Ai cũng là một mặt trăng, và đều có một mặt tối mà chẳng bao giờ phô ra cho ai thấy.
—Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.
Khi tôi nguệch ngoạc mấy dòng ghi chú này vào sổ tay một năm trước, đoạn văn ở cuối chương trước vốn để ám chỉ hai điều theo cách cường điệu: tính chất mâu thuẫn trong những thông tin mà người dân bản địa cung cấp cho du khách về chính trị Nam Phi, và sự rối bời mà nó gây ra cho du khách.
Nhưng giờ xem lại thì cũng chẳng cường điệu lắm đâu. Trong cái thời buổi nhiễu nhương và hỗn loạn ấy, không gì có thể làm cho chính trị Nam Phi trở nên rõ ràng hay hợp lý đối với người dân bản địa, vì lợi ích cá nhân và định kiến chính trị của họ đã che mắt họ mất rồi; và cũng chẳng có gì làm cho đống chính trị đó trở nên thông suốt đối với người ngoại quốc, khi mà nguồn tin của họ thì lại toàn như thế.

Tôi ở Nam Phi được một thời gian ngắn. Lúc tôi đặt chân tới đó, cái nồi hầm chính trị đang sôi sùng sục. Bốn tháng trước, Jameson đã dẫn khoảng 600 tay kỵ binh có vũ trang vượt biên giới Transvaal để đi "giải cứu phụ nữ và trẻ em" ở Johannesburg; đến ngày thứ tư của cuộc hành quân, phe Boer đã đánh bại ông ta, bắt sống cả đám rồi áp giải về Pretoria, thủ đô của họ, làm tù binh. Chính phủ Boer đã bàn giao Jameson cùng các sĩ quan của hắn cho chính phủ Anh để xét xử và tống khứ họ về Anh; tiếp đó, họ bắt giữ 64 công dân quan trọng của Johannesburg vì tội âm mưu đảo chính, kết án tử hình bốn người lãnh đạo, rồi sau đó giảm án, và giờ thì cả 64 người đang ngồi tù chờ phán quyết tiếp theo. Trước giữa mùa hè, tất cả họ đều đã được thả trừ hai người từ chối ký đơn xin ân xá; 58 người bị phạt 10.000 đô-la mỗi người rồi được thả, còn bốn người lãnh đạo thì "hạ cánh" với mức phạt 125.000 đô-la mỗi người, kèm thêm án lưu đày vĩnh viễn trong một trường hợp.
Với một người khách lạ, đó là những ngày tháng vô cùng thú vị, và tôi lấy làm mừng vì được ở ngay tâm điểm của cơn sốt đó. Ai nấy đều bàn tán, và tôi cứ ngỡ mình sẽ hiểu tường tận một phe trong thời gian ngắn thôi.
Tôi đã lầm. Có những điều kỳ quặc, khó hiểu, và không thể giải thích nổi mà tôi không sao nắm bắt được. Tôi không có đường dây liên hệ nào với phe Boer—phe của họ là một bí mật đối với tôi, ngoại trừ những gì tôi chắt lọc được từ các thông báo công khai. Sự cảm thông của tôi nhanh chóng nghiêng về phía những người Cải cách trong nhà tù Pretoria, về phía bạn bè của họ và chính nghĩa của họ. Thông qua việc tìm hiểu kỹ lưỡng tại Johannesburg, tôi đã tìm ra—có vẻ là vậy—mọi chi tiết về phía họ trong cuộc tranh chấp này, ngoại trừ một điều: họ mong đợi sẽ đạt được gì từ một cuộc nổi dậy có vũ trang.
Chẳng ai có vẻ biết cả.
Lý do khiến phe Cải cách bất mãn và muốn thay đổi dường như rất rõ ràng. Tại Johannesburg, người ta cho rằng dân Uitlander (người lạ, người nước ngoài) phải gánh đến mười ba phần mười lăm tiền thuế của Transvaal, nhưng lại chẳng được hưởng lợi lộc gì hoặc rất ít. Thành phố của họ không có hiến chương; không có chính quyền đô thị; không thể thu thuế cho hệ thống thoát nước, cung cấp nước, rải nhựa đường, vệ sinh, y tế hay cảnh sát. Cảnh sát thì có, nhưng toàn là người Boer, do Chính phủ bang cung cấp, và thành phố chẳng có quyền kiểm soát gì hết. Khai thác mỏ rất tốn kém; chính phủ còn làm cho chi phí tăng vọt bằng cách đánh thuế nặng nề lên các mỏ, sản lượng, máy móc, tòa nhà; bằng những khoản thuế phi lý lên nguyên vật liệu nhập vào; bằng phí vận chuyển đường sắt đắt đỏ. Đáng chịu đựng nhất là việc chính phủ giữ độc quyền mặt hàng thiết yếu là thuốc nổ và bán với giá trên trời. Mấy tay người Hà Lan đáng ghét từ bên kia đại dương thì chiếm hết các vị trí công quyền. Chính phủ thì thối nát tận xương tủy. Dân Uitlander không có quyền bầu cử, phải sống ở bang này mười hai năm mới được cấp quyền. Họ không có đại diện trong Raad (cơ quan lập pháp)—nơi bóc lột và vắt kiệt tiền của họ. Tôn giáo không được tự do. Không có trường học nào dạy bằng tiếng Anh, dù phần lớn dân số da trắng ở bang này chẳng biết ngôn ngữ nào khác. Bang này nhất quyết không thông qua luật rượu; nhưng lại cho phép buôn bán tràn lan loại rượu brandy rẻ tiền độc hại cho người da đen, dẫn đến hậu quả là 25% trong số 50.000 người da đen làm việc trong hầm mỏ thường xuyên say xỉn và không thể làm việc được.
Đấy—lý do muốn thay đổi nhiều vô kể và cũng rất hợp tình hợp lý, nếu như những khiếu nại kể trên là đúng.
Cái mà dân Uitlander muốn là cải cách—ngay dưới chế độ Cộng hòa hiện hành.
Họ dự định đạt được những cải cách này bằng cách cầu khẩn, kiến nghị và thuyết phục.
Họ đã kiến nghị. Họ cũng ban hành một bản Tuyên ngôn, mà lời lẽ ngay câu đầu tiên đã như tiếng kèn báo hiệu lòng trung thành: "Chúng tôi muốn thiết lập chế độ Cộng hòa này thành một nước Cộng hòa đích thực."
Có gì rõ ràng hơn tuyên bố của dân Uitlander về những bất công và áp bức mà họ phải chịu đựng? Có gì hợp pháp, hợp quy củ và tôn trọng luật pháp hơn thái độ của họ được thể hiện trong bản Tuyên ngôn? Không có. Những điều đó hoàn toàn rõ ràng, hoàn toàn dễ hiểu.
Nhưng đến điểm này thì những câu đố, những bí ẩn và sự rối rắm bắt đầu ùa đến. Bạn đã đi đến một nơi mà bạn không thể hiểu nổi.
Vì bạn phát hiện ra rằng, để chuẩn bị cho nỗ lực trung thành, hợp pháp và hoàn hảo về mọi mặt nhằm thuyết phục chính phủ sửa sai những bất công của họ, dân Uitlander đã lén tuồn một hoặc hai khẩu súng Maxim và 1.500 khẩu súng trường vào thành phố, giấu trong các thùng dầu và toa xe chở than, đồng thời bắt đầu thành lập và huấn luyện các đội quân gồm nhân viên văn phòng, thương gia và người dân nói chung.
Ý của họ là gì? Họ có cho rằng người Boer sẽ tấn công họ vì họ kiến nghị đòi quyền lợi? Điều đó không thể nào xảy ra được.
Họ có cho rằng người Boer sẽ tấn công họ chỉ vì ban hành một bản Tuyên ngôn yêu cầu hỗ trợ dưới chính quyền hiện tại không?
Có đấy, họ dường như tin như vậy, bởi vì không khí tràn ngập những lời đồn thổi về việc ép chính phủ phải nhượng bộ nếu không chịu thỏa hiệp trong hòa bình.
Phe Cải cách đều là những người trí thức cao. Nếu họ nghiêm túc, thì họ đang đánh cược quá lớn. Họ có những tài sản vô giá cần bảo vệ; thành phố của họ đầy rẫy phụ nữ và trẻ em; hầm mỏ và các khu nhà của họ chật kín hàng ngàn, hàng vạn người da đen vạm vỡ. Nếu người Boer tấn công, các hầm mỏ sẽ đóng cửa, người da đen sẽ tràn ra ngoài và say xỉn; bạo loạn, hỏa hoạn cộng với quân Boer có lẽ sẽ khiến phe Cải cách mất mát trong một ngày—về tiền bạc, máu và đau thương—nhiều hơn những gì mà sự giải thoát chính trị mong đợi có thể bù đắp trong mười năm, ngay cả khi họ thắng cuộc và giành được các cải cách.
Giờ đã là tháng 5 năm 1897; một năm đã trôi qua, và những rối rắm ngày đó đã phần nào được làm sáng tỏ. Ông Cecil Rhodes, Tiến sĩ Jameson và những người khác chịu trách nhiệm về vụ Đột kích đã làm chứng trước Ủy ban Điều tra của Quốc hội ở London, và cả ông Lionel Phillips cùng những người Cải cách khác ở Johannesburg, những "bà đỡ" của cuộc Cách mạng chết yểu này cũng vậy. Những lời khai này đã soi sáng sự việc. Ba cuốn sách đã góp thêm nhiều ánh sáng:
"Nam Phi như nó vốn là" của ông Statham, một cây bút tài năng thiên vị phe Boer; "Câu chuyện về cuộc khủng hoảng châu Phi" của ông Garrett, một cây bút xuất sắc thiên vị phe Rhodes; và "Vai trò của một phụ nữ trong cuộc Cách mạng" của bà John Hays Hammond, một người ghi nhật ký sống động và mạnh mẽ, thiên vị phe Cải cách. Bằng cách chắt lọc những bằng chứng từ các cuốn sách đầy định kiến và từ các nhân chứng thiên vị trước Quốc hội, rồi trộn lẫn tất cả lại và đổ vào những khuôn mẫu (đầy định kiến) của chính mình, tôi đã tìm ra sự thật về tình thế khó hiểu ở Nam Phi đó, cụ thể là:
1. Các nhà tư bản và những nhân vật chủ chốt khác của Johannesburg đang bức bối dưới những gánh nặng chính trị và tài chính khác nhau do Nhà nước (Cộng hòa Nam Phi, đôi khi được gọi là "Transvaal") áp đặt và muốn dùng biện pháp hòa bình để thay đổi luật lệ.
2. Ông Cecil Rhodes, Thủ tướng Thuộc địa Cape của Anh, triệu phú, người sáng lập và giám đốc điều hành Công ty Nam Phi — một công ty khổng lồ về lãnh thổ nhưng lại kém hiệu quả về tài chính; người vạch ra những kế hoạch vĩ đại nhằm thống nhất và củng cố tất cả các bang Nam Phi thành một khối thịnh vượng chung hoặc đế chế ấn tượng dưới bóng và sự bảo hộ chung của lá cờ Anh, nghĩ rằng mình đã thấy một cơ hội để tận dụng sự bất mãn của dân Uitlander kể trên — biến con mèo Johannesburg thành công cụ giúp ông ta lấy hạt dẻ ra khỏi lửa. Với ý định đó, ông ta bắt tay vào việc thổi bùng những lời thỉnh cầu và kiến nghị hợp pháp, chính đáng của dân Uitlander thành những lời đàm tiếu phản loạn, biến sự bức bối của họ thành những lời đe dọa — kết cục cuối cùng là cuộc nổi dậy và bạo động vũ trang. Nếu ông ta có thể tạo ra một cuộc va chạm đẫm máu giữa những người đó và chính phủ Boer, nước Anh sẽ phải can thiệp; sự can thiệp của Anh sẽ bị người Boer kháng cự; Anh sẽ trừng phạt họ và sáp nhập Transvaal vào các thuộc địa Nam Phi của mình. Đó không phải là một ý tưởng ngốc nghếch, mà là một ý tưởng hợp lý và thực tế.
Sau vài năm âm mưu tính toán, ông Rhodes đã nhận được phần thưởng; cái ấm cách mạng đang sôi sùng sục ở Johannesburg, và các thủ lĩnh Uitlander đang hậu thuẫn cho các lời kêu gọi của họ gửi chính phủ—lúc này đã cứng rắn thành những yêu sách—bằng những lời đe dọa vũ lực và đổ máu. Đến giữa tháng 12 năm 1895, vụ nổ dường như sắp xảy ra. Ông Rhodes từ vị trí xa xôi ở Cape Town đã tích cực hỗ trợ. Ông ta giúp kiếm vũ khí cho Johannesburg; ông ta cũng sắp xếp để Jameson vượt biên giới và kéo vào Johannesburg với 600 tay kỵ binh hộ tống. Jameson—có lẽ theo chỉ thị của Rhodes—muốn có một bức thư từ phe Cải cách yêu cầu ông ta đến cứu viện. Đó là một ý tưởng hay. Nó sẽ đẩy một phần trách nhiệm lớn trong cuộc xâm lược của hắn lên vai phe Cải cách. Hắn đã nhận được bức thư—bức thư nổi tiếng thúc giục hắn bay đến giải cứu phụ nữ và trẻ em. Hắn nhận được nó hai tháng trước khi hắn "bay" đi. Phe Cải cách dường như đã suy nghĩ lại và kết luận rằng họ làm thế là không khôn ngoan; vì ngày hôm sau khi đưa cho Jameson tài liệu buộc tội đó, họ muốn rút lại và để mặc phụ nữ và trẻ em trong vòng nguy hiểm; nhưng họ được thông báo rằng đã quá muộn. Bản gốc đã được gửi đến ông Rhodes ở Cape. Tuy nhiên, Jameson đã giữ một bản sao.
Từ lúc đó cho đến ngày 29 tháng 12, phe Cải cách đã dành phần lớn thời gian nỗ lực hết sức để ngăn Jameson đến cứu viện. Cuộc xâm lược của Jameson đã được ấn định vào ngày 26. Phe Cải cách chưa sẵn sàng. Thành phố chưa thống nhất. Một số muốn chiến đấu, một số muốn hòa bình; một số muốn chính phủ mới, một số muốn cải cách chính phủ hiện tại; có vẻ rất ít người muốn cuộc cách mạng diễn ra vì lợi ích và dưới sự bảo trợ cuối cùng của lá cờ Đế quốc Anh; tuy nhiên, một tin đồn bắt đầu lan truyền rằng sự hỗ trợ gây phiền toái của ông Rhodes có mục đích sau cùng là điều này.
Jameson ở tận trên biên giới, đang bứt rứt, nóng lòng muốn vượt biên giới. Bằng nỗ lực cực lớn, phe Cải cách đã hoãn ngày khởi hành của hắn một chút, và muốn hoãn thêm mười một ngày nữa. Có vẻ như các đặc vụ của Rhodes cũng đang hỗ trợ nỗ lực của họ—thực tế là đang làm nóng cả dây điện tín cố gắng giữ chân hắn lại. Bản thân Rhodes là người duy nhất có thể hoãn Jameson một cách hiệu quả, nhưng điều đó sẽ gây bất lợi cho kế hoạch của ông ta; thực ra, nó có thể làm hỏng cả hai năm làm việc của ông ta.
Jameson chịu đựng sự trì hoãn được ba ngày, rồi quyết định không chờ đợi nữa. Không có bất kỳ mệnh lệnh nào—ngoại trừ sự im lặng đầy ẩn ý của ông Rhodes—hắn cắt dây điện tín vào ngày 29, và thực hiện cú đột kích đêm đó, để đi giải cứu phụ nữ và trẻ em, theo yêu cầu khẩn thiết của một bức thư đã chín ngày tuổi—tính theo ngày tháng—thực ra là đã cũ được vài tháng rồi. Hắn đọc bức thư cho quân lính nghe, và nó đã tác động đến họ. Nhưng không phải tất cả đều bị tác động giống nhau. Một số người thấy trong đó một hành động cướp biển khôn ngoan đáng ngờ, và lấy làm tiếc khi thấy mình bị tập hợp để xâm phạm lãnh thổ hữu nghị thay vì đi đột kích các buôn làng bản địa như họ vẫn tưởng.
Jameson sẽ phải cưỡi ngựa 150 dặm. Hắn biết rằng ở Transvaal đang có những nghi ngờ về hắn, nhưng hắn hy vọng sẽ đến được Johannesburg trước khi chúng trở nên phổ biến và gây cản trở. Nhưng có một dây điện tín đã bị bỏ sót và không bị cắt. Nó đã lan truyền tin tức về cuộc xâm lược của hắn đi khắp nơi, và vài giờ sau khi hắn xuất phát, những người nông dân Boer đã phi ngựa từ mọi hướng để chặn đánh hắn.

Ngay khi người dân Johannesburg biết tin hắn đang trên đường đến giải cứu phụ nữ và trẻ em, những người dân biết ơn đã đưa phụ nữ và trẻ em lên tàu và vội vã tống khứ họ sang Úc. Thực tế là, sự xuất hiện của "đấng cứu thế" của Johannesburg đã tạo ra sự hoảng loạn và kinh hoàng ở đó, và vô số nam giới có tư tưởng hòa bình đã đổ xô ra ga tàu như một cơn bão cát. Những người đến sớm nhất thì may mắn nhất; họ giữ chỗ—bằng cách ngồi vào đó—tám giờ trước khi chuyến tàu đầu tiên dự kiến khởi hành.
Ông Rhodes không lãng phí thời gian. Ông ta gửi điện tín về bức thư mời nổi tiếng của Johannesburg cho báo chí London—một mẩu chuyện cổ xưa cũ kỹ nhất từng được gửi qua điện tín.
Tân thi sĩ hoàng gia cũng chẳng lãng phí thời gian. Ông ta xuất bản một bài thơ hào sảng ca ngợi sự dũng cảm nhanh chóng và huy hoàng của Jameson khi bay đến giải cứu phụ nữ và trẻ em; vì nhà thơ làm sao biết được rằng hắn không hề "bay" cho đến hai tháng sau lời mời. Ông ta đã bị đánh lừa bởi ngày tháng giả của bức thư, vốn là ngày 20 tháng 12.
Jameson bị người Boer chặn đánh vào ngày đầu năm mới, và ngày hôm sau hắn đầu hàng. Hắn đã mang theo bản sao bức thư, và nếu chỉ thị yêu cầu hắn—trong trường hợp khẩn cấp—phải đảm bảo rằng nó rơi vào tay người Boer, thì hắn đã thực hiện một cách trung thành. Bà Hammond đã mắng cho hắn một trận vì sự bất cẩn được cho là của hắn, và nhấn mạnh cảm xúc của bà về việc đó bằng những chữ in nghiêng rực lửa: "Nó được nhặt lên trên chiến trường trong một cái túi da, được cho là túi yên ngựa của Tiến sĩ Jameson. Nhân danh tất cả những gì kín đáo và đáng kính, tại sao hắn không ăn nó đi!"
Bà ấy đòi hỏi quá nhiều. Hắn không phục vụ phe Cải cách—ngoại trừ trên danh nghĩa; hắn phục vụ ông Rhodes. Đó là tài liệu tiếng Anh rõ ràng duy nhất, không bị che đậy bởi các mật mã và bí ẩn, có chữ ký và xác thực trách nhiệm, buộc tội trực tiếp phe Cải cách trong vụ đột kích, và việc nó bị ăn mất thì không có lợi cho ông Rhodes. Hơn nữa, bức thư đó không phải là bản gốc, nó chỉ là một bản sao. Ông Rhodes giữ bản gốc—và cũng chẳng ăn nó. Ông ta đã gửi điện tín về cho báo chí London. Nó đã được đọc ở Anh, Mỹ và khắp châu Âu trước khi Jameson đánh rơi nó trên chiến trường. Nếu đốt ngón tay của cấp dưới đáng bị gõ, thì của cấp trên cũng đáng bị gõ vài cái như vậy.
Bức thư đó là một tình tiết kịch tính thú vị và xứng đáng với tất cả sự nổi tiếng của nó, bởi những hiệu ứng kỳ lạ và đa dạng mà nó tạo ra. Chỉ trong vòng một tuần, nó đã biến Jameson thành một người hùng lừng lẫy ở Anh, một tên cướp biển ở Pretoria, và một thằng ngốc không chút khôn ngoan hay danh dự ở Johannesburg; nó cũng tạo ra một màn pháo hoa rực rỡ từ tài năng của thi sĩ hoàng gia làm bầu trời thế giới đầy những hào quang chóng mặt, và việc biết rằng Jameson sắp đến để giải cứu phụ nữ và trẻ em đã làm cho Johannesburg trống rỗng đám cư dân đó. Đối với một bức thư cũ, thế là quá nhiều. Đối với một bức thư đã hai tháng tuổi, nó đã làm nên những điều kỳ diệu; nếu nó cũ một năm thì chắc nó đã tạo ra phép màu.