Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Có một thứ gọi là Lương tâm, và cũng có một thứ gọi là "Vô lương tâm". Lịch sử đã chứng minh: Lương tâm giúp chúng ta nhận biết thế nào là đạo đức để mà... tránh né, còn "Vô lương tâm" giúp chúng ta nhận biết thế nào là đồi bại để mà... tận hưởng.

— Theo Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.

Melbourne trải rộng trên một diện tích cực kỳ bao la. Nhìn từ góc độ kiến trúc lẫn quy mô, đây quả là một thành phố uy nghi, tráng lệ. Nơi đây sở hữu hệ thống xe điện kéo cáp tinh vi; có bảo tàng, trường đại học, trường học, công viên công cộng, điện lưới, khí đốt, thư viện, nhà hát; là trung tâm khai khoáng, trung tâm buôn bán lông cừu, trung tâm nghệ thuật và khoa học; có các sở giao dịch thương mại, tàu bè, đường sắt, cảng biển, cùng hàng loạt câu lạc bộ xã hội, câu lạc bộ báo chí, câu lạc bộ đua ngựa, và cả một câu lạc bộ dành cho giới chủ đất sang trọng với trụ sở cực kỳ lộng lẫy. Ngoài ra, số lượng nhà thờ và ngân hàng ở đây nhiều đến mức đủ cho tất cả cùng sống khỏe. Tóm lại, nó được trang bị tận răng tất cả những gì cần có của một đại đô thị hiện đại. Là thành phố lớn nhất vùng Australasia, Melbourne hoàn toàn gánh vác vị thế này một cách hãnh diện và xứng đáng. Tuy nhiên, nó có một điểm đặc trưng độc nhất vô nhị — tuyệt đối không thể đánh đồng với những thứ kể trên. Melbourne chính là "Thánh địa" tối cao của Giáo phái Đua ngựa. Và trường đua của nó chính là nhà thờ Mecca của toàn vùng Australasia. Vào ngày đại lễ tế thần hằng năm — ngày 5 tháng 11, ngày Guy Fawkes — mọi hoạt động kinh doanh buôn bán trên một dải đất và biển rộng lớn (tương đương khoảng cách từ New York đến San Francisco, và sâu hơn cả khoảng cách từ các hồ phía bắc đến Vịnh Mexico) đều hoàn toàn ngưng trệ. Bất kỳ ai, từ kẻ sang người hèn, chỉ cần lo nổi chi phí là lập tức gạt bỏ mọi nghĩa vụ thường ngày để kéo về đây. Họ bắt đầu ùn ùn kéo đến bằng đường thủy lẫn đường sắt từ trước đó nửa tháng, và mật độ đông đúc cứ thế tăng lên từng ngày. Các phương tiện giao thông phải hoạt động hết tối đa công suất, còn các khách sạn và nhà trọ thì muốn "nổ tung" vì áp lực quá tải từ bên trong. Theo những nguồn tin tin cậy nhất, đám đông đổ về đông tới một trăm nghìn người, nêm chặt các khoảng sân rộng lớn lẫn các khán đài, tạo nên một quang cảnh tráng lệ chưa từng thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên cõi Australasia.

Chính giải đua "Melbourne Cup" đã quy tụ đám đông khổng lồ này lại. Trang phục của họ đã được đặt hàng từ lâu với chi phí không giới hạn, lộng lẫy và tuyệt mỹ đến mức tối đa, rồi được cất giấu kỹ lưỡng cho đến tận hôm nay — bởi vì ngày này sinh ra là để dành riêng cho những bộ cánh ấy. Ồ, dĩ nhiên là tôi đang nói về trang phục của các quý bà quý cô rồi, hẳn là ai cũng đoán ra.

Và thế là, các khán đài trở thành một khung cảnh rực rỡ và kỳ diệu, một sự bùng nổ của màu sắc, một bữa tiệc của cái đẹp. Sâm panh chảy như nước, ai nấy đều sôi nổi, hào hứng, hạnh phúc; nhà nhà đặt cược, những đôi găng tay xa xỉ và những khối tài sản kếch xù cứ liên tục chuyền tay nhau. Ngày qua ngày, các cuộc đua tiếp diễn, niềm vui và sự phấn khích luôn được giữ ở mức cuồng nhiệt nhất; và khi mỗi ngày đua kết thúc, người ta lại nhảy mót suốt đêm để sáng hôm sau thức dậy... cho nó tươi tỉnh mà đi xem đua tiếp! Đền cuối tuần lễ trọng đại ấy, đám đông vội vã đặt trước chỗ ở và vé xe cho... năm sau, rồi mới nườm nượp kéo nhau về những vùng quê xa xôi, ngồi đếm lại tiền thắng thua, đặt may đồ cho mùa Cup năm tới, rồi nằm quay ra ngủ liền một mạch hai tuần. Để rồi khi tỉnh dậy, họ lại thở dài ngao ngán khi nghĩ đến chuyện phải sống sao cho hết một năm dài đằng đẵng nữa thì mới lại được hạnh phúc trọn vẹn.

Melbourne Cup chính là Ngày Quốc khánh của vùng Australasia. Thật khó mà nói giảm nói tránh về tầm quan trọng của nó. Nó che mờ tất cả các ngày lễ tết hay những dịp đặc biệt khác ở cái liên bang gồm nhiều thuộc địa này. Dùng từ "che mờ" ư? Có lẽ tôi nên nói là nó "xóa khai tử" những ngày lễ khác thì đúng hơn. Những ngày lễ khác cũng được chú ý đấy, nhưng không phải ai cũng quan tâm; cũng gợi lên sự thích thú, nhưng không phải của tất cả mọi người; cũng khơi dậy niềm hào hứng, nhưng chẳng thể lôi kéo được toàn dân; sự chú ý hay hào hứng trong những dịp đó phần nào chỉ là do thói quen, tục lệ, hoặc mang tính thủ tục công sở. Chỉ riêng Ngày Cup, và duy nhất Ngày Cup, mới có khả năng huy động sự chú ý, niềm hứng thú và sự cuồng nhiệt mang tính toàn dân — một cách hoàn toàn tự nguyện chứ không hề khiên cưỡng. Ngày Cup là tối thượng — không có đối thủ. Tôi chịu, chẳng thể nhớ nổi ở bất kỳ quốc gia nào có một ngày lễ hằng năm nào đủ tầm để gánh cái danh xưng vĩ đại ấy: Tối thượng. Tôi cũng chịu, chẳng nhớ nổi ngày lễ nào trên thế giới mà mỗi khi nó đến gần lại châm ngòi cho toàn bộ đất nước bùng lên một trận "hỏa thần" của những cuộc trò chuyện, sự chuẩn bị, niềm mong chờ và sự hân hoan cuồng nhiệt. Chẳng có ngày nào ngoài ngày này; chỉ duy nhất ngày này làm được điều đó.

Ở Mỹ, chúng tôi không có ngày lễ hằng năm nào đạt đến tầm tối thượng như vậy; không có ngày nào mà sự xuất hiện của nó lại làm cho cả dân tộc vui mừng. Chúng tôi có Ngày Quốc Khánh 4 tháng 7, Giáng sinh và Lễ Tạ ơn. Nhưng chẳng ngày nào chiếm vị trí thế thượng phong; chẳng ngày nào khơi dậy được niềm cuồng nhiệt đạt đến ngưỡng toàn dân. Cứ mười người Mỹ trưởng thành thì có đến tám người phát hoảng khi nghĩ đến Ngày 4 tháng 7 với tiếng ồn náo loạn và những nguy hiểm rình rấp của nó, để rồi họ thở phào nhẹ nhõm khi nó qua đi — nếu bản thân vẫn còn sống sót. Sự cận kề của Giáng sinh thì mang lại sự phiền thoái và lo âu cho không biết bao nhiêu người tử tế. Họ phải đi mua cả một xe quà tặng, mà chẳng bao giờ biết mua gì để hợp gu từng người; họ trải qua ba tuần làm việc vất vả và căng thẳng, để rồi đến sáng Giáng sinh, họ lại thất vọng và chán nản với kết quả đến mức chỉ muốn ngồi xuống mà khóc. Rồi họ lại thầm cảm tạ trời đất vì Giáng sinh mỗi năm chỉ có một lần. Còn việc ăn mừng Lễ Tạ ơn — như một nghi thức — thì những năm gần đây mới trở nên phổ biến. Nhưng "lòng biết ơn" thì chẳng phổ biến đến thế. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Hai phần ba dân số lúc nào chẳng gặp vận đen và sống chật vật trong suốt cả năm, và điều đó dĩ nhiên đã dội một gáo nước lạnh vào niềm hào hứng của họ.

Thực ra chúng tôi cũng có một ngày tối thượng — một ngày vô cùng cuồng nhiệt, dữ dội và chấn động, một ngày cuốn hút sự quan tâm và phấn khích của tuyệt đối toàn dân; thế nhưng nó lại không diễn ra hằng năm. Nó chỉ xuất hiện bốn năm một lần (dịp Bầu cử Tổng thống); thế nên nó không thể coi là đối thủ cạnh tranh với Melbourne Cup được.

Ở Anh và Ireland, họ có hai ngày lễ lớn — Giáng sinh và Sinh nhật Nữ hoàng. Nhưng cả hai ngày này đều nổi tiếng ngang nhau, chẳng ngày nào xưng hùng xưng bá được.

Tôi nghĩ ai cũng phải công nhận rằng vị thế của Ngày Melbourne Cup ở Australasia là độc nhất vô nhị, cô tôn, không đối thủ; và nhiều khả năng nó sẽ còn giữ vững vị trí cao quý đó trong một thời gian dài nữa.

Điều tiếp theo thu hút chúng ta khi đi du lịch, đầu tiên là con người; tiếp đến là những điều mới lạ; và cuối cùng là lịch sử của những địa danh, quốc gia ta ghé thăm. Sự mới lạ vốn là hàng hiếm ở những thành phố đại diện cho nền văn minh tiên tiến nhất của thời hiện đại. Một khi bạn đã quen thuộc với những đại đô thị như vậy ở các nơi khác trên thế giới, thì về cơ bản bạn cũng đã quá quen với các thành phố của Australasia rồi. Diện mạo bên ngoài của chúng chẳng có mấy điều mới mẻ. Sẽ có những cái tên mới, nhưng những thứ đằng sau cái tên đó đôi khi lại chẳng mới bằng chính tên gọi của chúng. Có thể có những khác biệt nhỏ, nhưng chúng dễ dàng lướt qua mắt một kẻ lãng du cưỡi ngựa xem hoa. Nhìn một gã "larrikin" (du côn bản địa), bạn sẽ chẳng thể phát hiện ra một giống loài mới nào đâu, mà chỉ thấy lại một bản mặt cũ ồn ào từng gặp ở nơi khác — kẻ mà tùy theo vùng địa lý sẽ được gọi là kẻ ăn lười, tên thô bạo, gã bặm trợn, kẻ lang thang hay gã bốc phét. Gã larrikin chỉ khác những kẻ kia một chút xíu: gã hòa đồng hơn với người lạ, tốt tính hơn, hiếu khách hơn, nồng nhiệt và thân thiện hơn. Ít nhất thì tôi thấy thế, vì tôi đã có cơ hội quan sát. Tối thiểu là ở Sydney. Ở Melbourne, tôi toàn phải đi xe diễn thuyết rồi về ngay, nhưng ở Sydney thì tôi có thể đi bộ cả hai chiều, và tôi đã làm vậy. Mỗi đêm, trên đường về nhà lúc mười giờ hoặc mười giờ mười lăm, tôi đều thấy mấy gã larrikin tụ tập khá đông ở vài góc đường, và gã nào cũng dành cho tôi lời chào dễ thương thế này:

“Chào Mark!”

“Nâng ly vì ông anh, ông bạn già!”

“Này — Mark! — ổng chết chưa?” — một câu nhắc đến một đoạn trong cuốn sách nào đó của tôi, dù lúc đó tôi chẳng nhận ra nguồn gốc của nó. Và sau này ở Melbourne tôi cũng chẳng nhận ra, khi tôi bước lên sân khấu lần đầu tiên và câu hỏi tương tự từ độ cao chóng mặt trên khán đài tầng trên dội xuống đầu tôi. Lúc nào cũng thật khó để trả lời một câu hỏi đường đột như thế khi bạn hoàn toàn chưa chuẩn bị và chẳng hiểu nó có nghĩa lý gì. Tôi cũng xin phép ghi chú ở đây — nếu điều này không bị coi là khiếm nhã — rằng sự đón tiếp mà một diễn giả người Mỹ nhận được từ khán giả thuộc địa Anh là một điều gì đó sẽ chạm đến tận đáy lòng ông ta, làm mờ mắt ông ta và khiến giọng nói ông ta nghẹn ngào. Và từ Winnipeg cho đến Châu Phi, kinh nghiệm cũng chẳng giúp ích được gì; ông ta sẽ chẳng bao giờ học được cách chuẩn bị tinh thần cho việc đó, lần nào nó cũng sẽ đến như một sự ngạc nhiên bất ngờ. Mây đen chiến tranh đang bao phủ u ám giữa Anh và Mỹ chẳng gây cho tôi chút rắc rối nào. Tôi vốn là một tù binh chiến tranh tiềm năng, nhưng tại các buổi tiệc trưa, tiệc tối, trên bục diễn thuyết và ở những nơi khác, chẳng bao giờ có bất kỳ điều gì nhắc nhở tôi về chuyện đó. Đó là sự hiếu khách chuẩn chất lượng vàng, thứ mà trong những hoàn cảnh tương tự sẽ thiếu vắng một cách trầm trọng ở một số quốc gia khác.

Nhắc đến cơn sốt chiến tranh, nó dường như đã làm lộ ra những điều bất ngờ ở một vài chi tiết. Nó dường như đã đẩy những chuyện phiếm về chiến tranh cho giới chính trị gia ở cả hai bên bờ đại dương; trong khi trước đây, mỗi khi nguy cơ chiến tranh giữa hai quốc gia lơ lửng trên không trung, thì công chúng mới là những kẻ nói nhiều nhất và gay gắt nhất. Thái độ của báo chí cũng rất mới mẻ. Tôi đang nói đến báo chí của Australasia và Ấn Độ, vì tôi chỉ tiếp cận được những tờ báo đó. Họ tiếp cận chủ đề này một cách có luận điểm và điềm tĩnh, chứ không bằng sự hằn học và giận dữ. Đó cũng là một tinh thần mới, và dĩ nhiên là chẳng học theo báo chí Pháp hay Đức, dù là trước hay sau trận Sedan. Tôi đã nghe nhiều bài phát biểu công khai, và chúng phản ánh sự chừng mực của các trang báo. Triển vọng là chủng tộc nói tiếng Anh sẽ thống trị thế giới trong một trăm năm nữa, nếu các nhánh của nó không đâm chém lẫn nhau. Thật tiếc nếu làm hỏng triển vọng đó bằng những cuộc chiến tranh gây cản trở và thụt lùi, trong khi việc trọng tài phân xử có thể giải quyết các tranh chấp tốt hơn và dứt điểm hơn nhiều.

Không, như tôi đã gợi ý, những điều mới lạ thật hiếm hoi ở các thủ đô lớn thời hiện đại. Ngay cả sàn giao dịch lông cừu ở Melbourne cũng chẳng thể phân biệt nổi với sàn giao dịch chứng khoán quen thuộc ở các nước khác. Các môi giới lông cừu thì hệt như các môi giới chứng khoán; họ đều chồm dậy khỏi ghế, giơ tay lên và gào thét cùng lúc — người ngoài chẳng thể hiểu họ gào cái gì — và vị chủ tịch thản nhiên tuyên bố: “Bán cho Smith & Co., ba xu một tư — người tiếp theo!” — trong khi có khi chẳng có chuyện gì như thế xảy ra cả; vì làm sao ông ta biết được cơ chứ?

Trong các bảo tàng, bạn sẽ tìm thấy vô số những thứ kỳ lạ và mê hoặc nhất; nhưng bảo tàng nào mà chẳng mê hoặc, và chúng làm bạn mỏi mắt, đau lưng, vắt cạn kiệt sức lực của bạn bằng những điều thú vị ngốn năng lượng ấy. Lúc nào bạn cũng tự hứa là sẽ không bao giờ quay lại nữa, nhưng rồi bạn vẫn cứ đi. Những dinh thự của giới nhà giàu ở Melbourne khá giống với những dinh thự của giới nhà giàu ở Mỹ, và lối sống trong đó cũng vậy; nhưng sự tương đồng chỉ dừng lại ở đó. Khuôn viên xung quanh các dinh thự Mỹ thường không lớn, cũng chẳng mấy khi đẹp, nhưng ở Melbourne thì khuôn viên thường rộng lớn như của các công tước, và khí hậu cùng với tay nghề của những người làm vườn đã biến chúng thành những không gian đẹp như một giấc mơ. Người ta nói rằng một số trang trại ở vùng quê có những khuôn viên — những khoảng không gian rộng lớn — sánh ngang về vẻ đẹp và quy mô với những dinh thự nông thôn của một quý tộc Anh; nhưng tôi thì không ra vùng quê; tôi đã bận túi bụi ở trong thành phố rồi.

Và nguồn gốc của thành phố uy nghi này cùng với sự bùng nổ của các dinh thự phố xa hoa và các trang trại quê là gì? Viên gạch đầu tiên của nó được đặt và ngôi nhà đầu tiên của nó được xây bởi một phạm nhân đi ngang qua! Lịch sử Úc hầu như luôn mang tính ly kỳ; quả thực, nó kỳ lạ và quái dị đến mức bản thân nó chính là điều mới lạ lớn nhất mà đất nước này sở hữu, và thế là nó đẩy những điều mới lạ khác xuống hàng thứ hai, thứ ba. Đọc lịch sử của họ mà chẳng giống lịch sử chút nào, nó giống như những lời nói dối tuyệt vời nhất. Mà lại toàn là những lời nói dối mới tinh, tươi chói, chứ không phải mấy trò cũ rích mốc meo. Nó đầy ắp những bất ngờ, phiêu lưu, tréo ngoe, mâu thuẫn và vô lý đến kinh ngạc; thế nhưng tất cả đều là sự thật, tất cả đều đã thực sự xảy ra.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.