Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần IX - ĐỒ GIẶT

❊ ❊ ❊

Cuối cùng thì cũng tháng Ba, mang theo vài ba tín hiệu xuân miễn cưỡng. Cây vẫn trụi lá, búp chồi vẫn cứng, ẩn kỹ trong kén, nhưng nắng xuống nơi nào là thấy tan chảy nơi đó. Bãi chó rã đông, rồi vẹt dần thành các mẫu ren bằng băng, vàng xuội vì nước tiểu năm ngoái. Từng khoảnh cỏ ra với nắng, rải rác, lẹp nhẹp bùn. Tĩnh ngục chắc giống thế này.

Hôm nay tôi được đổi món bữa sáng. Một thứ bỏng ngũ cốc mới ra lò, Myra mang sang chấn hưng tinh thần tôi: cô nàng vốn mê tín các cột chữ trên lưng bao bì. Giống bỏng này, theo lời quảng cáo bằng kiểu chữ chân chất màu kẹo mút, màu đồ chạy bộ vải bông xù, không phải chế từ ngô hay lúa mì đã thương mại hóa đến hư hỏng, mà từ các loại hạt hiếm người biết, mang những tên khó đọc, cổ giả và huyền bí. Trồng từ hạt giống mới phát hiện lại trong các mộ da đỏ tiền sử và kim tự tháp Ai Cập; cái này cộng điểm cho tính chân thực, dù nghĩ cho kỹ thì cũng không đáng yên tâm như họ tưởng. Không chỉ đánh bóng bạn như miếng giẻ cọ nồi, những bông bỏng còn rì rầm hứa hẹn sinh lực vãn hồi, tuổi xuân vĩnh cửu, bất tử trường sinh. Lưng hộp giăng ngang một khúc ruột hồng dẻo dai; mặt trước in một khuôn mặt ngọc khảm không có mắt, mà phòng quảng cáo rõ ràng chẳng nhận ra là cái mặt nạ nhà mồ Aztec.

Để tỏ lòng tôn kính món ngũ cốc mới tôi ép mình ngồi vào bàn bếp đàng hoàng, trang bị đủ bộ thìa dĩa khăn ăn. Những kẻ sống một mình dần nhiễm thói ăn theo chiều đúng: tội gì phải cầu kỳ nghi thức khi chẳng có ai chia sẻ hay quở trách? Nhưng trễ nải một ly rồi có thể dẫn đến tung hê toàn cục.

Hôm qua tôi quyết định sẽ đi giặt, để giễu Chúa chút chơi, Chủ nhật mà làm việc. Dù chắc ngài cũng chẳng màng đến thứ ngày tháng: trên Thiên đàng, cũng như trong cõi vô thức - người ta bảo thế - không có khái niệm thời gian. Nhưng thực tình thì là để giễu Myra. Tôi không được dọn giường, Myra dặn; tôi không được mang vác giỏ nặng đầy quần áo bẩn leo các bậc thang rọc rà rọc rạch xuống hầm, nơi để cái máy giặt điên khùng cổ lỗ sĩ.

Thế ai giặt đồ? Myra, nghiễm nhiên, sẵn tiện ở đây con cho quay một mẻ, cô ả sẽ nói. Rồi chúng tôi sẽ cùng giả vờ không phải cô vừa làm thế. Chúng tôi toa rập với nhau dựng chuyện ảo tưởng - hoặc đang nhanh chóng trở thành ảo tưởng - rằng tôi có thể tự lo lấy thân. Nhưng nỗi căng thẳng phải giả đò đang dần khiến cô nhột nhạt.

Thêm nữa lưng cô bắt đầu nhức. Cô muốn thu xếp tìm một bà nào đó, một kẻ lạ mặt tọc mạch đi thuê nào đó, tới đây gánh vác việc này. Cô lấy cớ tim của tôi. Không biết làm sao mà cô đã biết chuyện đó, biết tay bác sĩ giỏi cấp phát tiên đoán cùng những món thuốc dạo - tôi ngờ là qua y tá, một ả tóc đỏ nhuộm có cái mồm chạy như máy khâu. Thị trấn này là một cái bình thông nhau.

Tôi bảo Myra là đồ bẩn của tôi, tôi làm gì là việc của tôi: tôi sẽ cưỡng lại bà nào đó càng lâu càng tốt. Bao nhiêu phần là do xấu hổ, về phía tôi? Một phần lớn đấy. Tôi không muốn ai khác thọc mũi vào những chức năng suy giảm, những vết bẩn và mùi hôi của mình. Myra thì không sao, bởi cô biết tôi và tôi biết cô. Tôi là gánh nặng của cô: nhờ tôi mà cô trở nên đức độ, trong mắt mọi người. Chỉ việc nhắc tên tôi và đảo mắt, cô sẽ gặt hái được khoan nhượng khắp nơi, nếu không phải từ tay thiên thần thì ít nhất cũng từ đám hàng xóm, mà đám này thì khó tính khó chiều hơn gấp vạn.

Đừng hiểu nhầm tôi. Tôi không bỉ báng lòng tốt, một thứ còn khó lý giải hơn thói ác, và cũng phức tạp không thua. Nhưng đôi lúc cũng khó chịu đựng.

Sau khi quyết định - và nếm náp trước những tràng be lên đau khổ từ miệng Myra khi nhìn thấy chồng khăn đã giặt và gấp gọn, cũng như nụ cười nhăn nhở chiến thắng của mình - tôi bắt tay vào cuộc phiêu lưu giặt giũ. Tôi vọc vào thùng đồ bẩn, suýt tí thì té lộn đầu vào trong, và bới ra những gì tôi nghĩ mình đủ sức vác, cố gạt đi nỗi hoài nhớ đồ nội y những ngày xưa. (Chúng mới xinh đẹp bấy! Giờ đâu ai còn làm những đồ như thế nữa, này khuy tự bọc, này mũi khâu tay. Hoặc có thể vẫn có, nhưng tôi không thấy, mà đằng nào cũng không đủ tiền mua, và cũng không mặc vừa. Những của này có eo.)

Đồ lựa ra bay vào giỏ nhựa, và tôi khởi hành, từng bậc một, bước như cua xuống cầu thang, như bé quàng khăn đỏ trên đường đến nhà bà qua thế giới ngầm. Chỉ trừ việc bà chính là tôi, và trong tôi có con sói ác của riêng mình. Gặm hoài, gặm hủy.

Tầng trệt, đến giờ vẫn ổn. Theo hành lang vào tới bếp, rồi đèn hầm sáng òa và bồn chồn lao mình vào ẩm thấp. Gần như lập tức, cơn run chạy khắp người tôi. Những nơi trong nhà này ngày xưa tôi đi lại dễ dàng thì giờ đã thành bất trắc: cửa sổ trượt cái nào cũng là bẫy, chờ dập xuống tay tôi, thang xếp chỉ chực sập, tầng trên cùng tủ ly gài đầy đồ thủy tinh hiểm trở. Xuống được nửa cầu thang hầm tôi hiểu lẽ ra không nên cố. Bậc thang quá dốc, bóng tối quá đặc, cái mùi quá hắc ám, ngửi như xi măng mới đổ lên lấp xác một ông hay bà xã vừa bị khéo léo thuốc chết. Trên sàn dưới chân thang có một vũng bóng tối, sâu và lấp lánh ướt như vũng nước thật sự. Có thể là vũng nước thật; có thể sông đang dâng lên ngập sàn, như tôi đã thấy trên kênh thời tiết. Bốn nguyên tố đều có thể trật đường rầy bất cứ lúc nào: lửa có thể bùng khỏi đất, đất lỏng ra thụt xuống quanh tai, khí táp vào ngực như tảng đá, xô đổ mái nhà trên đầu. Thế thì lũ lụt có gì lạ?

Tôi nghe tiếng lọc bọc, có lẽ vang lên trong người tôi mà cũng có thể không; tôi thấy tim hộc lên trong ngực vì hoảng sợ. Tôi biết nước đó chỉ là trò chơi xấu, do tai hoặc mắt hoặc đầu; dù thế, tốt hơn không nên xuống thêm. Tôi đặt giỏ đồ xuống cầu thang hầm, bỏ cuộc. Có thể tôi sẽ quay lại lấy lên sau, cũng có thể không. Người khác sẽ làm việc đó. Sẽ là Myra, đôi môi mím chặt. Giờ tôi đã ký tên vào bản án, giờ sẽ có bà nào đó ấn cho tôi là cái chắc. Tôi quay mình, suýt ngã, tóm lấy tay vịn cầu thang, rồi lôi mình lên trở lại, từng bậc một, tới ánh sáng nguội lạnh tỉnh táo trong bếp.

Ngoài cửa sổ là màu xám, một màu xám ỉu thìu đồng loạt, cả trời lẫn tuyết đang già đi lỗ chỗ. Tôi cắm ấm điện, một chốc đã nghe tiếng hơi nước êm ru vỗ về. Phải đến thế nào thì người ta mới cảm thấy đồ đạc đang chăm sóc mình chứ không phải là ngược lại. Tuy thế tôi vẫn nguôi ngoai.

Tôi pha một chén trà, uống hết, rồi tráng sạch chén. Tôi vẫn tự rửa đồ được, gì thì gì. Rồi tôi cất chén, trên kệ cạnh một lô chén khác, những mẫu vẽ tay của bà nội Adelia, hoa huệ bên hoa huệ, violet cùng violet, mẫu nào theo hình ấy. Ít nhất tủ ly cũng chưa lanh tanh bành lên. Nhưng hình ảnh những món đồ giặt bỏ rơi trên bậc cầu thang hầm làm tôi áy náy. Bao nhiêu là món giẻ, bao nhiêu mảnh nhàu nát, như da trắng bị trút lại. Dù cũng không trắng hẳn. Lời chứng không biết cho cái gì: những trang trắng cơ thể tôi đã bôi vẽ lên, để lại bằng cớ mã hóa về cái quá trình, chậm rãi nhưng chắc chắn, nó tự lộn trái ra ngoài.

Có lẽ tôi nên cố nhặt nhạnh mấy thứ đó, rồi tống vào thùng đồ bẩn giấu đi, và sẽ chẳng ma nào biết được. Ma nào ở đây là Myra.

Tôi đã phát rồ, có vẻ thế, vì thèm khát sống gọn gàng.

Muộn còn hơn không, Reenie bảo.

Ôi Reenie. Em ước có chị ở đây biết mấy. Hãy về đây chăm sóc em!

Nhưng chị sẽ không trở lại. Tôi sẽ phải chăm sóc lấy mình. Mình và Laura, như tôi đã nghiêm trang hứa.

Muộn còn hơn không.

Tôi đến đâu rồi? Đang là mùa đông. Không, đoạn đó qua rồi.

Đang là mùa xuân. Mùa xuân năm 1936. Cái năm tất cả bắt đầu tan rã. Nghĩa là, tiếp tục tan rã một cách trầm trọng hơn vẫn đang tan rã trước giờ.

Vua Edward thoái vị vào năm đó; ông ta chọn tình yêu và khước từ tham vọng. Không phải. Ông ta chọn tham vọng của Công tước phu nhân Windsor và khước từ tham vọng của mình. Đấy là sự kiện người ta nhớ. Và nội chiến bắt đầu, ở Tây Ban Nha. Nhưng những chuyện này phải vài tháng nữa. Tháng Ba có sự kiện gì? Chắc chắn là có. Richard sột soạt tờ báo trong bữa sáng, nói: Thế là ông ta đã lầm thật.

Chỉ có hai chúng tôi ngồi ăn, hôm đó. Laura không cùng ăn sáng, chỉ trừ cuối tuần, và rồi nó trốn càng nhiều càng tốt bằng cách giả vờ ngủ muộn. Ngày thường nó ăn một mình trong bếp, vì còn đi học. Cũng không phải một mình: thường Murgatroyd vợ có mặt. Rồi Murgatroyd chồng đưa nó đến trường và đón về, bởi Richard không muốn cho nó đi bộ. Thực sự là ông ta không muốn có cơ hội cho nó đi la cà.

Nó ăn trưa ở trường, còn ở lại học sáo thứ Ba và thứ Năm, vì trường bắt buộc phải chơi nhạc cụ nào đó. Dương cầm đã được thử đánh tiếng, nhưng chẳng đi đến đâu. Vĩ cầm cũng không khá hơn. Laura thù luyện tập, chúng tôi được thông báo vậy, mặc dù tối đến đôi khi chúng tôi được thưởng thức tiếng sáo rền rĩ, nỉ non lạc điệu. Những nốt phô có vẻ như cố tình.

“Để tôi nói chuyện với nó,” Richard bảo.

“Chúng ta phàn nàn vào đâu được,” tôi đáp. “Nó chỉ đang làm theo cậu yêu cầu.”

Laura không còn vô lễ thẳng thừng với Richard nữa. Nhưng ông ta bước vào phòng nào, nó rời ngay khỏi phòng đó.

Quay lại chuyện tờ báo sáng. Vì Richard đang dựng báo lên giữa ông ta và tôi, tôi đọc được dòng tít. Ông ta ở đây là Hitler, vừa tiến quân vào vùng sông Rhine. Ông ta đã phá luật lệ, ông ta đã vượt giới hạn, ông ta đã làm điều đại kỵ. Thế đấy, Richard nói, ta biết tỏng là sẽ có chuyện đó, nhưng tụi còn lại không kịp trở tay. Ông ta đùa cợt tất cả lũ chúng nó. Đúng là một gã cừ. Thấy ngay mắt xích yếu giữa sợi dây. Nhìn ra cơ hội là chộp lấy. Đến phải ngả mũ phục ông ta.

Tôi ừ à, nhưng không lắng nghe. Không nghe là cách duy nhất, trong những tháng ấy, hòng giữ thăng bằng. Tôi phải bưng tai trước mọi tiếng động vây bủa xung quanh; như người đi dây qua thác Niagara, tôi không thể liều đưa mắt nhìn quanh, sẽ trượt chân. Còn làm gì được, khi điều choán hết tâm trí người ta từng phút giây thức tỉnh lại cách xa vạn bội cuộc sống người ta được cho là đang sống lúc này? Cách xa vời những thứ nằm ngay trên bàn kia, mà sáng hôm ấy là cái bình đơn cắm một bông thủy tiên trắng phau, ngắt từ bát củ thủy tiên ép nở Winifred gửi qua. Tháng này vẫn có, thật dễ thương hết sức, chị ta nói. Thật đến thơm. Như một hơi hy vọng.

Winifred nghĩ tôi là đứa lành như đất. Nói cách khác, chị ta nghĩ tôi là con đần. Sau này - mười năm nữa - chị ta sẽ nói, qua điện thoại, bởi chúng tôi không còn nhìn mặt nhau, “Tôi cứ tưởng cô là đứa ngu, nhưng thực tình cô là đồ ác quỷ. Cô đã thù chúng tôi từ đầu vì cha cô phá sản và tự đốt trụi nhà máy, mà cô đổ tại chúng tôi.”

“Không phải cha tôi đốt,” tôi đáp. “Đấy là Richard. Hoặc là do Richard xếp đặt.”

“Đúng vu khống trắng trợn. Cha cô nhẵn tiền phơi mõm, nếu không nhờ tiền bảo hiểm cái nhà đó cô đã không xu dính túi! Chúng tôi đã lôi hai đứa cô khỏi vũng bùn, cô với con em loạn óc của cô! Không có chúng tôi thì các cô đã dẫn diệu đứng đường chứ đừng hòng ngồi mát ăn bát vàng theo cái thói cô chiêu cậu ấm nhà các cô. Cô chỉ cần ngửa tay là sung rụng, cô chả bao giờ phải nhúc nhích tí gì, cô không bao giờ tỏ một chút biết ơn với Richard. Cô không đụng một ngón tay để giúp anh ấy, chưa bao giờ hết, một lần cũng không.”

“Tôi làm y như chị muốn còn gì. Tôi ngậm miệng. Tôi cười. Tôi là hàng bày tủ kính. Nhưng đến Laura thì đã đi quá xa. Lẽ ra ông ta phải chừa Laura ra.”

“Toàn là hận thù dối trá! Cô nợ chúng tôi mọi thứ, và cô không chịu nổi. Cô phải tìm cách trả thù anh ấy! Hai chị em cô hùa nhau giết chết anh ấy, không khác gì đã kề súng vào đầu anh ấy mà bóp cò.”

“Nói vậy thì ai giết Laura?”

“Laura tự giết mình, cái đó cô thừa biết.”

“Tôi có thể nói y như thế về Richard.”

“Đúng là lăng mạ vu cáo. Dù gì thì Laura cũng dở điên dở khùng. Tôi không biết làm sao mà cô lại tin được tí gì trong những điều nó nói, về Richard hay mọi chuyện khác. Không ai đầu óc bình thường lại đi tin cả!”

Tôi không nói được gì thêm, thế nên tôi gác máy. Nhưng tôi bất lực không làm gì nổi chị ta, bởi lúc đó chị ta có con tin. Chị ta giữ Aimee.

Nhưng năm 1936 chị ta vẫn còn niềm nở, và tôi vẫn còn là đệ tử của chị ta. Chị ta vẫn lôi tôi từ cuộc giao tế này đến lần gây quỹ khác - họp hành của Liên hội phụ nữ, hội chính trị váy xòe, ủy ban tổ chức cái này cái nọ - cắm tôi vào ghế rồi đẩy vào góc nhà, trong lúc chị ta làm mọi sự gặp gỡ chào hỏi cần thiết. Bây giờ nhìn lại tôi thấy nói chung chị ta không được người ta thích, mà chỉ là chịu đựng, bởi chị ta có tiền, và có nhiệt huyết vô bờ bến: phần lớn đàn bà trong những nhóm ấy sẵn lòng để Winifred gánh đỡ phần lớn mọi việc vớ vẩn cần làm.

Chốc chốc, một người trong đám lại lẻn đến bên tôi mà tiết lộ mình có quen bà tôi - hoặc nếu trẻ hơn, mình ước giá mà được biết bà tôi, những ngày hoàng kim trước Đại chiến, khi người ta còn biết thế nào là phong lưu chân chính. Đây là ám hiệu: nó có nghĩa là Winifred là hạng mới nổi - tiền mới, ồn ào và thô lậu - và rằng tôi cần phải đứng lên cổ xúy một hệ giá trị nào đó khác. Tôi sẽ mỉm cười lập lờ, và nói rằng bà tôi đã qua đời rất lâu trước khi tôi sinh ra. Nói cách khác, họ đừng trông đợi tôi đứng ra lập liên minh chống trả Winifred.

Thế đức phu quân tài năng của chị sao rồi? họ cũng nói. Lúc nào thì chúng tôi được nghe tin hệ trọng đấy? Tin hệ trọng ắt là tin về sự nghiệp quan trường của Richard, vẫn chưa chính thức bắt đầu nhưng được coi là mấp mé cửa rồi.

Ôi, tôi cười đáp, tôi nghĩ mình sẽ là người được biết đầu tiên. Tôi không tin điều này: tôi nghĩ mình sẽ là người cuối.

Đời chúng tôi - Richard và tôi - đã ổn định vào một nếp lúc đó tôi đoán sẽ là vĩnh viễn. Nói cho đúng là có hai cuộc đời, một ban ngày và một ban đêm: chúng tách rời nhau, mà lại cũng bất biến không đổi. Thanh tĩnh và trật tự và đâu vào chỗ đấy, nhưng ẩn bên dưới là sự bạo hành đúng mực và hợp pháp vẫn hằng diễn ra, như cái đế giày nặng nề, tàn nhẫn gõ nhịp trên sàn bọc thảm. Mỗi sáng tôi đều tắm, để gột sạch buổi đêm; để kỳ cho hết cái chất Richard bôi lên tóc - một thứ mỡ thơm đắt tiền nào đấy. Nó thôi ra khắp cả da tôi.

Ông ta có phiền vì những hoạt động về đêm của ông ta chỉ khiến tôi thờ ơ, kinh tởm nữa là khác? Không hề. Ông ta ưa chinh phục hơn là hợp tác, ở mọi lĩnh vực trong đời.

Đôi lúc - càng lúc càng nhiều, theo thời gian - xuất hiện những vết bầm, đầu tiên tím, rồi xanh, rồi vàng. Thật ngạc nhiên là tôi lại dễ bầm thế, Richard nói, cười mỉm. Chạm đến là bầm. Ông ta chưa gặp cô nào dễ bầm thế bao giờ. Vì còn trẻ và mong manh quá đấy.

Ông ta khoái nhất đùi non, ở đó không lộ. Bất cứ thứ gì đập vào mắt đều có thể ngáng đường thăng tiến của ông ta.

Tôi thỉnh thoảng nghĩ những dấu tích ấy trên thân tôi là một thứ mã, mới đầu bùng lên, sau nhòa đi, như mực vô hình đem hong trước nến. Nhưng nếu là mã, lời giải trong tay ai?

Tôi là cát, tôi là tuyết - bị viết lên, bị viết lại, bị san bằng.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.