Thê tử của Táo thần

Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Cửa Hàng Thần Tiên

❊ ❊ ❊

Mỗi khi mẹ nói chuyện với tôi, câu mở đầu lúc nào cũng giống như đang cãi nhau với tôi vậy.

Tuần trước bà gọi điện cho tôi, vừa nhấc máy liền nói: "Trân Châu à—con nhất định phải đi đấy, không có gì phải bàn cãi cả." Phải một lúc lâu sau, tôi mới hiểu được lý do bà gọi điện: Dì Helen mời cả nhà đến tham dự bữa tiệc đính hôn của em họ Bảo Bảo.

Cái gọi là "cả nhà" ở đây chính là chỉ nhà họ Khương và nhà họ Louis. Nhà họ Khương có dì Helen, cậu Henry, Mary, Frank, cộng thêm Bảo Bảo. Còn nhà họ Louis thì sao, bây giờ thực ra chỉ còn lại tôi và mẹ, bởi vì bố tôi đã qua đời, và em trai tôi Samuel hiện đang ở New Jersey. Từ lúc tôi còn có thể nhớ sự việc, người khác đã xem chúng tôi như "một nhà", mặc dù nhà họ Khương không có quan hệ huyết thống với chúng tôi, mà chỉ có quan hệ thông gia. Chồng trước của dì Helen là anh trai của mẹ tôi, đã qua đời từ rất lâu trước khi tôi sinh ra.

Nhắc đến cậu em họ Bảo Bảo của tôi, tên thật của cậu ấy là Roger. Nhưng từ nhỏ cả nhà đã gọi cậu ấy là Bảo Bảo — Bảo Bảo trong tiếng Trung có nghĩa là "đứa trẻ ngoan" — sau này cứ thế gọi thành quen, bởi vì cậu ấy là một đứa trẻ hay khóc nhè, cậu và mợ vừa bước vào cửa là cậu ấy liền O o khóc lớn, nói rằng những đứa trẻ khác trêu chọc mình. Bây giờ tuy cậu ấy đã ba mươi mốt tuổi rồi, mọi người vẫn đối xử với cậu ấy như trẻ con, vẫn muốn trêu chọc cậu ấy.

"Bảo Bảo? Sao nó lại tổ chức tiệc đính hôn nữa vậy?" Tôi nói, "Đây là lần kết hôn thứ ba của nó rồi chứ nhỉ?"

"Lần thứ tư đấy!" Mẹ tôi nói, "Lần trước không thành, không lâu sau khi chúng ta gửi quà thì tiêu tỏi. Đương nhiên, lần này Helen không nói là tiệc đính hôn, bà ấy chỉ nói là tổ chức một buổi họp mặt lớn cho Mary."

"Mary cũng đến chứ?" Tôi hỏi. Mary và tôi không chỉ là chị em họ, mà còn có một mối quan hệ khác nữa, cô ấy đã kết hôn với Đỗ Sở, Đỗ Sở là bạn học của chồng tôi Philip Brandt tại trường y. Tính ra, mười sáu năm trước, tôi và Philip còn là nhờ cô ấy giới thiệu mới quen nhau đấy.

"Mary muốn đến, chồng và các con của con bé cũng đến," mẹ tôi nói, "Tuần sau bay thẳng từ Los Angeles đến đây. Không kịp mua vé ưu đãi nữa rồi. Mua vé nguyên giá đấy, con dám nghĩ không?"

"Tuần sau?" Vừa nói, tôi vừa tìm cớ, "Bây giờ thông báo chúng ta thay đổi kế hoạch tạm thời hình như hơi muộn một chút, chúng ta vốn dĩ định đi—"

"Dì Helen đã tính cả hai vợ chồng con vào rồi đấy. Đãi tiệc ở nhà hàng Thủy Long — phải bày năm bàn lận đấy! Hai vợ chồng con mà không đi, một nửa số bàn sẽ trống không đấy."

Tôi tưởng tượng ra dáng vẻ của dì Helen, vừa lùn vừa mập, lùn tịt chỉ cao bằng chân bàn. "Ngoài ra còn có những ai đi nữa?"

"Nhiều lắm chứ, toàn là những nhân vật lớn thôi." Giọng điệu mẹ tôi khi nói ba chữ "nhân vật lớn" giống như đang nhắc đến người mà bà không thích vậy. "Đương nhiên, bà ấy cũng sẽ nói với người ta rằng Bảo Bảo và vị hôn thê của nó cũng sẽ đi. Thế là mọi người đều sẽ hỏi bà ấy: 'Vị hôn thê ư? Bảo Bảo lại có vị hôn thê mới nữa sao?' Sau đó, bà ấy sẽ nói: 'Ồ, tôi lại quên mất. Vốn dĩ là muốn mang lại cho mọi người một sự bất ngờ lớn cơ mà. Đừng nói ra ngoài đấy nhé'."

Mẹ tôi hừ một tiếng. "Bà ấy cứ thích dùng cách này để cho mọi người biết chuyện đó. Cho nên ấy à, con phải mang theo một món quà, cũng cho bà ấy một phen bất ngờ đi. Lần trước con đã mua gì thế?"

Khuôn mặt cô gái ấy? "Cho Bảo Bảo và vị hôn thê của nó á? Con quên mất rồi, đại khái là một hộp kẹo."

"Sau khi chúng chia tay, nó có mang trả lại không?"

"Hình như không. Con không nhớ nữa."

"Thấy chưa! Đây chính là phong cách của người nhà họ Khương. Lần này đừng tốn ngần ấy tiền oan nữa."

Hai ngày trước bữa tiệc, tôi lại nhận được một cuộc điện thoại từ mẹ.

“Nghe này, bây giờ có muốn làm gì thì cũng quá muộn rồi.” Nghe giọng điệu của bà, có vẻ như tôi đã phạm phải lỗi lầm gì vậy. Sau đó bà nói với tôi rằng dì cả Đỗ đã qua đời, hưởng thọ chín mươi bảy tuổi. Tin tức này không khiến tôi ngạc nhiên chút nào, tôi còn tưởng là bà ấy đã qua đời từ lâu rồi cơ chứ.

"Bà ấy đã để lại cho con một vài món đồ tốt," mẹ tôi nói, "Cuối tuần này con có thể đến lấy đi."

Dì cả Đỗ thực ra chỉ có quan hệ huyết thống một ít với Helen, là chị em cùng cha khác mẹ hoặc họ hàng đại loại như thế của bố Helen. Nhưng tôi nhớ rằng, chính mẹ tôi là người vẫn luôn giúp đỡ chăm sóc dì cả Đỗ. Bà mỗi tuần giúp dì đổ rác một lần; mỗi khi nhận được phiếu trúng độc đắc "một triệu đô la" in tên bà cụ, bà liền khuyên bà cụ đừng bị lừa mà đặt mua những tạp chí đó; bà hết lần này đến lần khác chạy đến cơ quan y tế vệ sinh California, để xin trợ cấp chi phí y tế người cao tuổi cho dì cả Đỗ.

Nhiều năm qua, mẹ tôi vẫn luôn phàn nàn với tôi, nói rằng Helen không làm những việc này, ngược lại bắt bà phải làm. Mẹ tôi cứ luôn miệng nói "Helen ấy mà, thậm chí còn chẳng thèm nhắc đến". Có một lần, — đại khái là mười năm trước — tôi cắt ngang lời lải nhải của bà, tôi nói, "Sao mẹ không nói thẳng với dì Helen rằng mẹ phiền chết đi được, mà cứ lải nhải mãi với tôi thế?" Đây là Philip dạy tôi nói, dùng một cách thức hợp tình hợp lý này, để mẹ tôi hiểu rõ rốt cuộc là cái gì khiến bà sống mệt mỏi như vậy, để bà có thể hành động dứt khoát.

Câu nói này vừa thốt ra khỏi miệng tôi, mẹ tôi vậy mà ngây người ra, bộ mặt thẫn thờ, cứng họng không nói nên lời. Kể từ dạo đó, bà không bao giờ lải nhải với tôi nữa. Thực ra, gần như suốt hai tháng trời, bà không hề nói chuyện với tôi. Sau đó khi giữa chúng tôi lại bắt đầu trò chuyện, thì không bao giờ nhắc lại chuyện dì cả Đỗ nữa. Tôi nghĩ, đây đại khái chính là lý do tại sao tôi cứ tưởng dì cả Đỗ đã qua đời từ lâu rồi.

"Rốt cuộc là chuyện thế nào vậy?" Nghe tin dì cả Đỗ qua đời, tôi cố gắng dùng giọng điệu bình tĩnh mang theo chút chấn động để hỏi, "Là đột quỵ à?"

"Là tai nạn xe cộ." Mẹ tôi nói.

Rõ ràng, dì cả Đỗ cho đến tận chặng cuối của cuộc đời, vẫn là một người tràn đầy năng lượng, thân thể khỏe mạnh. Ngày xảy ra chuyện, chiếc xe buýt số 1 California mà bà khi đó đang đi, vì để né tránh một chiếc xe thể thao độ tốc độ cao đột ngột bật đèn tín hiệu dừng xe mà mẹ tôi gọi là "đám thanh niên điên rồ lái", nên đã bị lật nháng bên lề đường. Dì cả Đỗ lảo đảo một cú, ngã nhào vào lối đi giữa các hàng ghế. Đương nhiên, mẹ tôi lập tức vội vã đến bệnh viện thăm bà. Bác sĩ không kiểm tra ra vấn đề lớn gì, chỉ phát hiện ra một số vết thâm tím do trầy xước. Nhưng dì cả Đỗ nói bà không kịp đợi bác sĩ tìm ra căn bệnh mà bà đã sớm biết trước, thế là bắt mẹ tôi viết di chúc của bà, dặn dò hậu sự, cái ghế sô-pha có mắt gỗ đã dùng ba mươi năm nay thì cho ai, chiếc tivi đen trắng cho ai, vân vân và mây mây. Ngay vào buổi tối hôm đó, bà đã qua đời vì chứng chấn động não chưa rõ nguyên nhân. Helen vốn dĩ định ngày hôm sau sẽ đến thăm bà, nhưng đã quá muộn rồi.

"Bảo Bảo Roger nói chúng ta nên kiện tụng, đòi bồi thường một triệu." Mẹ tôi nói, "Con có tưởng tượng nổi không? Lại đi nảy ra cái ý nghĩ đó. Lúc dì cả Đỗ sắp chết, nó vậy mà không khóc, còn muốn kiếm tiền từ người chết! Hừ! Sao tôi còn phải đi nói với nó chuyện dì cả Đỗ để lại cho nó hai cái đèn chứ? Có lẽ tôi nên cố tình quên béng chuyện này đi."

Mẹ tôi dừng lại một lát, rồi nói: "Bà ấy thực sự là một người phụ nữ tốt, đã đặt sẵn mười bốn vòng hoa rồi đấy." Sau đó bà lại hạ thấp giọng nói, "Đương nhiên, mỗi vòng đều được giảm giá hai mươi phần trăm."

Mẹ tôi và dì Helen cùng nhau mở một "Tiệm hoa Đinh Hòa" ở hẻm Roselia, khu phố Tàu. Hai người họ nảy ý định làm nghề bán hoa là từ khoảng hai mươi lăm năm trước, lúc đó, bố tôi vừa mới qua đời, còn dì Helen thì mất việc. Tiệm hoa xét theo một ý nghĩa nào đó đã trở thành một giấc mơ để bù đắp cho thiên tai nhân họa.

Mẹ tôi dùng một khoản tiền quyên góp từ Nhà thờ Baptist người Hoa đầu tiên làm tiền vốn mở tiệm hoa, bố tôi lúc sinh thời là mục sư phụ tá của nhà thờ đó. Dì Helen dùng tiền tiết kiệm trong thời gian làm việc ở một tiệm hoa khác, bà học nghề bán hoa ở tiệm hoa đó, rồi cũng bị sa thải ở chính nơi đó. Dì Helen tự nói rằng, bà bị sa thải là vì "quá thật thà". Nhưng mẹ tôi đoán rằng, sở dĩ dì Helen bị sa thải là vì bà cứ luôn tiết kiệm tiền cho khách hàng, khuyên họ mua những loại hoa rẻ nhất.

"Có đôi khi mẹ thật sự hối hận vì sau khi kết hôn lại bước chân vào một gia đình Trung Quốc." Khi Philip nghe tin chúng tôi buộc phải xuất phát từ ngôi nhà ở San Jose, đi đến tận San Francisco cách xa trăm dặm, hơn nữa vào cuối tuần có trận đấu bóng đá thì giao thông lại càng đông đúc hơn, liền không nhịn được mà nói như vậy. Mặc dù trong mười lăm năm sau khi kết hôn, anh ấy dần dần thực lòng thích mẹ tôi rồi, nhưng vẫn có phần bực bội trước không ít yêu cầu của bà. Hơn nữa, sau khi tan làm ở bệnh viện mà phải trải qua dịp cuối tuần với một đại gia đình, tuyệt đối không phải là cách nghỉ dưỡng mà anh ấy thích.

"Ý anh là chúng ta nhất định phải đi sao?" Anh ấy nói một cách lơ đãng, tay bận rộn vọc một phần mềm mới được cài vào máy tính xách tay của mình. Anh ấy nhấn một phím, "Thành công rồi!" Anh ấy hét lên hướng về phía màn hình, tay chân múa may quay cuồng. Philip năm nay bốntam niên tuổi, mái tóc xám thô cứng của anh ấy thường khiến người ta cảm thấy khó gần. Nhưng lúc này đây, dáng vẻ chăm chú toàn tâm toàn lực ấy giống như một đứa trẻ đang chơi đồ chơi tàu chiến vậy.

Tôi giả vờ như mình cũng đang rất bận, cắm cổ gặm một đoạn văn khó hiểu. Ba tháng trước, tôi đã nhận được một vị trí bác sĩ ngoại trú điều trị chứng rối loạn ngôn ngữ tại học khu địa phương. Tôi cơ bản vẫn hài lòng với công việc này, nhưng đồng thời lại âm thầm lo lắng rằng mình có thể đã bỏ lỡ cơ hội công việc tốt hơn. Những suy nghĩ này đều do mẹ nhồi nhét vào đầu tôi. Khi tôi đem tin này nói cho bà, rằng tôi đã vượt qua hai người khác cùng ứng tuyển vị trí đó mà được chọn, mẹ tôi đã nói: "Hai người á? Chỉ có hai người muốn công việc này thôi á?"

Lúc này Philip nhổm người dậy khỏi máy tính, chú ý đến tôi. Tôi biết anh ấy đang nghĩ gì, là đang lo lắng cho bệnh xơ cứng rải rác của tôi, chúng tôi gọi nó là "tình trạng sức khỏe" của tôi, căn bệnh này tuy chưa đến mức khiến tôi suy nhược toàn thân, nhưng lại khiến tôi hở một chút là cảm thấy mệt mỏi. "Cuối tuần này sẽ trôi qua rất căng thẳng đây," anh ấy nói, "Hơn nữa, anh thấy em cũng không chịu nổi cậu em họ Bảo Bảo của em, huống chi Mary cũng sẽ đến đó nữa chứ. Ôi trời, thế này thì hay rồi."

"Ừm."

"Vậy là em nhất định phải đi rồi chứ gì?"

"Ừ-hừ."

Anh ấy thở dài một tiếng. Cuộc thảo luận của chúng tôi đến đây là kết thúc. Những năm tháng kết hôn vừa qua, chúng tôi đã học được cách né tránh những chủ đề liên quan đến nhà mẹ đẻ của tôi, trách nhiệm của tôi. Bởi vì những cuộc cãi vã của chúng tôi thường là do chủ đề này khơi mào. Mới ngày nào khi chúng tôi vừa kết hôn, Philip cứ luôn nói rằng tôi làm bất cứ chuyện gì cũng luôn mù quáng lo lắng và mang tâm lý tội lỗi. Còn tôi thì phản bác lại rằng anh ấy ích kỷ, tôi nói, con người sống trên đời đôi khi luôn phải làm một số việc không thoải mái hoặc không thuận tiện. Sau đó anh ấy liền nói, lý do duy nhất chúng ta bắt buộc phải làm như vậy là bởi vì em đã bị nhà mẹ đẻ sai khiến đến mức luôn cho rằng mình không còn sự lựa chọn nào khác, rồi lại dùng chính cách đó để sai khiến anh. Sau đó đứa con đầu lòng Tasha của chúng tôi chào đời, một năm sau bệnh tình của tôi lại được chẩn đoán ra, thế là cách thức tranh cãi của chúng tôi cũng thay đổi. Có lẽ là bởi vì Philip không chỉ đối với con cái, mà đối với cả tôi, ít nhất là đối với tình trạng sức khỏe của tôi, đã sinh ra một thứ tinh thần trách nhiệm. Chúng tôi không còn tự cho là đúng mà cãi nhau không ngừng về sự khác biệt trong quan niệm nữa, đó thuần túy là vấn đề lựa chọn cá nhân. Thế là những chuyện liên quan đến lựa chọn cá nhân liền trở nên khó giải quyết, giống như hút thuốc, ăn thịt bê và đeo đồ trang sức bằng ngà voi vậy, đã trở thành một gánh nặng một khi dính vào thì rất khó vứt bỏ.

Những ngày này, vấn đề chúng tôi tranh cãi ngày càng nhỏ hơn, ngày càng cụ thể hơn — ví dụ như, thứ chúng tôi tranh cãi không phải là thái độ khác nhau của chúng tôi đối với kỷ luật, mà là liên quan đến việc tôi hứa cho Tasha xem thêm nửa tiếng ti-vi. Kết quả là, ý kiến của chúng tôi gần như lúc nào cũng xấp xỉ giống nhau — có lẽ là hơi sảng khoái quá một chút, bởi vì chúng tôi sớm đã lường trước được việc không đồng tình sẽ có hậu quả như thế nào.

Chúng tôi cố gắng khiến cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn, ổn định hơn. Nhưng tôi vẫn thỉnh thoảng cảm thấy nôn nao bất an. Nói thật lòng, tôi thà quay lại như trước đây còn hơn, Philip và tôi cãi nhau, tôi thì tự biện hộ cho mình, ít nhất bản thân còn chắc chắn rằng mình đúng. Còn bây giờ — ví dụ như hôm nay — tôi thực sự không tài nào xác định được tại sao tôi cứ phải gánh vác trách nhiệm của nhà mẹ đẻ. Tôi tuyệt đối sẽ không thừa nhận điều này trước mặt Philip, nhưng tôi đã cảm thấy chán ngấy cái trách nhiệm này rồi. Tôi không muốn gặp người nhà họ Khương, đặc biệt là Mary. Mỗi khi ở cùng mẹ, tôi luôn cảm thấy mình bắt buộc phải dùng toàn bộ thời gian để né tránh những quả mìn dưới chân.

Cho nên, có lẽ vì cảm thấy có lỗi với Philip, có lẽ vì tự giận chính mình; tôi đã kéo dài đến tận ngày hôm sau mới nói với Philip rằng, chúng tôi phải ở lại đó qua đêm — tham dự đám tang của dì cả Đỗ.

Vì cái ngày cuối tuần chết tiệt đó, Philip và tôi đã quyết định vào thành phố từ sớm để sắp xếp chỗ ở, hoặc là đưa lũ trẻ đi dạo sở thú. Ngày trước khi đi, xoay quanh vấn đề chúng tôi sẽ nghỉ qua đêm ở đâu, tôi và mẹ còn có một trận cãi vã khách sáo với nhau.

"Mẹ khách sáo quá rồi đấy, Winnie," Philip vừa giải thích với mẹ tôi qua điện thoại, "Nhưng tụi con đã đặt phòng ở khách sạn rồi." Tôi nghe trộm cuộc trò chuyện của họ qua chiếc máy phụ, trong lòng thầm vui mừng. Chính là tôi bảo anh ấy gọi cú điện thoại này, và tìm cái cớ này.

"Khách sạn nào cơ?" Mẹ tôi hỏi.

"Một nhà nghỉ dọc đường." Philip nói dối, thực ra chúng tôi đã đặt phòng ở khách sạn Hyatt.

“Ôi, đắt lắm đấy!” Mẹ tôi nói, “Việc gì phải lãng phí tiền bạc thế chứ? Các con có thể ở lại qua đêm nhà mẹ cơ mà, phòng thì thiếu gì.”

Philip lịch sự từ chối: "Thôi ạ, thôi ạ, thật đấy. Làm phiền như thế thì ngại lắm. Thật ạ."

"Làm phiền ai cơ chứ?" Mẹ tôi nói.

Cho nên lúc này Philip đang ở trong phòng của em trai tôi để sắp xếp chỗ ở cho lũ trẻ. Trước đây mỗi khi tôi và Philip muốn đi họp y hội, liền để tụi nhỏ ở lại đây. Thật ra, có đôi khi chúng tôi chỉ nói là đi họp y hội, thực chất là về nhà làm việc, làm cho xong những việc nhà mà khi có con bên cạnh không tài nào làm xong nổi.

Philip quyết định để cô con gái tám tuổi Tasha ngủ giường đơn, cô con gái ba tuổi Cleo ngủ giường xếp.

"Lần này đến lượt em ngủ giường," Cleo nói, "Bà ngoại từng nói rồi mà."

"Nhưng Cleo này," Tasha giải thích, "Em thích giường xếp cơ mà."

"Bà — ngoại!" Cleo vội vàng gọi mẹ tôi đến làm viện binh cho con bé, "Bà ngoại ơi!"

Philip và tôi ở trong căn phòng chất đầy đồ đạc theo lối cổ của tôi. Kể từ khi kết hôn, tôi chưa từng ở lại đây lần nào. Căn phòng vẫn giống hệt như hồi tôi còn là thiếu nữ, không có gì thay đổi cả, chỉ là mỗi một món đồ trong đó đều trông vô cùng sạch sẽ: Một chiếc giường đôi, chân giường và khung giường vừa dày vừa nặng; một chiếc bàn trang điểm có gương tròn, cẩn gỗ lượn sóng, gỗ sồi, những lớp gỗ mỏng làm bằng bướu cây và xà cừ. Thật kỳ lạ, sao lúc đầu tôi lại có thể ghét cái bàn này chứ, bây giờ nhìn lại, tay nghề chế tác của nó vô cùng tinh xảo, lại khá đẹp nữa chứ. Tôi không biết sau này mẹ có bằng lòng để lại cho tôi hay không.

Tôi phát hiện ra mẹ đã đặt một đôi dép lê cũ kiểu Trung Quốc dưới gầm giường, chính là đôi dép mà mỗi bên ngón cái đều có một lỗ thủng ấy. Bà chẳng nỡ vứt đi thứ gì cả, nhỡ đâu hai mươi năm nữa vẫn dùng đến thì sao. Tasha và Cleo chắc lại chui vào nhà kho lục tung mọi ngóc ngách, lật tung lựa chọn trong đống đồ chơi cũ và thùng phế liệu. Bên cạnh đôi dép lê, là quần áo búp bê vứt bừa bãi, vương miện pha lê hình nữ vương và một chiếc hộp nhựa màu hồng có in dòng chữ "Bí mật của tôi" trên nắp. Chúng thậm chí còn treo cả tấm áp phích ngôi sao phong cách Hollywood hài hước do chính tay tôi làm hồi lớp sáu lên cửa, trên đó thậm chí còn có tên "Trân Châu" của tôi được ghép bằng cườm nữa cơ.

"Trời ạ," Philip cố ý dùng giọng điệu ngốc nghếch để nói, "Cái này tuyệt đối còn tuyệt hơn cả nhà nghỉ dọc đường." Tôi đấm vào đùi anh ấy một cái. Anh ấy vỗ vỗ vào cặp khăn trải gối lệch tông trên giường. Cặp khăn trải gối này vẫn là quà Giáng sinh mà nhà họ Khương tặng khi chúng tôi mới chuyển từ khu phố Tàu đến khu Richmond, nghĩa là, đã dùng ít nhất ba mươi năm rồi.

Lúc này, Tasha và Cleo vừa đùa giỡn vừa chạy vào phòng chúng tôi, nhao nhao đòi đi sở thú. Philip định nhân lúc tôi sang tiệm hoa Đinh Hòa giúp đỡ thì đưa tụi nhỏ đi. Mẹ tôi thực ra không hề nói nhất định phải tôi qua giúp, chỉ là nhắc qua một cách ngắn gọn rằng dì Helen đã sớm rời tiệm hoa để bận rộn chuẩn bị cho bữa tiệc lớn của mình — mặc dù tiệm hoa có vô số việc vặt, ngày mai lại còn phải lo đám tang cho dì cả Đỗ. Sau đó bà nhắc nhở tôi, dì cả Đỗ lúc nào cũng cảm thấy tự hào về tôi — trong từ vựng của nhà mẹ đẻ tôi, từ "tự hào" có ý nghĩa gần giống như từ "yêu". Sau đó bà lại gợi ý rằng có lẽ tôi nên qua sớm một chút, chọn một vòng hoa nào đẹp một chút.

"Em năm rưỡi sẽ về." Tôi nói với Philip.

"Con muốn đi xem voi châu Phi," Tasha ngồi phịch lên giường của chúng tôi, rồi bẻ ngón tay tính toán, "Còn có koala, thú ăn kiến có gai và cá voi lưng gù." Tôi mãi vẫn không hiểu nổi con bé học được cái thói quen xếp đặt mọi thứ này từ đâu — từ Philip? Từ tôi? Hay là từ ti-vi?

"Phải nói là 'xin phép', chứ," Philip nhắc nhở con bé, "Hơn nữa, trong sở thú cũng sẽ không có cá voi đâu."

Tôi quay sang nhìn Cleo, tôi đôi khi lo lắng con bé sẽ trở nên rụt rè trước người chị tự tin của mình. "Thế con muốn xem gì nào?" Tôi dịu dàng hỏi con bé. Nó dán mắt vào đầu giày của mình, suy nghĩ một lát, cuối cùng đáp rằng:

"Tùy ạ."

Lúc tôi quay lại hẻm Roselia, mọi thứ xung quanh đã chìm vào yên lặng. Nắng gắt buổi chiều đã không còn chói chang nữa, âm thanh nhộn nhịp nơi phố chợ ngày cuối tuần hai bên vỉa hè phố Tàu cũng đã lắng xuống, cả con hẻm trở nên vô cùng quạnh quẽ, ánh sáng xám xịt, hầu như còn mang theo chút sắc xanh nhạt.

Bên phải con phố vẫn là tiệm cắt tóc cũ kỹ đó, do A Phúc mở, tôi chú ý thấy ông ấy vẫn đang dùng tông đơ điện để tỉa râu quai nón cho khách hàng. Đối diện con phố vẫn là một loạt các cửa hàng liền nhà ở, trong đó có một tiệm chuyên nhận vận chuyển di vật của tổ tiên về đại lục để kiếm chút phí dịch vụ. Cuối con hẻm là cửa trước của một tiệm bói toán, trên cửa sổ dán một tấm biển viết tay, tuyên bố "Con số may mắn nhất, bói toán cát tường nhất", nhưng tấm biển treo trên cửa lại viết là "Tạm ngừng kinh doanh".

Lúc tôi bước qua cánh cửa đó, tấm rèm cửa màu vàng phát ra tiếng xào xạc. Đột nhiên xuất hiện một cô bé, hai bàn tay áp chặt lên cửa sổ kính, đôi mắt trân trân nhìn chằm chằm vào tôi, thần sắc u sầu. Tôi vẫy vẫy tay với con bé, nhưng nó không có phản ứng gì. Tôi cảm thấy, ánh mắt nó nhìn tôi, giống như tôi không phải là người thuộc về nơi này vậy.

Bây giờ tôi đã đi đến Công ty Mậu dịch Tam Phúc cách tiệm hoa chỉ vài căn nhà, trên các kệ hàng của nó chất đầy những loại bùa hộ mệnh, đồ sứ và tượng thần bằng gỗ có thể mang lại may mắn đủ mọi màu sắc. Từ lúc tôi còn có thể nhớ chuyện, tôi đã gọi nơi này là cửa hàng Thần Tiên. Nơi này cũng bán những thứ dùng trong đám tang Phật giáo, nào là tiền vàng mã, trang sức bằng giấy, hương nến, vân vân.

"Chào Trân Châu!" Là ông chủ họ Hồng đang chào tôi, bảo tôi đi vào. Lúc tôi còn nhỏ lần đầu tiên nhìn thấy ông ấy, còn tưởng Tam Phúc chính là tên của ông ấy cơ. Sau này tôi mới biết, trong tiếng Quảng Đông, Tam Phúc chính là có ý nghĩa "ba lần chúc phúc", dựa theo lời mẹ tôi — hoặc không bằng nói, dựa theo lời những khách hàng người Hồng Kông của bà, phát âm của "Tam Phúc" nghe có vẻ như đang nói đùa là "ngốc nghếch".

Mẹ tôi từng nói: "Tôi đã sớm khuyên ông ấy đổi một cái tên khác, vận may sẽ còn tốt hơn nữa cơ. Nhưng ông ấy nói việc làm ăn của mình đã đủ tốt rồi."

"Chào Trân Châu," tôi vừa bước vào cửa, ông Hồng liền nói, "Tôi đã chuẩn bị sẵn một số thứ cho mẹ cô rồi, để dùng trong đám tang ngày mai. Cô mang về cho bà ấy nhé, được chứ?"

"Không thành vấn đề ạ." Ông ấy đưa cho tôi một bói đồ mềm oặt.

Tôi đoán, điều này có nghĩa là, đám tang của dì cả sẽ được cử hành theo nghi thức Phật giáo. Mặc dù bà đã gia nhập Nhà thờ Baptist người Hoa đầu tiên từ rất nhiều năm trước rồi, nhưng sau khi bố tôi qua đời, bà và mẹ tôi liền không tham gia các hoạt động nữa. Dù sao đi nữa tôi cho rằng dì cả chưa từng từ bỏ các tín ngưỡng khác của mình, điều đó không nhất thiết phải là Phật giáo, chỉ cần là nghi lễ mê tín có thể tiêu tai giáng phúc thì bà đều tin sái cổ. Trước kia mỗi lần bước vào nhà của bà, tôi luôn thích chơi đùa với bàn thờ của bà, một ngôi chùa nhỏ màu đỏ, bên trong bày tượng thần Trung Quốc, phía trước là một chiếc đỉnh hương bằng đồng giả, cắm đầy nhang đang cháy, bên cạnh cúng cam, thuốc lá nhãn hiệu Lucky Strike bán trên máy bay, một chai rượu whisky Johnny nhỡ bán trên máy bay. Tất cả những thứ này trông rất giống một phiên bản Trung Quốc của Chúa Cứu Thế giáng sinh trong máng cỏ.

Lúc này, tôi đã đi đến trước cửa tiệm hoa. Nó nằm ở tầng trệt của một tòa nhà ba tầng, chỉ rộng bằng một nhà để xe cỡ nhỏ, trông vừa quen thuộc vừa hiu hắt. Khung sắt chống trộm trên cửa tiệm khung đỏ đã rỉ sét bong tróc, trên cửa kính có viết dòng chữ "Tiệm hoa Đinh Hòa" bằng cả hai thứ tiếng Trung và Anh, nhưng rất dễ bị người ta phớt lờ qua. Bởi vì vị trí tiệm hoa tọa lạc quá hẻo lánh, trông lúc nào cũng tối thui, chật chội, hôm nay cũng vẫn y như vậy.

Cho nên, nơi mà mẹ tôi và dì Helen chọn thực sự không thể coi là khu phố sầm uất, nhưng có vẻ như hai người họ làm ăn khá được, xét theo một ý nghĩa nào đó, quả thực là tuyệt vời ông mặt trời. Rốt cuộc thì, bao nhiêu năm qua, họ hầu như chưa từng đuổi theo mốt, cũng không làm cho nơi này trở nên có sức hấp dẫn hơn. Tôi đẩy cửa bước vào, tiếng chuông vang lên lanh lảnh. Một mùi hương hoa dành dành nồng nặc ập vào mặt, mùi hương này luôn khiến tôi liên tưởng đến nhà tang lễ. Ánh sáng trong phòng u ám, chỉ có một ống tuýp huỳnh quang treo lơ lửng phía trên máy thu ngân, mẹ tôi đang đứng ở đó, bà đứng trên một chiếc ghế đẩu nhỏ, để có thể nhìn ra bên ngoài từ trên quầy hàng, sống mũi đeo một cặp kính lão mua từ cửa hàng giá rẻ.

Bà đang gọi điện thoại bằng tiếng Trung, nói chuyện cực kỳ nhanh, một tay thiếu kiên nhẫn ra hiệu bảo tôi vào trong đợi. Tóc của bà từ sau gáy buông thẳng xuống được búi thành một búi, gọn gàng không một sợi tóc thừa. Hôm nay, búi tóc này vì được gắn thêm một búi tóc giả mà trở nên dày dặn hơn, bà gọi búi tóc giả này là "đuôi ngựa", chỉ trong những dịp quan trọng mới đeo nó lên.

Thực ra, dựa vào giọng nói eo éo to như chuông đồng và một loạt các từ phủ định "Vụt một vụt một vụt" của bà, tôi liền có thể khẳng định rằng bà đang dùng tiếng Thượng Hải, chứ không phải tiếng phổ thông để tranh cãi với đối phương. Chuyện này nghiêm trọng rồi. Đối tượng tranh cãi rất giống một nhà cung cấp hoa tươi ở gần đó. Mẹ tôi vừa ấn các con số trên máy tính tiền, vừa lớn tiếng đọc to kết quả tính toán ra, giống như những con số này chính là luật lệ vậy. Bà nhấn vào nút "Tạm ngừng kinh doanh" trên máy thu ngân, ngăn kéo vừa bật tung ra, bà liền rút ra một tờ hóa đơn gấp khúc, bụp một tiếng dùng cùi chỏ mạnh mẽ hất tung nó ra, sau đó đọc lên một loạt các con số.

"Vụt! Vụt! Vụt!" Bà không hề nhượng bộ chút nào.

Máy thu ngân này thường được dùng để đựng một số đồ đạc linh tinh, theo cách nói của mẹ tôi chính là những thứ "vặt vãnh lặt vặt". Máy thu ngân đã hỏng rồi. Lúc mẹ tôi và dì Helen mới mua lại căn nhà này và toàn bộ cơ ngơi, họ lập tức phát hiện ra, cứ mỗi khi tổng số tiền giao dịch cộng lại mà xuất hiện một chữ "9", toàn bộ máy thu ngân liền đơ cứng không động đậy nữa. Mặc dù vậy, họ vẫn quyết định giữ lại chiếc máy thu ngân này. Mẹ tôi giải thích với tôi, đây là để "phòng trộm". Một khi họ bị cướp (những chuyện kiểu này cho đến nay vẫn chưa xảy ra), tên cướp chỉ có thể cướp đi bốn đô la trong ngăn kéo nhỏ và một đống tiền lẻ. Số tiền lớn được đặt trong một chiếc ấm trà cũ dưới gầm quầy, chiếc ấm trà đó được đặt trên một chiếc bếp điện bị thiếu phích cắm, vòi ấm đã bị rơi gãy hai lần, được dán tạm bợ bằng keo con voi. Tôi đoán, họ nghĩ sẽ chẳng có ai khi cướp tiệm lại nghĩ đến việc xin một ly trà lạnh cả.

Có một lần tôi nói với mẹ tôi và dì Helen rằng, tên cướp tuyệt đối sẽ không tin trong tiệm chỉ có bốn đô la đâu. Tôi cho rằng họ ít nhất phải bỏ hai mươi đô la vào trong máy thu ngân, thì cái kế sách này mới có tác dụng. Nhưng mẹ tôi cho rằng hai mươi đô la là quá nhiều đối với tên cướp. Dì Helen cũng nói tốn ngần ấy tiền thì bà sẽ "phát ốm lên mất" — đã thế thì cần cái kế sách này làm gì cơ chứ?

Lúc đó, tôi rất muốn tự mình bỏ ra hai mươi đô la để chứng minh quan điểm của mình. Nhưng ngẫm lại, có gì mà phải chứng minh chứ? Lúc này khi tôi đảo mắt nhìn quanh tiệm, tôi nghĩ, có lẽ họ đúng. Ai mà thèm chạy đến đây để cướp số tiền nhiều hơn tiền vé xe buýt chẳng bao lâu chứ? Nơi này dựa vào vẻ bề ngoài cũ kỹ của nó là có thể chống trộm rồi.

Trong tiệm vẫn là nền xi măng xám xịt, y hệt như hai mươi năm trước, chỉ là bây giờ mặt nền đã bị mài mòn đến mức vừa trơn vừa bóng. Trên quầy trải cùng một loại giấy trang trí, hai bên là hoa văn lá trúc màu xanh xen lẫn trắng, bên trên là giấy vân gỗ. Thậm chí cả chiếc điện thoại mà mẹ tôi đang dùng cũng vẫn là chiếc máy đen kiểu cũ đó, mang bàn phím quay số tròn, dây ống nghe được làm bằng dây bọc bông, không thể kéo dãn, cũng không thể cuộn lại. Trải qua bao nhiêu năm, bức tường vôi đã ngả vàng, loang lổ không chịu nổi, trận động đất năm 1989 lại càng thêm cho nó những vết nứt. Tóm lại, toàn bộ nơi này trông vừa có vẻ điêu tàn của mạng nhện vừa có mùi ẩm mốc của lá cây mục rữa.

"Được rồi, được rồi." Tôi nghe thấy mẹ nói. Xem ra bà đã đạt được thỏa thuận với nhà cung cấp đó rồi. Cuối cùng, bà cũng gác ống nghe xuống. Mặc dù kể từ lễ Giáng sinh đến nay chúng tôi gần như suốt một tháng không gặp mặt, nhưng chúng tôi vẫn không hề ôm hôn, mà khi đến thăm bố mẹ của Philip hoặc bạn bè của anh ấy, chúng tôi thường là sẽ làm như vậy. Mẹ bước từ cạnh quầy ra, miệng lẩm bẩm: "Con có tưởng tượng nổi không? Tên này vậy mà dám lừa mẹ! Muốn mẹ trả một khoản phí vận chuyển phụ phí." Bà chỉ chỉ vào một cái hộp dưới chân, bên trong đựng dây kẽm, băng dính trong suốt và một ít giấy bóng kính màu xanh. "Tuần trước hắn ta quên giao, cái này hoàn toàn không phải lỗi của mẹ."

"Phí phụ thu bao nhiêu ạ?" Tôi hỏi.

"Ba đô la!" Bà hét lên. Tôi giật mình kinh ngạc, không ngờ mẹ tôi lại vì mấy đô la này mà nổi giận lôi đình.

"Thôi đi, chẳng qua chỉ là ba đô la thôi mà —"

"Mẹ đâu có tiếc mấy đồng tiền này!" Mẹ tôi tức giận nói, "Hắn ta đang lừa mẹ, đây là chuyện không đúng. Tháng trước, hắn cũng muốn cộng thêm một khoản phí phụ thu." Tôi đoán bà lại sắp bắt đầu giảng giải cho tôi nghe về trận chiến diễn ra vào tháng trước của bà rồi. Bỗng nhiên, ngoài cửa xuất hiện hai người phụ nữ tóc vàng ăn mặc lịch sự, đang ngó nghiêng ngó ngáy vào bên trong.

"Mở cửa được không? Hai người có ai biết nói tiếng Anh không?" Một trong số họ hỏi bằng giọng Texas.

Mẹ tôi lập tức nở nụ cười tươi roi rói, liên tục gật đầu, ra hiệu bảo họ đi vào. "Xin mời vào, xin mời vào."

"À, không phiền hai người nữa," một người trong số họ nói, "Cô có thể cho chúng tôi biết tiệm bánh quy may mắn nằm ở đâu không?"

Tôi còn chưa kịp trả lời, mặt mẹ tôi đã xị xuống rồi, bà liên tục lắc đầu, nói: "Không nghe hiểu, không biết nói tiếng Anh."

“Sao mẹ lại nói vậy chứ?” Lúc hai người phụ nữ đó quay người bước vào hẻm, tôi không nhịn được mà hỏi, “Không ngờ mẹ lại ghét khách du lịch ngoại tỉnh thế đấy.”

"Không phải ghét khách du lịch ngoại tỉnh," bà nói, "Người phụ nữ ở tiệm bánh quy đó có một lần cư xử rất hung dữ với mẹ, mẹ việc gì phải giới thiệu việc làm ăn cho mụ ta chứ?"

"Việc làm ăn ở đây thế nào ạ?" Tôi cố ý lái sang chuyện khác, để tránh cho cuộc trò chuyện này ngay lập tức biến thành một cuộc công kích toàn diện nhắm vào người phụ nữ mở tiệm bánh quy ở phía bên kia con phố.

"Chết mất thôi!" Vừa nói, bà vừa chỉ vào hàng hóa trong tiệm. "Nhiều việc làm ăn thế này làm mẹ mệt chết đi được. Con xem, mới sáng nay thôi, một mình mẹ đã làm ngần này việc rồi đấy."

Tôi nhìn xung quanh, không có cắm hoa thịnh hành, cũng không có hàng nhập khẩu có dán tên tiếng Latinh. Mẹ tôi mở cửa kính thông ra phòng lạnh, nơi đó trước kia là nơi để nước ngọt và bia.

"Thấy chưa hả?" Bà vừa nói vừa cho tôi xem một kệ đầy ắp những chiếc hoa cài khùa áo và hoa cài ngực được làm bằng hoa cẩm chướng, tất cả đều được xếp thành hàng ngay ngắn theo độ đậm nhạt của màu sắc, có màu trắng, màu hồng phấn, còn có màu đỏ rậm, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là chuẩn bị để cho tất cả chúng ta đeo tối nay.

"Còn cái này nữa." Bà nói tiếp. Kệ thứ hai nhét đầy những chiếc lọ thủy tinh màu trắng sữa, mỗi chiếc đều chỉ cắm một bông hồng hãy còn nụ, một chiếc lá cọ, một ít hoa baby. Loại cắm hoa này có thể gửi cho người thân làm phẫu thuật nằm viện. Khi bạn đã lâu không đến thăm, không biết bệnh nhân có còn nằm viện hay không, gửi loại hoa này là thích hợp nhất. Lúc bố tôi mới vào bệnh viện và trước khi chết đã nhận được không ít những loại hoa thế này. "Bán chạy lắm đấy." Mẹ tôi nói.

"Mẹ còn làm cái này nữa," bà vừa nói vừa chỉ vào chiếc kệ ở tầng dưới cùng, bên trong có nửa tá hoa trang trí dùng để bày trên bàn thờ, "Có cái dùng cho tối nay, còn có cái làm cho tiệc chia tay nghỉ hưu." Mẹ tôi giải thích. Đại khái là thấy biểu cảm trên mặt tôi bình thường, để làm sâu sắc thêm ấn tượng của tôi, bà lại nói thêm một câu, "Do phó giám đốc Wells Fargo đặt làm đấy."

Bà lại dẫn tôi đi một vòng, xem những món thủ công do chính tay bà làm được đặt ở các góc khác nhau của tiệm hoa. Dọc theo bức tường xếp rất nhiều vòng hoa lớn dùng trong tang lễ. "Thế nào?" Bà đang chờ nghe lời khen ngợi của tôi. Tôi từ trước đến nay vẫn luôn cảm thấy vòng hoa vừa đáng sợ vừa bi ai, giống như chiếc phao cứu sinh vứt muộn, chỉ có thể dùng để trang trí.

"Rất đẹp ạ." Tôi nói.

Bây giờ bà dẫn tôi đến nơi mà bà đắc ý nhất và tự hào nhất. Nửa phần trước của tiệm hoa là nơi duy nhất trong toàn bộ tiệm hoa có thể lọt vào vài tia nắng mặt trời mỗi ngày, mẹ tôi gọi nơi này là "Khách hàng đặt dài hạn", bên trong trồng cây hoàng dương, cây cao su, cây bụi lùn và cây quýt mini. Những thứ này đều được thắt ruy băng đỏ, hoặc là chúc mừng khai trương hồng phát, hoặc là chúc làm ăn phát đạt.

Mẹ tôi từ trước đến nay luôn tự hào về những dải ruy băng đỏ này, bà không viết những lời chúc mừng theo lối cũ, kiểu như "Cát tường như ý", "Phúc lộc trường thọ" đại loại thế. Tất cả những lời chúc mừng được viết bằng chữ Trung Quốc ép kim đều do chính mẹ tôi tự phát minh ra, bày tỏ quan điểm của riêng bà về sự sống và cái chết, sự may mắn và hy vọng, nào là "Con đầu lòng có phúc đầu"la, "Kết hôn song hỷ, tam hỷ lâm môn"la, nào là "Khai trương tiệm mới, tài khí ngút trời"la, nào là "Hồi phục sức khỏe, ngày này không còn xa"la.

Mẹ tôi tuyên bố, sở dĩ tiệm hoa Đinh Hòa bao nhiêu năm nay làm ăn phát đạt, hoàn toàn nhờ vào những dải ruy băng và lời chúc mừng này. Tôi nghĩ, sự phát triển thịnh vượng mà bà nói, đại khái là chỉ trong suốt hai mươi lăm năm qua lượng khách quen rất nhiều. Chỉ có điều hiện tại, người đặt hoa cho cô dâu ngượng ngùng và chú rể lông bông thì ngày càng ít, người đặt hoa cho bệnh nhân, người già và người chết thì ngày càng nhiều.

Bà cười như một đứa trẻ, rồi huých tay tôi vào. "Đến đây, dẫn con đi xem vòng hoa mẹ làm cho con nhé."

Tôi giật mình kinh ngạc, lập tức hiểu ra ý của bà. Bà đẩy cửa thông sang căn phòng phía sau tiệm hoa, bên trong tối như hầm rượu, chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ ngửi thấy một mùi hương hoa dành dành nồng nặc thường thấy trong đám tang. Mẹ tôi mò mẫm kéo dây công tắc đèn, cuối cùng, trong phòng sáng bừng lên chói lọi, một chiếc bóng đèn trói trụi treo trên trần nhà lúc lắc qua lại, trước mắt tôi xuất hiện một vẻ đẹp đáng sợ — hết hàng vòng hoa này đến hàng vòng hoa khác lấp lánh tỏa sáng, đều được kết từ hoa dành dành trắng và hoa cúc vàng, dải luy băng đỏ rủ xuống từ giá treo hoa, toàn bộ trông giống như một đội nghi lễ cõi thiên đàng vậy.

Tôi không khỏi sững sờ trước mọi thứ trước mắt, cái này phải tốn biết bao nhiêu công sức chứ! Tôi tưởng tượng ra cảnh mẹ dùng đôi bàn tay nhỏ thô ráp như da cừu, tất bật kéo những chiếc lá rời ra, xỏ đầu dây kẽm vào, cố định từng bông hoa vào vị trí thích hợp.

"Cái này," bà chỉ vào chiếc vòng hoa ở giữa hàng đầu tiên, trông nó chẳng khác gì mấy chiếc vòng hoa khác, "Cái này là của con, mẹ đã tự tay viết câu đối phức điệu."

"Viết những gì thế ạ?" Tôi hỏi.

Ngón tay mẹ từ từ di chuyển trên dải ruy băng đỏ, miệng đọc bằng tiếng Trung mà tôi không tài nào nghe hiểu, sau đó dịch lại cho tôi nghe: "Dì cả đại nhân an nghỉ, thiên đường cát tường. Cháu gái yêu quý nhất của người Trân Châu Louie Brandt cùng cháu rể kính điếu."

"Ồ, suýt nữa thì quên mất." Tôi đưa gói đồ lấy từ cửa hàng Tam Phúc cho bà, "Đây là ông Hồng bảo con đưa cho mẹ."

Mẹ tôi cắt đứt sợi dây thừng, mở bói đồ ra, bên trong là một tập tiền vàng mã dày cộp, nghĩ là đốt cho dì cả làm tiền lộ phí lên thiên đường.

"Không ngờ mẹ vẫn còn tin cái thứ này đấy." Tôi nói.

"Tin cái gì mà tin," mẹ tôi nói, "Đây là sự kính trọng." Sau đó giọng điệu của bà lại dịu xuống, "Ở đây có một trăm triệu đô la tiền vàng mã. Thoa! Bà ấy thực sự là một người phụ nữ tốt."

"Đi từ lối này nhé." Tôi vừa nói, khi chúng tôi bước lên cầu thang dẫn đến sảnh tiệc, tôi hít sâu một hơi.

"Trân Châu! Philip! Hai người đến rồi." Là chị họ Mary đang gọi tôi. Kể từ hai năm trước khi cô ấy và chồng Đỗ chuyển đến Los Angeles, tôi đã không gặp lại cô ấy rồi. Chúng tôi đợi Mary băng qua đám đông chật ních trong sảnh tiệc. Cô ấy lao thẳng đến chỗ chúng tôi, hôn tôi một cái, rồi sờ mặt tôi, cười lớn, cười vì sự lúng túng mà cô ấy mang lại cho tôi.

"Trông em tuyệt lắm!" Cô ấy bảo tôi, rồi nhìn sang Philip, "Thật đấy, hai người đều rất ổn. Sắc mặt rất tốt."

Mary lớn hơn tôi nửa tuổi, năm nay chắc là bốn mươi mốt rồi. Cô ấy trang điểm đậm, đeo lông mi giả, tóc uốn thành một búi bồng bềnh. Một chiếc khăn choàng dài bằng cáo bạc cứ trượt khỏi vai cô ấy, cô ấy kéo lên ba lần, rồi cười nói, "Đỗ đã mua cho tôi món đồ cổ này làm quà Giáng sinh, ghét chết đi được." Tôi không biết tại sao cô ấy lại ghét, khi mà chúng tôi đã vào trong nhà hàng rồi. Nhưng Mary cứ thích như thế, cô ấy là người lớn nhất trong hai đứa con, đối với cô ấy, việc thể hiện mình cao hơn người khác, lúc nào cũng là quan trọng nhất.

"Jennifer, Michael!" Cô ấy hét lên, búng tay một cái, "Lại đây, chào dượng và dì nào." Cô ấy kéo hai đứa trẻ mười mấy tuổi đến bên cạnh, ôm chặt lấy một cái. "Nào, nói sao nào?" Chúng miễn cưỡng nhìn chúng tôi, lầm bầm vài câu, miễn cưỡng gật đầu.

Jennifer đã phổng phao lắm rồi, viền mắt được vẽ bằng bút kẻ mày, trông vừa nhỏ vừa hung dữ, đỉnh đầu được chải thành những bím tóc nhỏ vểnh ngược lên, phần còn lại mềm mại rủ xuống sau lưng, bộ dáng toàn tập trông giống như bị điện giật vậy. Khuôn mặt của Michael bắt đầu xuất hiện các góc cạnh, cằm toàn là mụn trứng cá. Tụi nó không còn đáng yêu nữa. Tôi không biết sau này Tasha và Cleo có biến thành bộ dáng này hay không, liệu tôi có dùng ánh mắt này để đánh giá tụi nó hay không.

"Nhìn bộ dáng tụi nó kìa," Mary mang theo vẻ áy náy nói, "Jennifer vừa mới nhận được đôi tất dài và giày cao gót đầu tiên vào dịp Giáng sinh, con bé kiêu ngạo lắm rồi, không còn là cô công chúa nhỏ của mẹ nữa."

"Ồ, mẹ!" Jennifer kêu lên, lập tức giãy ra khỏi tay mẹ mình, lẩn vào trong đám đông. Michael cũng đi theo sau.

"Nhìn kìa, Michael cao gần bằng bố nó rồi đấy." Mary vừa nói, vừa kiêu ngạo nhìn con trai mình rời đi, "Nó tham gia đội tuyển điền kinh năm ba đại học, huấn luyện viên nói nó là cừ nhất. Không biết nó thừa hưởng chiều cao và năng lực thể thao từ đâu — chắc chắn không phải từ em rồi, mỗi lần em đi chạy bộ, về nhà lúc nào cũng đi khập a khập khễnh." Mary vừa nói, vừa bật cười lớn. Sau đó, nhớ ra những gì mình vừa nói, bỗng nhiên thu lại nụ cười, tìm kiếm trong đám đông: "Ồ, bố mẹ của Đỗ ở đằng kia kìa, tốt nhất tôi nên qua chào một tiếng."

Philip siết chặt tay tôi một cái, mặc dù chúng tôi chẳng nói gì cả, nhưng anh ấy biết tôi đang bực mình. "Quên đi." Anh ấy nói.

"Em sẽ quên," tôi đáp lại một câu, "Nếu như cô ấy có thể quên. Lúc nào cũng vậy."

Lúc Philip và tôi kết hôn, chính Mary và Đỗ đã làm phù dâu và phù rể cho chúng tôi, bởi vì vốn dĩ chúng tôi là do họ giới thiệu mới quen nhau. Sau đó tôi mang thai Tasha, họ trở thành những người mà chúng tôi dựa dẫm nhiều nhất. Khoảng bảy năm trước, khi tôi phàn nàn rằng suốt ngày cảm thấy toàn thân vô lực, lại chính là Mary đã đẩy tôi vào lớp thể hình. Sau đó, tôi cảm thấy chân phải suy yếu một cách khó hiểu, Philip khuyên tôi nên đi tìm Đỗ xem sao, lúc bấy giờ anh ấy là bác sĩ chỉnh hình của một trung tâm y tế thể thao.

Mấy tháng sau, Đỗ nói với tôi vấn đề có lẽ xuất phát từ nơi khác, tôi lập tức hoảng sợ, cứ tưởng anh ấy đang nói đến ung thư xương. Anh ấy đảm bảo với tôi, ý của anh ấy chẳng qua chỉ là kỹ thuật của anh ấy chưa đủ, một mình không kiểm tra ra được. Thế là anh ấy chuyển tôi đến chỗ một người bạn nhậu cũ thời đại học của anh ấy, bác sĩ thần kinh giỏi nhất của Trung tâm Y tế San Francisco. Trải qua gần một năm kiểm tra — tôi tự thuyết phục bản thân rằng, toàn thân vô lực là do hút thuốc gây ra, còn chân phải suy yếu là di chứng của chứng đau thần kinh tọa khi mang thai — người bạn nhậu này nói với tôi, tôi mắc bệnh xơ cứng rải rác.

Mary nghe tin này liền khóc rống lên một cách cuồng loạn, sau đó lại mưu toan an ủi tôi, nhưng điều này dường như còn khiến mọi thứ tồi tệ hơn. Có một dạo, cô ấy thường xuyên mang mấy món ăn làm theo "bí phương vừa mới tìm được" đến thăm tôi, cho đến khi tôi bảo cô ấy đừng mang nữa mới thôi. Sau đó cô ấy lại làm bộ dáng nhẹ nhõm nói với tôi rằng, bạn của Đỗ bảo đảm với cô ấy rằng, bệnh tình của tôi thực sự "khá nhẹ", giọng điệu nói chuyện giống như đang bàn về thời tiết vậy. Cô ấy còn nói, bệnh của tôi sẽ không có ảnh hưởng gì đến tuổi thọ của tôi cả, tôi đến bảy mươi tuổi vẫn có thể đánh gôn, hơn nữa còn có thể đánh ra số gậy chuẩn, chỉ là tôi phải cẩn thận, để tránh thể lực và cảm xúc quá căng thẳng.

"Cho nên ấy mà, mọi thứ đều bình thường," cô ấy hào hứng nói, "Hơn nữa Philip sẽ đối xử với em tốt hơn. Ngoài ra còn có gì mà phải lo lắng chứ?"

"Em không biết đánh gôn." Tôi chỉ nói một câu.

"Em sẽ dạy chị." Cô ấy vui vẻ nói.

Đương nhiên, Mary chỉ có ý tốt. Tôi phải thừa nhận, tình bạn giữa chúng tôi xuất hiện vết rách chủ yếu là lỗi của tôi. Tôi chưa bao giờ nói thẳng thừng với cô ấy rằng, tư thế quan tâm thái quá đó của cô ấy khiến người ta cảm thấy rất khó chịu. Cho nên cô ấy đương nhiên sẽ không biết, tôi không cần người khác an ủi, tôi không muốn có người phục vụ. Ý tốt tuy là sự bù đắp, nhưng ý tốt cũng nhắc nhở bạn rằng, cuộc sống của bạn đã thay đổi rồi, cuộc sống của bạn lúc nào cũng đang thay đổi, mọi người cho rằng bạn phải chấp nhận tất cả những điều này, bạn phải trở nên kiên cường hơn hoặc dũng cảm hơn, vui vẻ hơn, bình tĩnh hơn. Nhưng tôi không muốn thế. Tôi chỉ muốn sống giống như đại đa số mọi người — bận rộn vì vấn đề giáo dục của con cái, nhưng đừng lo lắng về việc liệu mình có còn sống để nhìn thấy chúng tốt nghiệp hay không, vui mừng vì cân nặng giảm năm cân, nhưng đừng lo lắng vì cơ bắp teo tóp. Thứ tôi muốn là những thứ không thể có được: Thứ tôi muốn là sự lãng quên.

Điều khiến tôi bực mình nhất là Đỗ và người bạn nhậu của anh ta cùng Mary bàn luận về bệnh tình của tôi. Đã mang tiếng là họ có thể nói cho cô ấy biết điều đó, vậy thì chắc chắn họ cũng sẽ nói cho cô ấy biết điều này: Kết quả của căn bệnh này là không thể lường trước được. Tôi có thể lê lết thêm mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, cũng có thể ngày mai liền đột ngột trở nặng, trượt dốc, ngày càng tệ hơn, kết quả là tôi sẽ trải qua quãng đời còn lại trên chiếc xe lăn, hoặc tồi tệ hơn.

Tôi biết, Mary hiểu rõ điều này, bởi vì tôi thường xuyên chú ý thấy, mỗi khi chúng tôi đụng phải một người khuyết tật trên đường, Mary sẽ lén lút nhìn tôi. Có một lần, cô ấy định đỗ xe vào một ô đậu xe vốn đã được chuyển đổi thành dành riêng cho người khuyết tật, cô ấy cười một cách thần kinh. "Ôi!" Cô ấy lập tức lùi xe lại, "Chúng ta đương nhiên không cần cái này."

Lúc mới bắt đầu, tôi và Philip đều thề rằng, sẽ cố gắng hết sức để sống cuộc sống bình thường cùng nhau. "Cố gắng hết sức bình thường" — đây là một câu thánh ca vô nghĩa, hễ tôi không cẩn thận vấp phải đồ chơi trên sàn nhà, tôi sẽ rống lên với Tasha, sau đó tốn mười phút đồng hồ để xin lỗi con bé, tiếp theo lại là một tiếng đồng hồ tranh luận xem người bình thường có vấp phải những thứ này hay không. Có một lần, để quên đi tất cả những chuyện này, chúng tôi đi nghỉ mát ở bờ biển, nhưng trong đầu tôi tràn ngập vẫn là bệnh tình. Nhìn những con sóng vỗ bờ, tôi không kìm được mà lớn tiếng hỏi Philip, liệu có một ngày nào đó tôi cũng sẽ suy yếu như cỏ biển, cứng đờ như cua hay không.

Đồng thời, Philip cũng thường xuyên lật những cuốn sách giáo khoa cũ của mình ra đọc, và lưu ý từng bài luận y học liên quan đến bệnh xơ cứng rải rác. Sau đó anh ấy thất vọng phát hiện ra sự huấn luyện y khoa của bản thân vẫn chưa đủ để hiểu rõ nguyên nhân căn bệnh này, căn bệnh này chỉ được miêu tả là "nguyên nhân chưa rõ", "thay đổi rất lớn", "không thể dự đoán" và "không có liệu pháp đặc biệt". Anh ấy tham gia hội nghị y học liên quan đến chứng rối loạn thần kinh. Có một lần còn dẫn tôi tham gia một buổi hội thảo tương trợ bệnh xơ cứng rải rác, nhưng chúng tôi vừa nhìn thấy xe lăn liền vội vàng chạy trốn về ngay. Anh ấy làm cho tôi thứ mà anh ấy gọi là "kiểm tra an toàn hàng tuần", đo lường phản ứng của tôi, kiểm tra sức mạnh tứ chi của tôi. Chúng tôi thậm chí còn chuyển đến một ngôi nhà có hồ bơi để ở, như vậy ngày nào tôi cũng có thể tập luyện cơ bắp. Nhưng không ai trong chúng tôi nhắc đến một sự thật rằng, căn nhà này là nhà trệt, chẳng có mấy bậc thang, có một hành lang rộng rãi, ngày nào đó nếu cần thiết, xe lăn có thể nghênh ngang tiến vào.

Chúng tôi nói chuyện bằng mật mã, như thể chúng tôi thuộc về một giáo phái bí mật nào đó, đang tìm kiếm một phương thức điều trị, hoặc loại triệu chứng mà chúng tôi có thể quan sát được, hoặc là phương pháp tìm kiếm sự giải thoát khỏi nỗi lo âu liên tục. Cuối cùng, chúng tôi học được cách không nhắc đến tương lai, không nhắc đến khả năng tồi tệ nhất, cũng không nhắc đến hy vọng mong manh. Chúng tôi cũng không chìm đắm trong quá khứ, không đi truy cứu nguyên nhân gây ra toàn bộ những chuyện này trước mắt rốt cuộc là lây nhiễm virus, hay là yếu tố di truyền. Chúng tôi chỉ quan tâm đến khoảnh khắc ngay lúc này, vượt qua một phiền muộn nhỏ nhặt trong cuộc sống, đều khiến chúng tôi có cảm giác chiến thắng — huấn luyện Tasha đi bô nè, sửa chữa lỗi sai trong hóa đơn thanh toán nè, tìm ra nguyên nhân khiến xe hơi phát ra tiếng cộc cộc khi sang số nè, tất cả những chuyện này trở thành công việc hàng ngày của chúng tôi, trở thành thứ duy nhất có thể nắm bắt trong cuộc sống thay đổi khôn lường.

Cho nên tôi thực sự không thể trách Philip vì đã giả vờ như mọi thứ đều bình thường. Thứ tôi cần vượt quá những gì anh ấy có thể làm được. Hiện tại, tôi không thể nói cho anh ấy biết những gì tôi thực sự cảm nhận được. Tôi chỉ biết rằng, mỗi buổi sáng tôi luôn tỉnh giấc trong sự hoảng sợ, chỉ sợ trong lúc tôi ngủ thiếp đi đã xảy ra chuyện gì. Có mấy ngày, tôi cứ luôn vì đánh rơi một chiếc cúc áo hay chuyện cỏn con nào đó mà cả ngày tâm thần bất định, cứ cảm thấy nhất định phải tìm lại được nó, cuộc sống của tôi mới có thể khôi phục lại bình thường. Có mấy ngày, chỉ vì Philip mua sót một món nhỏ trong danh sách mua sắm, tôi liền cho rằng anh ấy là người đàn ông vô tâm nhất trên đời. Lại có mấy ngày, tôi phân loại ngăn kéo đồ lót theo màu sắc, giống như làm vậy có thể xua tan phiền muộn vậy. Mấy ngày đó thực sự tồi tệ đến cực điểm.

Những ngày cảm giác khá hơn, tôi sẽ nhớ rằng mình rất may mắn — sự may mắn này được đo lường bằng tiêu chuẩn mới. Trong bảy năm qua, tôi chỉ có một lần "phát bệnh" lớn, nói cách khác, bây giờ tôi rất dễ mất thăng bằng, nhất là khi tâm trạng tôi bực bội hoặc bận rộn. Nhưng tôi vẫn biết đi lại, vẫn biết đổ rác. Thỉnh thoảng, tôi thậm chí thực sự có thể quên đi mấy tiếng đồng hồ, thậm chí gần như cả một ngày. Đương nhiên, điều tồi tệ nhất là hễ tôi nhớ lại — thường là theo một cách thức bất ngờ — tôi sẽ cảm thấy mình đang sống bên bờ vực của địa ngục, lơ lửng giữa sự sống và cái chết.

Sự cân bằng mong manh này luôn đe dọa đến trạng thái tinh thần của tôi mỗi khi đi thăm mẹ, bởi vì nó luôn gợi cho người ta nhớ đến một chuyện tồi tệ nhất: Tôi mắc căn bệnh đáng sợ này, mà mẹ tôi vẫn luôn bị giấu kín trong trống không.

Tôi vốn dĩ muốn kể cho mẹ nghe, đã mấy lần tôi lên kế hoạch làm điều đó. Vào lần đầu tiên tôi phát hiện ra bệnh tình của mình, tôi nói: "Mẹ ơi, mẹ biết con từng kể với mẹ chân con có chút vấn đề nhỏ chứ, may quá, tạ ơn Chúa, kết quả không phải ung thư, mà là——"

Chưa để tôi nói hết, bà đã kể cho tôi nghe về việc một khách hàng của bà vừa qua đời vì ung thư cách đây không lâu, ông ấy đã phải chịu đựng bao nhiêu dặm khổ sở, gia đình đã đặt bao nhiêu vòng hoa.

"Tôi đã sớm nhìn ra rồi, trên mặt ông ấy mọc loại nốt ruồi đó," bà nói, "Tôi đã bảo ông ấy, đi khám bác sĩ đi. Ông ấy nói, không sao đâu, là đốm đồi mồi — không hề gì. Lúc ông ấy chết, mũi và mặt thối rữa hoàn toàn!" Sau đó, bà nghiêm túc cảnh báo tôi: "Thế nên con phải cẩn thận đấy."

Lúc Cleo ra đời, cả tôi và con bé đều bình an vô sự, tôi lại định kể bệnh tình của mình cho mẹ nghe. Nhưng bà lập tức cắt ngang lời tôi, hoài niệm về người cha quá cố, nói rằng ông đã không thể nhìn thấy đứa cháu ngoại của mình. Rồi bà lại lải nhải không dứt, nói rằng cha tôi không đáng phải chết yểu như vậy.

Cha tôi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày, lúc đó tôi mới mười bốn tuổi. Nhiều năm qua, mẹ tôi vẫn luôn tìm kiếm nguyên nhân gây bệnh, giống như hễ tìm ra nguyên nhân từ đầu thì bà có thể tránh được bi kịch này vậy.

"Ông ấy là một người tốt biết bao," mẹ tôi thở dài, "Sao lại chết cơ chứ?" Có khi bà quy điều này thành ý muốn của Chúa, chỉ là đưa ra một lời giải thích gượng ép. Bà nói, chắc là vì cha tôi làm mục sư. "Ông ấy lắng nghe lời oán thán của tất cả mọi người," bà nói, "Ông ấy nuốt hết những lời oán thán đó vào bụng, kết quả tự đổ bệnh. Haiz! Đáng lẽ nên đổi cho ông ấy một công việc."

Đáng lẽ là cửa miệng của mẹ tôi. Đáng lẽ cũng có nghĩa là bà vốn dĩ nên thay đổi hướng đi của số phận, nên ngăn chặn thảm họa xảy ra. Đối với tôi, đáng lẽ lại có nghĩa là mẹ tôi cả đời sống trong sự hối hận, ngày tháng không một phút yên bình.

Mẹ tôi càng tìm nhiều nguyên nhân cho cái chết của cha tôi, thì sự hối hận của bà lại càng tăng lên theo ngày tháng. Có lần, bà quy nó cho nguyên nhân môi trường — người thợ điện lắp lại đường điện trong bếp nhà chúng tôi lúc đó đã đổ bệnh. "Ông ta đã mang căn bệnh vào nhà chúng ta," bà tuyên bố, "Chính xác là thế. Mẹ vừa nghe ngóng được rằng thợ điện đó cũng chết vì ung thư. Lúc đó đáng lẽ nên đổi người khác đến sửa sang."

Ngoài ra còn có một thứ mê tín, mà sau này tôi xem đó là thuyết chín điều xui xẻo của bà. Bà nói, bà từng nghe người ta nói nếu có tám điều xui xẻo cùng lúc giáng xuống đầu một người, thì người đó số trời đã định chắc chắn phải chết. Nếu từ trước con không nhìn thấu, không kịp ngăn chặn tám điều này xảy ra, thì điều thứ chín luôn là chí mạng. Thế nên bà luôn suy nghĩ rốt cuộc sẽ là tám điều xui xẻo nào, bà nên cảnh giác ra sao, kịp thời nhìn thấu chúng.

Giờ đây, nghe đủ loại giả thiết của bà, tôn giáo, y học và mê tín đều trộn lẫn với niềm tin của chính bà, suýt chút nữa khiến tôi phát điên. Bà không tin logic của người khác — đối với bà, logic chẳng qua chỉ là một thứ cái cớ ranh mãnh cho bi kịch, sai lầm và tai nạn. Đối với mẹ tôi, chẳng có chuyện gì là ngẫu nhiên cả. Bà đích thực là một phiên bản Trung Quốc của Freud, hoặc tệ hơn thế. Bất cứ chuyện gì cũng có nguyên nhân, bất cứ chuyện gì cũng có thể tránh được. Ví dụ như, lần trước tôi đến chỗ bà, sơ ý làm rơi di ảnh của cha tôi xuống, làm vỡ khung gương kính. Mẹ tôi nhặt các mảnh vỡ lên, lầm bầm: "Tại sao lại xảy ra chuyện này?" Ban đầu tôi tưởng bà chỉ tiện miệng nói vậy thôi, nhưng tiếp đó bà lại hỏi tôi: "Con có biết không?"

"Đó là tình cờ thôi," tôi nói, "Cánh tay con không cẩn thận va phải nó." Nhưng câu hỏi của bà cũng khiến đầu óc tôi nhanh chóng quay cuồng, liệu sự hậu đậu của tôi có phải đang cho thấy bệnh tình của mình đang trở nên nghiêm trọng hơn không? Phát biểu một tràng lý luận về bệnh tình của tôi, căn bệnh này do cái gì gây ra chứ, bà vốn dĩ nên làm cái này cái nọ để ngăn chặn căn bệnh này xảy ra. Tôi không muốn bà đến nhắc nhở tôi.

Bây giờ thời gian đã trôi qua lâu như vậy, việc tôi cho đến nay vẫn chưa kể cho bà sự thật dường như càng khiến bệnh tình trầm trọng thêm mười lần. Mỗi khi nhìn thấy bà, nghe thấy giọng nói của bà, tôi luôn nghĩ đến điều này.

Mary biết những tình huống này, đó là lý do tôi giận cô ấy — không phải vì cô ấy vô ý nói hớ, để lộ bệnh tình của tôi ra ngoài, mà là vì cô ấy đã kể cho mẹ cô ấy nghe, thím Helen của tôi.

"Em buộc phải nói với bác ấy," cô ấy không mấy đồng tình giải thích với tôi, "Bác ấy hay nói với em, bảo Pearl hãy sang thăm mẹ nhiều hơn, chỉ cách có một tiếng lái xe thôi mà. Bảo Pearl đáng lẽ nên mời mẹ chuyển đến sống cùng, đừng để mẹ quá cô đơn. Cuối cùng, em nói với mẹ là em không thể để chị biết những chuyện đó. Thế là bác ấy hỏi tại sao lại không?" Mary nhún vai. "Chị biết mẹ em là con người như thế nào rồi đấy. Em không thể gạt bác ấy. Đương nhiên, em bắt bác ấy thề là không được nói với mẹ chị, em nói tự chị sẽ kể với bác ấy."

"Tôi có thể lái xe," tôi nói với Mary, "Nhưng đây không phải là lý do tôi không mời mẹ mình đến ở cùng." Sau đó tôi trừng mắt nhìn cô ấy một cái, "Cô việc gì phải nói thế chứ?"

"Bác ấy sẽ không nói ra đâu," Mary nói, "Em đã bắt bác ấy hứa rồi." Sau đó cô ấy lại bồi thêm một câu mang tính châm chọc, "Hơn nữa, chị đáng lẽ nên kể cho mẹ chị từ lâu rồi."

Tôi và Mary không thực sự cãi nhau, nhưng từ dạo đó quan hệ giữa chúng tôi hoàn toàn lạnh nhạt đi rồi. Cô ấy đã biết bản thân có lẽ đã làm ra điều ngu ngốc nhất đối với tôi. Bởi vì trước đây cô ấy từng làm một lần, đó là vào chín năm trước, lúc đó tôi đầy tin tưởng kể cho cô ấy nghe việc tôi mang thai. Đứa con đầu lòng của tôi bị sảy, mẹ tôi cứ lải nhải không ngừng, hỏi tôi uống bao nhiêu cà phê rồi, nói sảy thai là do tôi chạy bộ gây ra, Philip đáng lẽ phải cho tôi ăn nhiều đồ vào, v.v. Thế nên khi tôi mang thai lần nữa, tôi quyết định đợi đến khoảng bốn tháng mới kể cho bà. Nhưng vào tháng thứ ba, tôi đã phạm một sai lầm, đó là đem bí mật kể cho Mary. Sau đó Mary lại đem tin tức này tiết lộ cho mẹ cô ấy, mà thím Helen quả thực cũng không nói cho mẹ tôi biết. Nhưng khi mẹ tôi kiêu hãnh kể tin tôi mang thai cho người nhà họ Khương, thím Helen lập tức lôi chiếc áo len màu nhỏ màu vàng do chính tay thím đan cho em bé ra cho mẹ tôi xem.

Ngay cả sau khi Tessa ra đời, tôi vẫn liên tục nghe thấy tiếng lẩm bẩm phàn nàn của mẹ tôi: "Sao con có thể kể cho người nhà họ Khương, mà lại không thể nói cho mẹ ruột của mình?" Bà càng nghĩ về chuyện này càng tức, trách tôi làm bà mất mặt: "Hừ! Thím Helen của con giả vờ như không biết chút nào, vô cùng ngạc nhiên nói: 'Ồ, tôi đâu có đan cho cục cưng của Pearl đâu, tôi chỉ sợ lỡ phải dùng nên mới đan thôi.'"

Cho đến tận bây giờ, thím Helen vẫn chưa đem bệnh tình của tôi kể cho mẹ tôi. Nhưng thím ấy vẫn coi tôi như một người bệnh. Mỗi khi tôi đến nhà thím ấy, thím liền vội vã gọi tôi ngồi xuống, sau đó tìm gối cho tôi dựa lưng. Thím dùng lòng bàn tay vuốt xuôi cánh tay tôi, hỏi tôi cảm giác thế nào, còn nói thím vẫn luôn coi tôi như con đẻ của mình. Sau đó thím sẽ thở dài một hơi, tiết lộ cho tôi một chút tin xấu, giống như để bù đắp cho việc thím biết bệnh tình của tôi.

"Cậu Henry tội nghiệp của cháu, tháng trước suýt chút nữa bị sa thải," thím ấy sẽ nói, "Bao nhiêu ngân sách bị cắt giảm, ai mà biết đây là chuyện gì? Đừng có nói cho mẹ cháu đấy nhé. Thím không muốn bà ấy vì chúng ta mà lo lắng sợ hãi."

Thế là tôi vô cùng lo lắng, thím Helen sẽ cho rằng vì thím đã trả giá bằng tin vỉa hè để làm quà đáp lễ, thím đã có được tấm vé thông hành để tiết lộ bệnh tình của tôi cho mẹ tôi: "Ồ, Winnie, tôi tưởng chị đã biết tin không may về con gái chị rồi chứ."

Cho nên tôi rất sợ có một ngày mẹ tôi sẽ gọi điện đến, dùng hàng trăm cách khác nhau hỏi tôi: "Sao thím Helen lại biết? Sao con chưa từng kể với mẹ? Sao con cứ giấu diếm mẹ mãi thế?"

Đến lúc đó, tôi phải trả lời thế nào đây?

Lúc ăn tối, chúng tôi được sắp xếp ngồi ở "bàn trẻ con", chỉ có điều những đứa "trẻ con" này giờ đây đều đã ba, bốn mươi tuổi cả rồi. Trẻ con thực sự — Tessa và Cleo — thì ngồi cùng mẹ tôi.

Philip là người nước ngoài duy nhất tối nay, mặc dù trong những buổi tụ tập gia đình trước đây không thiếu trường hợp này. Hai người vợ trước của Bảo đều bị thím Helen gọi là "người Mỹ", thím nói câu này cứ như đang nhắc đến một cộng đồng chủng tộc vậy. Lúc nhắc đến vị hôn thê tương lai của Bảo chắc chắn thím ấy vô cùng kích động, bởi vì cô gái tên Vương Mị Mị này không chỉ là người Trung Quốc, mà còn xuất thân danh giá, trong nhà sở hữu tận ba công ty du lịch đấy.

"Trông cô ta giống người Nhật Bản thế." Khi chúng tôi vừa đến, được giới thiệu với Mị Mị, mẹ tôi đã nói vậy. Tôi không biết tại sao bà lại phải nói câu đó. Trong mắt tôi, Mị Mị trông có vẻ kỳ quặc, lại còn đặc biệt trẻ tuổi. Tôi đoán tuổi cô ta xoay quanh đôi mươi, mặc dù mái tóc nhuộm màu cam sáng và chiếc mũi xỏ khuyên khiến cô ta trông có vẻ trẻ con. Tôi nghe nói cô ta đang được đào tạo tại một tiệm làm tóc thời thượng tên là Oliphant, học làm thợ làm tóc. Còn mẹ tôi thì nghe nói Mị Mị làm chẳng qua chỉ là gội đầu cho khách hàng, chỉnh sửa lại những chiếc cặp tóc bị lỏng mà thôi.

Bảo đã thay đổi rất nhiều so với lần trước tôi gặp cậu ta, tóc cậu ta được chải keo vuốt bóng loáng, nửa thân trên mặc một chiếc áo thun đen, bên ngoài khoác bộ vest giả da cá sấu lấp lánh. Mỗi khi cậu ta giới thiệu Mị Mị với các khách khứa khác, tôi luôn nhìn chằm chằm vào chiếc mũi xỏ khuyên của cô ta, thật không biết lỡ cô ta bị cảm thì phải làm sao.

Cái cô em mà tôi thích thế nào?" Bảo ngồi cách bàn nói với tôi, rồi nâng ly rượu sâm panh cạn với tôi một ly, "Trông được đấy chứ. Anh thích mái tóc này của em, vừa ngắn, vừa đẹp. Mị Mị, em thấy kiểu tóc của Pearl thế nào? Đẹp, hử?" Cậu ta có một bộ bản lĩnh nịnh bợ người ta, giống như phát quà tiệc vậy, mỗi người một phần. Thói đời tôi thực sự không biết, nếu sự hiểu biết của tôi về cậu ta không sâu sắc đến thế, liệu tôi có thích cậu ta hơn chút nào không.

"Này, anh Philip," Bảo nói, rót thêm chút sâm panh, "Tôi thấy, anh lại tăng thêm mấy cân rồi đấy. Cuộc sống trôi qua khá phết nhỉ. Có lẽ anh đã quyết định mua bộ dàn âm thanh mới mà tôi giới thiệu cho anh rồi chứ, bỏ tiền đổi lấy âm lượng cao, quá hời còn gì." Bảo tiếp thị đồ âm thanh và TV tại cửa hàng âm thanh "Cậu Chàng Tinh Nghịch". Cậu ta tiếp thị có phương pháp, có thể khiến người ta tin rằng tai và mắt của họ nhạy cảm đến mức đủ để phân biệt sự khác biệt giữa sản phẩm tiêu chuẩn và sản phẩm mới có giá cao hơn năm trăm đô la. Philip từng nói một câu, nếu để Bảo buông tay làm tới, cậu ta thậm chí có thể bán cả "Kinh Thánh" cho tín đồ phái Shia ấy chứ.

Ở cái "bàn người lớn" phía sau chúng tôi, có một người đàn ông tên là Phùng Lộ Dịch, người ta gọi là "cậu Lộ Dịch", tay cầm một cốc nước ngọt gừng đi vòng quanh, khắp nơi nâng ly chúc mừng, cao đàm khoát luận. "Thế đấy, Mị Mị thuận tiện thật đấy," cậu ta nói, "Chỉ cần thêm một chữ K trước tên của mình, là có được một người chồng! Từ 'Vương' biến thành 'Khương'①, đúng không nào?" Cậu ta đắc ý cười lớn vì trò đùa của chính mình, rồi lại quay trở lại bàn của mình để lặp lại trò đùa đó. Ngồi cạnh cậu ta là vợ cậu ta, Edna. Những người này năm này qua năm khác đều đến cùng một nhà thờ để làm lễ, nhưng họ thực sự chẳng có quan hệ gì với nhà họ Khương hay nhà chúng tôi cả. Tôi nghĩ, sở dĩ mời họ là vì Phùng Edna là người phụ trách đặt hoa trong nhà thờ, cô ấy hay đến tiệm hoa Đinh để mua hoa, đương nhiên là được giảm giá hai mươi phần trăm.

①Theo phong tục phương Tây, phụ nữ sau khi kết hôn liền mang họ chồng, Vương Mị Mị gả cho Bảo nhà họ Khương, tức là nên mang họ Khương, chữ "Vương" trong nguyên tác là "WANG", chữ "Khương" là "KWANG", chỉ lệch nhau một chữ cái K.

Thím Helen ngồi cùng một bàn với Lộ Dịch và Phùng Edna. Vì dịp đặc biệt ngày hôm nay, thím ấy cố tình mặc một chiếc sườn xám bằng sa tanh màu hồng. Thân hình phì nhiêu của thím, bị chiếc sườn xám quấn chặt lấy, tạo ra các nếp gấp ở phần tà áo, làm lộ ra chiếc bụng tròn vo. Mỗi khi thím rướn người rót thêm nước, chỗ nách áo lại căng phồng lên, tôi thực sự không biết đường chỉ nào sẽ bung ra trước đây. Mái tóc thưa thớt của thím vừa mới uốn xong, có lẽ thím tưởng uốn tóc sẽ khiến tóc trông dày dặn hơn chăng. Nhưng ngược lại hoàn toàn, mái tóc của thím khiến người ta có cảm giác giống như chiên quá lửa vậy, đến cả da đầu bên dưới cũng lộ ra ngoài.

Mẹ tôi ngồi ngay đối diện thím Helen, bà mặc một chiếc áo cánh màu xanh do chính tay bà tự làm — thực tế, nhà thiết kế cũng chính là bà, bà từng kể với tôi rằng, "Không cần dùng mẫu rập có sẵn." Kiểu dáng vô cùng đơn giản, hình chữ A, cộng thêm ống tay áo cánh dơi bồng bềnh, khiến thân hình gầy gò của mẹ tôi trông giống như một lá cờ hiệu.

"Tấm lụa đẹp làm sao!" Phùng Edna nói với bà.

"Là vải pha đấy." Mẹ tôi tự hào nói với cô ta, "Có thể giặt bằng máy." Lúc này, Cleo trượt khỏi chiếc ghế của con bé, bò lên đùi mẹ tôi: "Bà ngoại, con muốn dùng đũa ăn."

Mẹ tôi đẩy chiếc mâm xoay lớn trên bàn, vươn đũa gắp vào đĩa khai vị nguội. "Đây là sứa đấy." Mẹ tôi giải thích, rồi gắp một sợi lắc lư trước miệng Cleo. Tôi thấy con gái mình há to miệng, y hệt một chú chim non đang há mỏ chờ ăn, mẹ tôi gắp một đũa sứa bỏ vào.

"Nhìn xem, con thích ăn sứa kìa!" Cleo nhai ngấu nghiến, rồi cười. Mẹ tôi không kìm được cất cao giọng nói: "Hồi bé mẹ con nói, sứa ăn vào mùi vị giống hệt dây chun."

"Đừng nói với con mấy cái này!" Cleo đột nhiên thét lên một tiếng chói tai, miếng sứa nhai được một nửa từ trong cái miệng đang há to của con bé chảy ra.

"Đừng khóc, đừng khóc," thím Helen ngồi đối diện vội vàng an ủi, "Nhìn này, ở đây vẫn còn chút thịt bò ngũ vị, có muốn ăn không? Giống như bánh hamburger vậy, ngon lắm đấy, thích thì sang đây ăn đi."

Cleo tủi thân nức nở, chạy qua gắp một miếng, ăn ngấu ăn nghiến. Mẹ tôi không nói một lời, quay phắt mặt đi nơi khác.

Tôi cảm thấy xót xa thay cho mẹ, bà đã bị ký ức của chính mình và sở thích của tôi hồi nhỏ đối với những thứ loại dây chun phản bội. Không ngờ một đứa trẻ lại có thể làm tổn thương mẹ mình theo cách mà bà không thể ngờ tới.

Tối hôm đó kết quả còn tệ hơn tôi tưởng tượng, tôi để ý thấy, xuyên suốt buổi tiệc, mẹ tôi và thím Helen vẫn luôn cố ý đối chọi nhau. Bằng tiếng Trung, họ tranh cãi xem thịt có quá mặn không, gà có quá già không, trong món "Toàn gia phúc" có cho nhiều củ năng quá không, còi sò khô có cho ít quá không. Tôi thấy Philip cố gắng hết sức lịch sự trò chuyện với anh họ Frank của tôi. Frank hút thuốc không ngừng nghỉ, đây chính là điều Philip ghét nhất. Tôi cũng nhìn thấy những người bạn không phải là bạn thật sự ở quê đang nâng ly chúc mừng cô dâu và chú rể tương lai, mặc dù họ chắc chắn sẽ ly hôn trong vòng hai năm tới. Tôi cười đờ đẫn, nghe Mary và Xã tán gẫu, cứ như thể chúng tôi vẫn là những người bạn thân thiết nhất vậy.

Tôi nhìn thấy mẹ tôi ngồi bên bàn trong rất nhiều dịp, cô độc y như những gì tôi tưởng tượng. Tôi cảm thấy giữa chúng tôi có một hào sâu ngăn cách to lớn, khiến chúng tôi không thể cùng nhau chia sẻ rất nhiều chuyện trọng đại nhất trong cuộc đời. Tất cả những chuyện này đã xảy ra như thế nào?

Đột nhiên, mọi thứ trước mắt — những bông hoa cắm trên bàn, ký ức tuổi thơ của mẹ đối với tôi, toàn bộ gia đình — tất cả những điều này dường như đều là một trò lừa bịp, vừa đáng thương, lại vừa chân thực. Tất cả những tư thế vô nghĩa này, những sự hiểu lầm oán hận lâu ngày, còn cả những bí mật đau đớn này, tại sao chúng ta phải giữ lại tất cả những thứ này? Tôi cảm thấy ngột ngạt đến mức sắp nghẹt thở, tôi muốn trốn chạy.

Một bàn tay đặt lên bã vai tôi, là thím Helen.

"Không mệt lắm chứ?" thím ấy hỏi.

Tôi lắc đầu.

"Vậy thì, qua giúp thím cắt bánh ngọt, nếu không, thím phải trả nhà hàng một khoản tiền típ phụ thu đấy." Đương nhiên, tôi không biết thím ấy lại sắp tiết lộ bí mật gì cho tôi nghe nữa đây.

Chúng tôi bước vào bếp, thím Helen cắt một miếng bánh ngọt lớn thành từng miếng vuông nhỏ, sau đó đặt chúng lên từng chiếc đĩa giấy, thím liếm lớp kem dính trên tay, gắn một quả dâu tây vào giữa lớp kem.

"Đây là chiếc bánh ngon nhất San Francisco đấy," thím ấy nói, "Mary mua từ tiệm bánh Saint ở đường Clement đấy. Biết chỗ này không?"

Tôi lắc đầu, tiện tay cắm một chiếc dĩa nhựa lên mỗi chiếc đĩa giấy.

"Có lẽ, cháu còn biết thêm những tình huống khác về bệnh tình của mình chứ?" thím ấy nghiêm túc nói, đặt chiếc bánh ngọt trong tay xuống, nhìn tôi, chờ đợi câu trả lời của tôi. Tôi bị tông giọng thay đổi đột ngột của thím làm cho giật nảy mình, bởi vì tôi thực sự không biết thím đang nói cái gì.

"Không sao đâu," thím ấy nghiêm khắc đáp lời, rồi lại tiếp tục cắt bánh ngọt của mình, "Thím đã biết rồi."

Thế là thím cứ đứng như vậy trong phòng bếp, kể cho tôi nghe chuyện thím đi khám bác sĩ vào hai tháng trước. Một hôm trời mưa thím trượt chân ngã trên bậc thềm, đầu va vào lan can. Hôm đó vừa hay mẹ tôi ở cùng thím, thế là lập tức cùng thím đến bệnh viện. Kết quả chụp X-quang là, không tổn thương xương, cũng không bị chấn động não, giống như dì ghẻ Đỗ vậy, coi như còn may mắn. Nhưng bác sĩ đã phát hiện ra một chấm đen nhỏ ở vùng hộp sọ của thím, cần phải kiểm tra sâu hơn nữa.

"Những gì thím biết chỉ có thế thôi," thím vừa nói, vừa gõ vào đầu mình, nói với vẻ chiến thắng, "Ngón tay của Chúa gõ một cái vào đây, nói với thím rằng, thời gian đã đến. Thím mọc một khối u não."

Tôi sợ đến mức thở không ra hơi, thím Helen lại nói tiếp: "Đương nhiên, bác sĩ lại tiến hành kiểm tra sâu hơn để chẩn đoán xác nhận, sau đó họ nói với thím, khối u này là lành tính." Lúc thím nói chữ "lành tính" này, giống như lúc chơi trò chơi Bingo mà nói đến ô thứ chín của hàng B vậy①, "Họ nói không có vấn đề gì, không cần phẫu thuật."

①"Lành tính", nguyên tác là "BENIGN", tách ra đọc phát âm rất giống ("cửu").

Tôi thở phào một hơi thật dài, rồi thím lại nói: "Mẹ cháu nói, may cho cháu đấy, mọi thứ đều bình thường. Các con của thím, cả cậu Henry của cháu đều nói, tai qua nạn khỏi, ắt có phúc lớn. Nhưng cháu có biết bọn chúng thực ra đang nói gì không?"

Tôi lắc đầu.

"Nhìn xem. Tại sao tự nhiên Bảo lại nói nó muốn kết hôn? Tại sao Mary lại bay về, đoàn tụ cả nhà? Nó nói, mọi người tụ tập lại một lần nữa đi. Còn cả Frank nữa, thím còn chưa giục, nó đã đi cắt tóc rồi." Thím cười, "Ngược lại cả mẹ cháu cũng vậy. Hôm nay bà ấy nói, đi đi, đi lo tiệc của con trai cô đi, làm vòng hoa cứ để tôi lo. Sao cháu lại lắc đầu? Những gì thím nói đều là thật."

Khuôn mặt thím càng thêm nghiêm nghị. "Thím tự nhủ với bản thân, sao lại có sự thay đổi lớn thế này, mọi người sao tự nhiên lại đối xử tốt với thím như vậy? Sao lại đột ngột thế? Tại sao các con của thím lại đột ngột hiếu thảo với thím như vậy? Tại sao bọn chúng đều chạy đến thăm thím? Sao Mary lại gọi thím là mầm mi (mẹ yêu) lần nữa, mẹ cháu thì ôm trọn hết việc ở tiệm hoa. Cháu có biết tại sao không? Bọn chúng biết, bọn chúng đều biết thím sắp chết rồi. Bọn chúng không nói, nhưng thím biết, cái chết đang kề cận rồi."

Tôi đặt bánh ngọt lên khay. "À, thím Helen, chắc chắn không có chuyện gì đâu, đã bảo bác sĩ nói là lành tính rồi, tức là —"

Thím xua xua tay. "Không cần dỗ thím nữa, thím không sợ đâu. Thím không phải cô nhóc nữa rồi, thím đã sắp bảy mươi ba tuổi rồi."

Tôi kiên trì nói: "Cháu không dỗ thím đâu, thím sẽ không chết đâu."

"Mọi người đều muốn giấu thím, được thôi. Bọn họ đều hy vọng trước khi thím chết sống tốt hơn một chút, được thôi, thím cũng giả vờ như không biết là được chứ gì."

Tôi thực sự bị làm cho đầu óc rối mù, tôi không biết thím Helen thực sự bị bệnh, hay chỉ là do tưởng tượng mà hiểu lầm ý tốt của các con thím ấy. Tuy nhiên, đối với việc tính cách của mỗi người tự nhiên đều thay đổi, tôi cảm thấy có chút kỳ lạ. Điều này rất giống với phong cách nhất quán của người nhà họ Khương, trước tiên tung ra một bí mật, sau đó mọi người đều giả vờ như không biết chuyện gì xảy ra.

"Đừng lo cho thím," thím ấy nói, rồi vỗ vỗ tay tôi, "Thím thực sự không nên kể cho cháu nghe những chuyện này, tránh để cháu lo lắng. Thím kể cho cháu những chuyện này chỉ muốn để cháu hiểu, tại sao thím không thể thay cháu giữ bí mật được nữa."

"Bí mật gì cơ?"

Thím thở dài một hơi thật sâu. "Pearl à, gánh nặng này quá lớn rồi. Trong lòng thím có một hòn đá cứ buông xuống không đành, mẹ cháu vẫn chưa biết chuyện này. Thím làm sao có thể mang cái gác xép này để lên thiên đàng được chứ? Không, Pearl, cháu bắt buộc phải kể cho mẹ cháu nghe, nói với bà ấy rằng cháu mắc bệnh đa xơ cứng."

Tôi bị thím làm cho chết sững tại chỗ đến mức không cười nổi, cũng không muốn đính chính lỗi sai của thím. "Chuyện này vô cùng quan trọng." thím Helen kiên định nói, "Nếu cháu không nói với bà ấy, vậy thì để thím tận mồm nói với bà ấy — kịp trước Tết Nguyên Đán." Thím nhìn tôi bằng một ánh mắt chắc nịch.

Khoảnh khắc này đây, tôi thật sự rất muốn lắc người thím, bảo thím đừng chơi trò chơi này nữa.

"Thím Helen, thím biết là con không thể đem chuyện này kể cho mẹ con. Thím biết bà ấy là người như thế nào mà."

"Đương nhiên," thím ấy nói, "Thím hiểu mẹ cháu năm mươi năm nay rồi, cho nên thím biết bây giờ là thời cơ tốt nhất để kể cho bà ấy."

"Tại sao con cứ phải kể cho bà ấy vào lúc này chứ? Bà ấy biết chúng ta giấu giếm bà ấy chỉ tổ sinh tức giận thôi."

Thím nhíu mày. "Cháu chỉ nghĩ đến việc mẹ cháu sẽ tức giận với cháu? Phì! Phì! Ích kỷ quá."

"Không, ý con là, không cần thiết phải nói cho bà ấy ngay bây giờ. Con rất khỏe."

"Cháu tưởng cháu có thể giấu bà ấy cả đời á? Nói không chừng bà ấy có thể sống đến một trăm tuổi ấy chứ. Đến lúc đó, cháu phải làm thế nào, hả?"

"Không phải thế, con chỉ không muốn bà ấy lo lắng cho con."

"Bà ấy có quyền lo lắng," thím Helen nói, "Bà ấy là mẹ cháu cơ mà."

"Nhưng bà ấy không cần thiết phải lo lắng cho những chuyện không đâu."

"Thế nên cháu mới đáng lẽ nên nói cho bà ấy ngay bây giờ chứ, sau này sẽ không có chuyện gì nữa."

"Nhưng bà ấy sẽ nghĩ chúng ta việc gì phải giấu diếm bà ấy, bà ấy sẽ tưởng tình hình tồi tệ hơn nhiều."

"Nói không chừng bà ấy cũng có bí mật giấu chúng ta đấy chứ." thím cười, rồi lại cười lớn vì một trò đùa mà chỉ có mình thím biết, "Đúng vậy, mẹ cháu có không ít bí mật đâu đấy!"

Tôi cảm thấy giống như đang gặp ác mộng, đang cãi nhau với một người điếc vậy. Có lẽ, thím Helen nói đúng, thím ấy có một khối u não. Có lẽ khối u não này đang gặm nhấm đại não của thím, khiến thím phát điên rồi. "Được rồi," cuối cùng tôi nói, "Đừng để thím nói với bà ấy, tự con sẽ nói."

Thím Helen nhìn tôi với vẻ không tin tưởng: "Cứ quyết định thế nhé?"

"Quyết định thế đi." Tôi khẽ nói, chính tôi cũng không biết bản thân mình có đang nói dối hay không.

Thím sờ vai tôi, tiện tay nhặt giúp tôi sợi chỉ thừa trên chiếc áo len màu xanh lá. "Pearl, cháu mặc màu này rất đẹp. Được rồi, không nói những chuyện này nữa, chúng ta quay lại thôi." Thím bưng khay đựng bánh ngọt lên.

"Để con bưng cho." Tôi nói cụt lủn. Thím chần chừ một chút, muốn tranh chấp với tôi một phen. Sau đó, có lẽ vì để bảo trọng cơ thể của chính mình, thím đã để tôi bưng.

Sau buổi tiệc, chúng tôi quay trở lại căn phòng của mẹ tôi. Lũ trẻ lại bắt đầu trò chơi quen thuộc của chúng, cười này, náo loạn này, la hét này, cuối cùng đều ngủ thiếp đi. Tôi định hỏi mẹ chuyện khối u não của thím Helen rốt cuộc là thế nào, nhưng sau đó lại nghĩ, đây không phải là thời điểm tốt để chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác. Tôi thực sự mệt mỏi rã rời, cho nên, sau khi từ chối trà, cà phê hòa tan và nước cam do mẹ đưa tới, tôi đứng dậy ngáp một cái. "Con đi ngủ đây." Tôi nói. Philip tặng mẹ tôi một nụ hôn chúc ngủ ngõ, bà cứng đờ ngẩng mặt lên tiếp nhận nụ hôn này, rồi chúng tôi nhanh chóng chuồn về phòng của mình.

"Các người mang bàn chải đánh răng chưa đấy?" Mẹ tôi cất giọng hét lớn qua cánh cửa phòng bị khóa lại, "Các người đều đánh răng rồi chứ?"

"Mang rồi!" Philip đáp, "Đánh rồi!"

"Chăn có đủ không, khăn mặt có đủ không?"

"Đủ lắm rồi," anh ấy nói, nháy mắt với tôi, "Ngủ ngon nhé!" anh lớn tiếng đáp, rồi tắt đèn. Khoảng chừng yên tĩnh trong năm giây.

"Lạnh quá đúng không? Có thể bật lò sưởi mà."

Mẹ ơi, chúng con rất khỏe." Tôi có chút thiếu kiên nhẫn đáp lại. Qua một lát, tôi lại đổi sang một giọng điệu ôn hòa hơn một chút nói, "Đừng bận tâm nữa. Ngủ đi."

Tôi nín thở, vạn vật tĩnh mịch. Cuối cùng, tôi nghe thấy tiếng bà lê dép lẹt xẹt đi xuống lầu, từng tiếng bước chân khẽ khàng đều dẫm nát trái tim tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.