toàn Chân Nam Tông đạo gia có biệt hiệu là "Kim Bồng Đầu" là Kim Nguyệt Nham điểm hóa, từ đó sùng kính đạo giáo, mây trôi bốn phương, tự vui bằng thơ họa, từng dùng nghề phong thủy, xem tướng, bói toán để kiếm sống.
Hoàng Công Vọng bắt đầu vẽ tranh khi đời người đã qua tuổi tráng niên, nhưng do những năm tháng lận đận trắc trở, khi học tranh ông đã sớm thấu triệt sự đời lạnh ấm, cho nên trái lại có thể dùng gò đống trong lòng để vẽ muôn vàn non nước. Tương truyền non nước do ông vẽ, không có cảnh nào là không thân lâm thể nghiệm, cho đến những gò đống khe suối cuối cùng đặt bút trên tranh, nhất định phải đòi hỏi vét sạch cái thú kỳ lạ sâu thẳm của thế gian. Bút pháp của ông thuở đầu học phái Đổng Nguyên, Cự Nhiên thời Ngũ Đại đầu Tống, sau chịu ảnh hưởng sâu sắc của Triệu Mạnh Thủ, giỏi dùng nét Phất Ma Sướt bút ướt. Phong cách của ông được giới họa sĩ đời Minh Thanh hết sức tôn sùng, nên được ca ngợi là đại gia "không phụ lòng mong mỏi nhất" trong "Nguyên tứ gia". Ngoài ra, Hoàng Công Vọng ngoài việc vẽ tranh, còn để lại một số trước tác như "Tả Sơn Thủy Quyết", "Luận Họa Sơn Thủy", v.v., đều đủ để làm lời châu ngọc soi đường cho các thế hệ họa sĩ đời sau.
Tranh sơn thủy của ông đại khái có hai phong cách: Một kiểu vẽ màu thiển giáng, đầu núi lắm đá, thế bút hùng vĩ; một kiểu vẽ thủy mặc, nếp nhăn ít hơn, ý bút giản dị xa xôi phóng khoáng, thể hiện đầy đủ tư tưởng "gửi hứng vào tranh" và hiệu quả bút mực "đậm đà hoa nhu".
Bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" nguyên bản là một cuộn tranh sơn thủy dài 33 cm, rộng 636,9 cm. Bố cục toàn tranh trải rộng từ mặt phẳng ra chiều sâu, không gian vô cùng tự nhiên, khiến người ta cảm thấy chân thực và gần gũi, kỹ thuật bút mực bao gồm sở trường của các bậc tiền bối, lại có sáng tạo riêng, dùng thêm sắc nâu nhạt để tô điểm, đây chính là "pháp thiển giáng" do Hoàng Công Vọng sáng lập. Toàn bức tranh giản dị mẫn tiệp, hư thực nương vào nhau, có cái diệu "sen mọc từ nước trong, tự nhiên không cần gọt giũa", tập trung thể hiện đặc sắc nghệ thuật hội họa của Hoàng Công Vọng và mưu cầu tinh thần muốn rũ bỏ phiền não trần thế mà chỉ cầu cõi lòng thiên địa có sẵn cảnh vật thích hợp. Trong số các văn nhân mặc khách đời sau, để giải thích ngắn gọn súc tích mà nâng tầm bức tranh này với bách tính chốn hồng trần, cũng không thiếu người ca ngợi bức tranh này là "Lan Đình trong tranh".
Từ đời Nguyên đến nay, các bậc thư họa gia, nhà sưu tập, nhà giám thưởng qua các thời đại, thậm chí cả hoàng đế Càn Long nhà Thanh tự xưng là "Thập Toàn Lão Nhân" đều tôn sùng bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" tột bậc, lấy việc được tận mắt nhìn thấy bức chân tích này làm vinh hạnh. Điều này khiến cho cuộn bảo đồ vừa được ca ngợi hết lời, vừa khó tránh khỏi những thăng trầm dâu bể.
Năm 1350, Hoàng Công Vọng đề bút tặng bức tranh này cho Vô Dụng Thượng Nhân. "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" từ đó có vị chủ nhân đầu tiên, cũng bắt đầu từ đây hành trình lận đận hơn sáu trăm năm trên cõi nhân gian. Khi bức tranh này mới hoàn thành, Vô Dụng Thượng Nhân từng "lo lắng có kẻ dùng thủ đoạn khôn khéo cướp đoạt". Kết quả quả nhiên bị ông nói trúng. Căn cứ vào lời đề từ trên tranh tham khảo các tài liệu lịch sử khác, bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" trong hơn ba trăm năm từ cuối thời Nguyên đến đầu thời Thanh, đã lần lượt được Trịnh Xử (Vô Dụng Sư), Phàn Thuấn, Đàm Chí Y, Đổng Kỳ Xương, Ngô Chính Chí và nhiều người khác sưu tập.
Thời Thuận Trị nhà Thanh (1644-1662), con cháu nhà họ Ngô, nhà sưu tập người Nghi Hưng là Ngô Hồng Dụ có được lại càng vô cùng trân quý. Sách "Âu Hương Quản Họa Bạt" của Uẩn Nam Điền chép lại rằng: Ngô Hồng Dụ vào thời điểm quân Thanh nhập quan, vứt bỏ gia sản sang một bên, duy chỉ mang theo bên mình bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" và "Chân tích Chân thư pháp sư Trí Vĩnh" để chạy nạn.
Giữa những lời đồn thổi thật giả lẫn lộn, Ngô Hồng Dụ sau đó vì quá yêu mà hóa ma, trước lúc lâm chung từng lệnh cho người nhà đốt bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" và bộ kinh thư thần phẩm một đạo một tăng này để tuẫn táng theo mình. Kết quả, "hôm trước đốt 'Thiên Tự Văn chân tích', tự mình nhìn tận mắt nó cháy rụi. Hôm sau liền đốt 'Phú Xuân Sơn Cư Đồ', lúc tế rượu để bỏ vào lửa, đợi lửa cháy lớn, Hồng Dụ liền quay về phòng ngủ". Đúng lúc bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" sắp sửa thành tro bụi, trong đám con cháu nhà họ Ngô đột nhiên lao ra một người, "lao nhanh đến chỗ lửa cháy", chộp lấy bức tranh trong lửa dùng sức vung lên, "lò hồng vung tay lấy ra", sống chết cứu được bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" ra ngoài. Người này là một người cháu gọi Ngô Hồng Dụ bằng bác, tên là Ngô Tĩnh Am (tự Tử Văn). Hơn nữa để che mắt thiên hạ, hắn còn nảy ra ý hay ném một bức tranh khác vào lửa để đánh tráo.
Đáng tiếc là bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" tuy được Ngô Tĩnh Am cứu khỏi ngọn lửa, nhưng ở giữa tranh lại bị lửa thiêu ra mấy lỗ thủng liền nhau, từ đó đứt thành hai đoạn lớn nhỏ. Đoạn đầu của cuộn tranh dài cũng đã bị thiêu rụi, may mắn là phần còn sót lại cũng chi chít vết cháy.
Từ đó, quốc bảo hiếm có trên đời "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" tách làm hai.
Tương truyền đoạn nhỏ sau khi được đệ tử nhà họ Ngô là Ngô Ký Cốc lấy được, đã cẩn thận bóc phần bị cháy đem ghép nối lại lần nữa, không ngờ lại hiện ra cảnh một núi, một nước, một gò, một khe, hầu như không nhìn ra là do cắt xén rồi ghép lại. Cuộn này được người đời sau gọi là Thặng Sơn Đồ. Còn đoạn kia giữ lại nội dung chủ thể của bức tranh gốc, khi đóng khung để che giấu vết cháy, đã cố tình cắt phần đề bút của Đổng Kỳ Xương vốn ở cuối tranh đem đặt lên đầu tranh, đây chính là cuốn Vô Dụng Sư cuộn mà hoàng đế Càn Long có được sau này.
Đến đây, bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ" vốn là một cuộn tranh sơn thủy dài, đã bị chia cắt thành hai cuộn dài ngắn là "Phú Xuân Sơn Cư Đồ - Thặng Sơn Đồ" và "Phú Xuân Sơn Cư Đồ - Vô Dụng Sư cuốn".
Hồi tưởng lại một cách thật tỉ mỉ những thông tin cơ bản trong đầu có liên quan đến "Phú Xuân Sơn Cư Đồ", Hồ Lâm Nan phát hiện ra Tiêu Cẩm Hán nãy giờ cứ trốn trong phòng trọ không biết đang gọi điện thoại với ai vậy mà vẫn chưa nói xong chuyện với đối phương. Giơ tay xem đồng hồ, đã 23 phút rồi.
Thời gian trôi qua từng chút một, cảm xúc của Hồ Lâm Nan đối với cuộc điện thoại vừa rồi từng phá vỡ khoảnh khắc lúng túng giữa anh và Lâm Vũ Yên một cách đúng lúc vô cùng, từ sự biết ơn ban đầu đã dần dần biến thành chán ghét.
"Cộc, cộc, cộc", Hồ Lâm Nan thiếu kiên nhẫn run run cái chân trái của mình, gót chân anh đập xuống nền gạch, kêu lốp bốp.
Tiêu Cẩm Hán ở trong phòng trọ, nghe thấy tiếng động Hồ Lâm Nan vô tình phát ra lúc này, bèn dùng chân đẩy hé cửa phòng trọ. Cậu ta vừa dùng tay che vị trí micro ở phía dưới ống nghe, vừa thò nửa người từ sau cửa ra, nở một nụ cười xin lỗi với Hồ Lâm Nan.
"Xin lỗi nhé!" Tiêu Cẩm Hán không tiếng động mấp máy môi vài cái.
Hồ Lâm Nan liền với vẻ mặt cáu kỉnh chỉ vào đồng hồ của mình đối diện Tiêu Cẩm Hán. Thấy tình hình này, Tiêu Cẩm Hán đành liên tục gật đầu nịnh nọt cười trừ cầu xin Hồ Lâm Nan thông cảm.
"Anh yêu, anh cứ vào trong phòng bận việc của anh đi, để ở đây em tiếp đón Lâm Nam tiên sinh." Lâm Vũ Yên từ trong phòng vệ sinh bước ra, ngọt ngào mỉm cười sà cả người vào vai vị hôn phu Tiêu Cẩm Hán, khẽ thổi câu nói này vào tai người đàn ông của mình. Đồng thời, cô ta lại liếc xéo đầy ẩn ý về phía Hồ Lâm Nan đang ngồi đứng không yên.
"Anh trước kia đã từng ân ái triền miên với em rồi, nói thế nào thì cũng là anh chiếm tiện nghi của Tiêu Cẩm Hán, lúc này chẳng qua chỉ đợi anh ta một lát, anh có gì mà phải thiếu kiên nhẫn cơ chứ?"
Một thứ sự ăn ý ngầm không nói ra, khiến Hồ Lâm Nan lập tức đọc hiểu ý trong mắt Lâm Vũ Yên. Thế là, Hồ Lâm Nan dẫu không cam tâm nhưng rốt cuộc đành phải cố nén sự cáu kỉnh của mình xuống.
"Cảm ơn em, anh yêu." Tiêu Cẩm Hán biết ơn cười với Lâm Vũ Yên, sau đó hôn phớt qua một cái lên mặt Lâm Vũ Yên rồi lại tự chuồn về phòng trọ đóng cửa lại tiếp tục cuộc điện thoại vô cùng thần bí của mình.
"Cuối cùng cô cũng bận xong đại sự trăm năm cải tạo mặt mũi mà phụ nữ các cô sáng nào cũng phải tiến hành rồi đấy à?" Sau khi Lâm Vũ Yên ngồi xuống trước mặt mình, Hồ Lâm Nan chủ động nhỏ giọng trêu chọc cô ta.
Lâm Vũ Yên ngồi trên sô pha đối diện Hồ Lâm Nan không hề tiếp lời của Hồ Lâm Nan, ngược lại ra vẻ đứng đắn bằng điệu bộ nũng nịu thường ngày của cô ta, ngọt ngào chào hỏi Hồ Lâm Nan: "Lâm Nam tiên sinh, hai chúng ta kể từ lần chia tay ở Đài Loan lần trước, thực sự đã rất rất lâu rồi không gặp nhau đấy! Người ta thực sự rất ngạc nhiên, rất vui mừng vì có thể gặp được anh ở đây đấy!"
"Phải đấy, đúng là không ngờ tới đấy, nếu không thì người ta nói khéo sao nên chuyện cơ chứ!" Hồ Lâm Nan thấy Lâm Vũ Yên biểu hiện như vậy, lập tức hiểu được mục đích của Lâm Vũ Yên. Để đảm bảo cho Tiêu Cẩm Hán đang gọi điện thoại trong phòng trọ có thể nghe thấy lời mình nói, Hồ Lâm Nan dứt khoát dùng cách phát âm tròn vành rõ chữ rất giống người dẫn chương trình truyền hình để trả lời câu hỏi của Lâm Vũ Yên. Trả lời xong, liền lại mang theo nụ cười xấu xa nhỏ giọng trêu chọc Lâm Vũ Yên: "Cô em, sao câu này tôi nghe quen tai thế nhỉ? Hình như lần trước hai chúng ta hội ngộ ở quán trà Amanfayun, cô cũng nói đoạn thoại này mà. Cô có phải gặp ai cũng chỉ đổi một cái tên trong lời nói, rồi cũng bài này, gặp ai cũng giở ra chơi tì tì thế không?"
“Đi chết đi!” Lâm Vũ Yên véo mạnh một cái vào phần thịt non ở đùi trong của Hồ Lâm Nan, sau đó giọng điệu vẫn u oán nói: “Lâm Nam tiên sinh, anh có biết không? Lần trước sau khi anh chia tay với em và tiến sĩ Lang Đốn (Langdon), tiến sĩ Lang Đốn vẫn luôn trầm trồ khen ngợi nhãn quan kiến thức của anh đấy nhé!”
"Hừm," nét mặt của cả người Hồ Lâm Nan trong khoảnh khắc suýt chút nữa đỏ bừng lên như cua biển luộc chín, "Thế à?" Cố hết sức giữ bình tĩnh, anh nặn ra hai chữ.
"Ừm!" Lâm Vũ Yên chớp chớp mắt gật đầu, "Lâm Nam tiên sinh, người ta không lừa anh đâu nhé! Tiến sĩ Lang Đốn sau khi về nước đã đặc biệt nói trong bức thư điện tử mà ông ấy gửi cho người ta rằng, lời giải thích thú vị của anh ngày hôm đó về bức "Quan Họa Đồ" trong động cất giấu bảo vật của "Cố cung Bác vật viện" ở Đài Bắc thực sự rất có tính khơi gợi đối với công trình nghiên cứu học thuật mà ông ấy đang tiến hành đấy!"
"Chà, tiến sĩ Lang Đốn nói thế, đối với một kẻ ba không chuyên luyện tập kiểu dã chiến như tôi đây đúng là đề cao quá mức rồi." Hồ Lâm Nan cười ha ha, rồi nương theo câu chuyện của Lâm Vũ Yên mà hỏi: "Phải rồi, tiến sĩ Lang Đốn dạo này rốt cuộc đang nghiên cứu cái gì thế?"
Lâm Vũ Yên nói: "Còn có thể là gì nữa ngoài nghề cũ của ông ấy, mối quan hệ giữa ký hiệu học và các tổ chức bí mật trong lịch sử loài người chứ gì nữa!"
Hồ Lâm Nan nghe vậy lấy làm lạ nói: "Thế cách tôi giải mã "Quan Họa Đồ", lại có thể mang lại khơi gợi gì cho ông ấy cơ chứ?"
"Khơi gợi lớn lắm đấy nhé! Tiến sĩ Lang Đốn nói cách anh giải mã về thân phận của vị bác sĩ có trên người nhiều dấu hiệu "Con mắt của Chúa" trên bức "Quan Họa Đồ" đã khiến ông ấy quyết định điều chỉnh hướng nghiên cứu của mình thành nghiên cứu sự tác động lẫn nhau giữa "Tu viện hội Sión" – một nhánh của hội Tam Điểm (Freemasonry) với lịch sử và văn hóa Trung Quốc."
"Hả? Chuyện này nghe có vẻ hơi nhảm nhỉ!" Hồ Lâm Nan chớp chớp mắt, cảm thấy hơi khó tin.
"Nhảm chỗ nào cơ chứ! Tiến sĩ Lang Đốn sau khi trở về Mỹ đã nhanh chóng thu thập được rất nhiều tài liệu liên quan, gần đây còn đăng một bài luận trên một tạp chí học thuật khá có uy tín đấy nhé."
"Bài luận á? Ông ấy viết cái gì thế?"
Dựa theo nghiên cứu của tiến sĩ Lang Đốn, người phát minh ra tiền giấy sớm nhất trong lịch sử loài người là "Giao tử" thực ra không phải là người Trung Quốc thời Bắc Tống được giới học thuật công nhận, mà là một thương đoàn người Do Thái có bối cảnh hội Tam Điểm, có quy mô tổ chức khá lớn.
"Hả? Thế thì tôi đúng là phải chúc mừng ông ấy bằng tư duy thuyết âm mưu đã khai quật ra một chân tướng lịch sử đã bị vùi lấp rồi." Hồ Lâm Nan nghe xong những lời này của Lâm Vũ Yên, không khỏi mang theo vẻ mặt nửa cười nửa không. Anh thậm chí còn hơi hoài nghi chữ "chuyên" trong từ chuyên gia của tiến sĩ Lang Đốn này phải là chữ "gạch" trong "gạch thẻ" mới đúng.
"Lâm Nam tiên sinh, anh đáng ghét quá đi mất, bài luận của tiến sĩ Lang Đốn viết rất nghiêm túc đấy nhé!" Lâm Vũ Yên biết Hồ Lâm Nan không tin, liền dứt khoát tóm tắt qua loa bài luận kia của tiến sĩ Lang Đốn cho Hồ Lâm Nan nghe. Lâm Vũ Yên nói: "Tiến sĩ Lang Đốn phát hiện sách sử Trung Quốc ghi chép, từ giữa thế kỷ thứ 10, một nhóm người Do Thái có bối cảnh hội Tam Điểm từng mang theo số lượng lớn vải bông từ Ấn Độ đáp thuyền đến Trung Quốc để buôn bán, trong đó một số thương nhân Do Thái theo Đại vận hà và sông Biện đi đến đô thị thương mại phồn hoa nhất lúc bấy giờ ở phương Đông – thủ đô của vương triều Bắc Tống, chính là thành phố Khai Phong ngày nay.
Đến giữa thế kỷ 12, nhà Kim do người Nữ Chân – một dân tộc du mục ở phương bắc Trung Quốc lập nên đã tiêu diệt Bắc Tống rồi chiếm lấy Khai Phong, đổi tên thành Biện Kinh. Trong quá trình buôn bán với thương nhân Do Thái ở địa phương, người Nữ Chân đã thán phục tài năng buôn bán và quản lý của người Do Thái, đồng thời khi rời khỏi Biện Kinh đã mang nhóm thương nhân này về Thượng Kinh thành – kinh đô nhà Kim lúc bấy giờ nay nằm ở thành phố A Thành, tỉnh Hắc Long Giang. Chính nhóm người Do Thái này đã giúp nhà Kim phát minh ra tiền giấy, cải tạo chế độ tiền tệ, và tạo dựng nên hình thái ban đầu của ngân hàng do chính phủ kiểm soát."
"Cũng tạm được, đúng là tiến sĩ Lang Đốn khi sáng tác bài luận này vẫn còn biết kiềm chế chán, đã định nguyên nhân người Nữ Chân đưa nhóm người Do Thái Khai Phong này về Thượng Kinh là do nhóm người Do Thái này khá biết buôn bán, chứ không nói nhóm người Do Thái này thực chất đều là gián điệp do người Nữ Chân gài cắm nội bộ nhà Tống." Nghe xong một hồi lời nói của Lâm Vũ Yên, Hồ Lâm Nan không khỏi cười châm chọc nói: "Vũ Yên tiểu thư, có rất nhiều lúc tôi buộc phải thừa nhận chuyên gia chính là chuyên gia, nếu tiến sĩ Lang Đốn mà chịu chuyển nghề làm biên kịch, tôi đoán tất cả chúng ta đều phải cạp đất mà ăn mất."
Lâm Vũ Yên nghe vậy liếc xéo Hồ Lâm Nan một cái, không vui nói: "Lâm Nam tiên sinh, anh đừng có thế chứ! Anh nếu có suy nghĩ gì về bài luận này của tiến sĩ Lang Đốn, thì cũng phải nghe người ta nói hết rồi mới khách quan chứ!"
"Được, được, cô nói đi, cô cứ nói tiếp đi, tôi cũng vừa hay có thể nhân bài văn kỳ lạ này của ông ấy mà vui vẻ thêm lát nữa." Hồ Lâm Nan cười đến mức hai bả vai cũng rung lên bần bật.
Lâm Vũ Yên nghe vậy nói tiếp: "Theo tài liệu lịch sử mà tiến sĩ Lang Đốn tra cứu được ghi chép lại, nhà Kim từ năm 1141 đã bắt đầu đúc tiền đồng, nhưng chất lượng tiền tệ bình thường, cực kỳ dễ làm giả, một số quan lại địa phương, hào phú tư đúc tiền rất nhiều, do đó dẫn đến tình trạng thiếu hụt đồng – nguyên liệu đúc tiền. Thế là để giải quyết tình huống thiếu hụt nguyên liệu đồng, những kẻ thống trị nhà Kim liền dưới sự giúp đỡ của thương đoàn người Do Thái hội Tam Điểm, đã sáng tạo ra loại tiền giấy được lưu thông toàn quốc đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là "Giao xảo". Mà sự xuất hiện của "Giao xảo", cũng phát huy tác dụng quan trọng trong việc làm dịu bớt sự thiếu hụt tiền đồng trên thị trường, điều tiết giá cả và thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Người Do Thái đã cống hiến quan trọng cho sự phát triển kinh tế của nhà Kim, đồng thời cũng giành được vinh dự to lớn. Năm 1161, vị vua anh minh nhà Kim là Kim Thế Tông đã ân chuẩn xây dựng nhà thờ Do Thái đầu tiên ở Trung Quốc tại Khai Phong, và ban chữ ngự bút "Nhất Tích Lạc Nghiệp Giáo" (Nhất Tích Lạc Nghiệp Giáo).
"Trong các hoạt động kinh tế, nhấn mạnh sự biến động của lượng cung tiền là nguyên nhân căn bản và mang tính chi phối làm cho hoạt động kinh tế và mức giá cả phát sinh biến động, tin rằng có thể thông qua việc thay đổi lượng tiền phát hành và giá trị bản thân đồng tiền để ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển kinh tế. Nhóm người Do Thái này giúp nhà Kim phát minh ra loại tiền giấy đầu tiên trong lịch sử loài người là tư duy "Giao xảo", sao nghe cứ giống lý thuyết chủ nghĩa tiền tệ do nhà kinh tế học nổi tiếng đại học Chicago Mỹ, người đạt giải Nobel kinh tế học Milton Friedman đề xuất thế nhỉ?" Hồ Lâm Nan bóp cằm mình chìm vào suy nghĩ, không biết từ lúc nào trên mặt anh đã không còn vẻ nhẹ nhàng phù phiếm ban nãy nữa.
"Kinh tế học mà anh cũng hiểu á?" Lâm Vũ Yên với vẻ mặt khó tin, cảm thấy con người Hồ Lâm Nan này quả thực quá siêu phàm.
"Hiểu chút ít." Hồ Lâm Nan gật đầu.
Lâm Vũ Yên đăm đăm nhìn Hồ Lâm Nan ngồi trước mặt mình, trong đầu không khỏi liên tưởng miên man – mặc dù bản thân từng có một đêm xuân mặn nồng với người đàn ông này, dường như hai người còn từng có khoảnh khắc động lòng vì đối phương, nhưng cô phát hiện bản thân thực ra hoàn toàn không hiểu rõ người đàn ông bất kham vừa điên cuồng vừa hiệp nghĩa lại vừa ôn hòa trước mắt này. Những kiến thức xuất hiện lớp lớp, khiến toàn bộ con người Hồ Lâm Nan luôn tỏa ra một thứ sức hút độc đáo giống như "vực sâu khó lường" rất thu hút những người phụ nữ trí thức như Lâm Vũ Yên đến gần, thế nhưng lối nói chuyện ngông nghênh ngạo mạn phảng phất chút bất lương thi thoảng lại vương chút thi vị lại ẩn hiện lấp ló trong những chi tiết nhỏ nhặt trên người anh.
Càng nghĩ, Lâm Vũ Yên không khỏi có chút thẫn thờ.
"Cô em, cô không có việc gì thì thẫn thờ làm cái gì thế? Tôi ở đây vẫn đang đợi cô nói tiếp đấy!" Hồ Lâm Nan vừa nói vừa hất cằm về phía trước.
"Ồ, ồ, ồ," Lâm Vũ Yên hoàn hồn thì sắc mặt hơi ửng đỏ, tựa như một đóa hoa trà. "Ngoài ra, theo tài liệu mà tiến sĩ Lang Đốn trích dẫn trong các tư liệu lịch sử liên quan, năm 1200 cũng dưới sự giúp đỡ của người Do Thái, nhà Kim lại lấy bạc làm nguyên liệu đúc, chính thức đúc ra loại tiền tệ pháp định "Bảo hóa" đưa vào lưu thông, từ đó đemĩnh bạc được đúc thành đơn vị tiền tệ chính thức có trọng lượng lưu thông qua nhiều triều đại ở Trung Quốc đổi thành tiền bạc pháp định. Phương pháp này vẫn được dùng truyền đến Trung Quốc cận đại.
Hơn nữa còn kinh ngạc hơn là, thời nhà Kim còn xuất hiện một tổ chức hành đoàn tên là "Hành nhân". Theo tư liệu lịch sử ghi chép, loại tổ chức hành đoàn này chịu sự kiểm soát của ty Mua Bán thị trường nhà Kim, chuyên tòng sự lưu thông đổi tiền tệ, điều tiết tỷ giá hối đoái giữa đỉnh bạc với tiền đồng, tiền giấy, rõ ràng đã là một hình thái ban đầu của ngân hàng dưới sự kiểm soát của chính phủ. Những năm gần đây, trong phạm vi rộng lớn từ Ba Tư đến khu vực ven biển Nga đều phát hiện tiền tệ của nhà Kim, cho thấy giao thương của nhà Kim đã khá phát triển.
Lại theo khảo cứu sau khi nhà Nguyên được thiết lập, trong văn kiện chính thức nhiều lần nhắc tới, các bộ phận nhà Kim mà họ tiếp quản, như thu thuế, tài chính, thương mại v.v., đều có người Do Thái chủ trì công việc, và gọi là: Bọn họ có lẽ cái gì cũng làm được."
Nghe xong những lời này của Lâm Vũ Yên, Hồ Lâm Nan nhíu mày suy tư hồi lâu không nói gì.
"Lâm Nam, anh đang nghĩ gì thế?"
"Tôi đang nghĩ, nếu như trong quá trình ra đời của loại tiền giấy sớm nhất trong lịch sử loài người là "Giao tử", hội Tam Điểm quả thực giống như tiến sĩ Lang Đốn nói đóng vai trò quan trọng như vậy, thì trong nội dung rất nhiều cuộc cải cách như "Thanh miêu pháp", "Quân thâu pháp" mà bản chất của nó đều mang một thứ do chính phủ đóng vai trò giống như ngân hàng đương đại, vậy liệu có sự tham gia của thành viên hội Tam Điểm hay không." Vẻ mặt Hồ Lâm Nan cau chặt đôi mày suy nghĩ nghiêm túc, tự mang theo một thứ sức hút nam tính trí tuệ đầy mê hoặc.
"Đây quả thực là một khả năng." Lâm Vũ Yên vì những lời này của Hồ Lâm Nan cũng chìm vào suy nghĩ.
"Ha ha ha, cô em, em đáng yêu quá đấy!" Hồ Lâm Nan bỗng nhiên cười lớn, vẻ mặt đầy tinh quái, "Buồn cười chết mất, em đúng là học trò giỏi của tiến sĩ Lang Đốn, nghĩ bất cứ chuyện gì hoàn toàn cùng một đường lối với ông ấy, mặc kệ gặp phải chuyện lớn hay chuyện nhỏ nào đều một mạch lao thẳng vào hội Tam Điểm."
Lâm Vũ Yên thấy Hồ Lâm Nan biểu hiện như vậy, bấy giờ mới biết thần thái hay ngôn từ của Hồ Lâm Nan đều là ngụy trang để lừa mình vào tròng, không khỏi quên mình làm nũng đánh một chưởng về phía Hồ Lâm Nan: "Anh đúng là cái đồ đáng ghét chết đi được."
"Từ đáng ghét này thốt ra từ miệng em đối với anh mà nói chính là từ hay." Hồ Lâm Nan vươn tay tóm lấy cổ tay Lâm Vũ Yên giữa không trung, sau đó đột nhiên mang theo vẻ mặt hoài nghi hít mạnh mấy cái liền, hỏi Lâm Vũ Yên rằng: "Vũ Yên, em dùng nước hoa gì thế?"
"Nước hoa nữ Cool Water của Davidoff chứ gì, sao thế?" Lâm Vũ Yên không hiểu sao Hồ Lâm Nan lại đột nhiên hỏi đến thương hiệu nước hoa mình dùng.
"Anh hiểu rồi, sao lại thế được." Hồ Lâm Nan phớt lờ câu hỏi của Lâm Vũ Yên. Do quá tập trung suy nghĩ về một vấn đề vẫn luôn làm khó mình, Hồ Lâm Nan bất giác tăng thêm lực nắm lấy cổ tay Lâm Vũ Yên.
"Lâm Nam, buông ra đi, anh làm người ta đau đấy." Lâm Vũ Yên đau đến mức sắc mặt hơi biến đổi.
"Vũ Yên, anh Lâm Nam, chúng ta phải đi ngay thôi, Nhiễm Hương nói trong điện thoại, vị nghiên cứu viên bảo tàng Chiết Giang bị tổ chức cướp bảo vật bí ẩn tập kích đó lúc hồi quang phản chiếu đã biểu thị, anh ta đã đem bức "Phú Xuân Sơn Cư Đồ - Thặng Sơn Đồ" cất về nơi sinh ra bức tranh này, cho nên chúng ta phải tranh thủ trước khi tập đoàn cướp bảo vật đến nơi tìm được Thặng Sơn Đồ – các người!" Tiêu Cẩm Hán rốt cuộc cũng gọi xong cuộc điện thoại dài đằng đẵng đầy bí ẩn kia vừa đẩy cửa phòng trọ ra, vừa nói với tốc độ cực nhanh. Khi cậu ta bước ra khỏi phòng trọ, lại không tránh khỏi ngây người trước cảnh tượng Hồ Lâm Nan đang dùng tay nắm chặt cổ tay vị hôn thê của mình là Lâm Vũ Yên ngay trước mắt.