Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 536 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
SÁNG LUNG LINH VẦNG TRĂNG

❊ ❊ ❊

Đêm qua tôi xem một cô gái trẻ châm lửa đốt mình: một cô gái mảnh mai, mặc váy mỏng nhẹ dễ bắt lửa. Cô làm việc đó phản đối một màn bất công gì đấy; nhưng sao cô ta lại nghĩ đem thân mình làm mồi tế thần lửa sẽ giải quyết được điều gì? Ôi, đừng làm thế, tôi muốn bảo cô. Đừng đốt cháy cuộc đời mình. Cho dù là vì cái gì nữa thì cũng không đáng. Nhưng cô thấy đáng, rõ là vậy.

Cái gì đã ám vào họ, những cô gái trẻ mê tự thiêu này? Có phải đấy là cách họ chứng tỏ con gái cũng có gan, con gái làm được nhiều điều chứ không chỉ khóc lóc rên rỉ, con gái cũng có thể đối mặt cái chết một cách hiên ngang? Và cái gì đã thôi thúc họ? Có phải bắt đầu bằng nổi loạn không, và nếu đúng thế thì nổi loạn chống gì? Cái đại cục đúc chì tức thở, cỗ xe ngựa vĩ đại bánh đinh, những bạo chúa mù lòa, những thánh thần đui mắt? Có phải những cô gái ấy quá sức bất cần, hay quá sức ngạo mạn, mà nghĩ mình có thể ngáng đường tiến lên của chúng nếu tự đi hiến thân trên một bàn thờ lý thuyết nào đó, hay đây là một lối tuyên ngôn? Cũng đáng khâm phục đấy, nếu ai khâm phục thói mê cuồng. Và cũng gan dạ nữa. Nhưng hoàn toàn vô dụng.

Tôi lo cho Sabrina cả mặt ấy nữa. Nó đang làm những việc gì, ở chốn xa xôi tận cùng thế giới kia? Có phải nó đã nhiễm nọc bầy đoàn Thiên Chúa, hay bầy đoàn Phật giáo, hay đã bị hớp hồn vì thứ bùa mê gì khác? Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những kẻ hèn mọn nhất, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy. Đó có phải lời viết trên tấm thông hành đi vào cõi vô dụng lợi của nó không? Nó muốn chuộc lại tội lỗi của gia đình đại phú khốn nạn đốn mạt đã sinh ra mình? Tôi thực tình mong không phải thế.

Ngay cả Aimee cũng có chút máu ấy trong mình, nhưng ở nó chuyện này diễn ra từ từ hơn, méo mó hơn. Laura lao xuống cầu khi Aimee lên tám, Richard chết khi nó lên mười. Những chuyện này không thể không để lại ảnh hưởng. Rồi lại đến cuộc giằng co của Winifred và tôi, đủ khiến nó tan tành. Winifred như ngày nay sẽ chẳng thắng nổi trận này, nhưng ngày ấy thì có. Mụ ta hớt mất Aimee trên tay tôi, và chiến đấu như sư tử tôi cũng không bao giờ giành lại được.

Chẳng có gì lạ là khi đến tuổi thành niên, nắm được số tiền Richard để lại là Aimee thay ngựa giữa dòng; nó xoa dịu cõi lòng bằng đủ loại hóa chất khác nhau, nó hành cho mòn xác bằng hết người đàn ông này đến người đàn ông khác. (Ai là cha của Sabrina, chẳng hạn? Khó mà nói, và Aimee chẳng bao giờ nói. Cứ phóng phi tiêu, nó sẽ bảo, xem trúng vào ai.)

Tôi cố gắng duy trì liên lạc. Tôi vẫn hy vọng làm lành - dù gì nó cũng là con gái tôi, và tôi cảm thấy ăn năn, tôi muốn đền bù cho nó - đền bù cho cái tuổi thơ đã thành bãi lầy của nó. Nhưng tới lúc ấy nó đã quyết chí kháng cự tôi - kháng cự cả Winifred, đấy cũng là một chút an ủi. Nó không cho ai trong hai mụ già chúng tôi đến gần mình, hay đến gần Sabrina - nhất là Sabrina. Nó không muốn chúng tôi làm Sabrina ô uế.

Nó chuyển nhà liên tục, nhấp nhổm không yên. Hai ba lần nó bị tống cổ ra đường, bởi không trả tiền nhà; nó từng bị bắt vì gây rối. Nó phải vào viện vài lần. Tôi nghĩ phải gọi là nó đã mắc chứng nghiện rượu mãn tính, dù tôi ghét cái thuật ngữ này. Nó có đủ tiền sống nên không bao giờ phải kiếm việc làm, cũng tốt vì nó cũng chẳng giữ được việc nếu có tìm được. Mà có thể không phải tốt. Có thể mọi sự đã khác đi nếu nó không được quyền trôi nổi; nếu nó phải vắt óc lo bữa ăn tiếp theo, không có thì giờ ngẫm ngợi về những tổn thương mà nó nghĩ chúng tôi đã giáng xuống đời nó. Thu nhập không mất sức chỉ tổ nuôi dưỡng mầm thương thân trong những tâm hồn màu mỡ cho chuyện ấy.

Lần cuối cùng tôi đến gặp Aimee, nó đang sống trong một căn nhà liên kế nhếch nhác gần phố Parliament, ở Toronto. Một đứa bé tôi đoán chắc là Sabrina đang ngồi xổm trên vuông đất bên lối vào trước nhà - một nhãi ranh đầu xù nhem nhuốc vận quần đùi nhưng ở trần. Nó cầm cái ca nhôm cũ và đang xúc cát vào ca bằng cái thìa cong. Đúng là lỏi con tháo vát: nó hỏi xin tôi hăm lăm xu. Tôi có cho nó không? Chắc hẳn là có. “Ta là bà ngoại con,” tôi bảo nó, và nó trợn mắt nhìn lên như nhìn một mụ khùng. Hiển nhiên nó chưa bao giờ được cho biết trên đời có cái nhân vật đó.

Tôi nghe đầy tai chuyện kể của một người láng giềng, cái lần ấy. Họ có vẻ là người tử tế, hoặc cũng tử tế đến mức cho Sabrina ăn khi nào Aimee quên không về nhà. Tên họ là Kelly, theo tôi nhớ. Chính họ đã gọi cảnh sát khi phát hiện Aimee nằm dưới chân cầu thang, gãy cổ. Trượt ngã hay bị đẩy hay tự nhảy, chẳng ai biết được.

Lẽ ra tôi phải chộp lấy Sabrina, hôm đó, và đưa nó đi mất tích. Trốn sang Mexico. Tôi chắc đã làm thế nếu biết chuyện gì rồi sẽ đến - biết Winifred sẽ lại hốt nó đi và nhốt nó lại, tránh xa tôi, như đã làm với Aimee.

Liệu Sabrina có vui sướng hơn nếu sống với tôi chứ không phải với Winifred? Không biết nó cảm thấy ra sao khi lớn lên bên một mụ già giàu có, oán hận, đang rữa nát? Thay vì một mụ già nghèo khó oán hận đang rữa nát, tức là tôi đây. Nhưng tôi thì sẽ yêu thương nó. Tôi ngờ chẳng bao giờ Winifred yêu thương nó. Mụ ta chỉ tóm chặt Sabrina để bỉ mặt tôi, để trừng trị tôi; để cho tôi biết ai mới là người thắng.

Nhưng hôm đó tôi đã chẳng làm trò ba bị. Tôi gõ cửa, và khi không ai trả lời tôi mở cửa vào trong, rồi trèo lên cầu thang dốc, tối, hẹp đến căn hộ tầng hai của Aimee. Aimee ở trong bếp, ngồi bên cái bàn tròn nhỏ, nhìn đôi bàn tay, đang ôm ca nước vẽ hình mặt cười. Nó đưa ca lên sát mắt và xoay xoay trong tay. Mặt nó nhợt nhạt, tóc tai bơ phờ. Tôi không thể nói trông nó xinh đẹp gì cho lắm. Nó đang hút thuốc. Chắc hẳn nó còn đang say một thứ thuốc gì đấy, pha vào rượu; tôi ngửi thấy trong phòng, hòa trong mùi khói thuốc oải, mùi chậu rửa, mùi xô rác không cọ.

Tôi tìm cách nói cho nó hiểu. Tôi bắt đầu thật dịu dàng, nhưng nó đang không có hứng lắng nghe. Nó nói nó chán ngấy rồi, chán hết cả lũ chúng tôi rồi. Chán nhất là cái cảm giác có bao nhiêu chuyện giấu không cho nó biết. Gia đình đã lấp liếm đi; không ai chịu cho nó biết sự thực; chúng tôi mở miệng rồi ngậm miệng và lời lẽ bay ra, nhưng toàn những lời lẽ chẳng đưa đến cái gì cả.

Thế nhưng nó vẫn cứ đoán ra. Nó đã bị cướp, đã bị tước đoạt thân thế của mình, bởi tôi không phải mẹ ruột và Richard không phải cha ruột nó. Tất cả đã rõ rành rành trong cuốn sách của Laura, nó nói.

Tôi hỏi nó đang nói cái khỉ gì vậy. Nó nói còn nhầm vào đâu được: mẹ thật của nó là Laura, còn cha thật là người đó, cái người trong Tay sát thủ mù. Và Laura yêu anh ta, nhưng chúng tôi đã ngăn trở con bé - đã tìm cách trừ khử người tình không tên ấy. Dọa dẫm, mua chuộc, săn đuổi, bất kể cách gì; nó đã sống trong nhà Winifred đủ lâu, nó hiểu cách cư xử của những kẻ như chúng tôi. Rồi khi vỡ lở chuyện Laura có thai với người kia, chúng tôi đưa nó đi xa để che giấu vụ việc, và rồi con của chính tôi chết ngay khi sinh ra, chúng tôi đã ăn trộm đứa con Laura mang về nuôi, nhận xằng là con mình.

Nó ăn nói ngắc ngứ lộn xộn, nhưng về cơ bản là thế. Có thể thấy nó đã bị hớp hồn vì chuyện ấy, cái huyễn tưởng ấy, ai chẳng muốn có mẹ là một sinh linh huyền hoặc, chứ không phải thứ mẹ ngoài đời đã cũ bẩn? Nếu có dường lựa chọn.

Tôi nói nó nhầm rồi, nó lẫn lộn hết cả rồi, nhưng nó không chịu nghe. Thảo nào mà nó chưa bao giờ thấy sung sướng khi ở bên Richard và tôi, nó nói. Chúng tôi chẳng hề cư xử như cha mẹ ruột, bởi thực tế chúng tôi có phải cha mẹ ruột đâu. Và chẳng có gì lạ là dì Laura lại lao mình qua cầu - chúng tôi đã bóp nát tim dì còn gì nữa. Laura hẳn đã viết thư để lại cho Aimee giải thích mọi chuyện, cho nó đọc khi nào lớn lên, nhưng chắc Richard và tôi đã đem hủy mất.

Chẳng lạ gì tôi lại là một bà mẹ tồi đến thế, nó nói tiếp. Tôi chẳng bao giờ yêu nó thực sự cả. Nếu yêu nó, tôi đã đặt nó lên trên tất cả. Tôi đã phải suy tính đến tâm sự nó. Tôi sẽ không bỏ Richard mà đi.

“Có lẽ mẹ không phải một người mẹ hoàn hảo,” tôi nói. “Điều đó mẹ sẵn lòng thừa nhận, nhưng mẹ đã cố hết sức trong những hoàn cảnh đó - những hoàn cảnh mà thực ra con biết rất ít.” Còn nó thì đang nuôi dạy Sabrina giỏi lắm à? tôi nói tiếp. Để nó chạy nhông ngoài đường không quần không áo, bẩn như hủi; nó bỏ mặc con cái, đứa bé có thể mất tích bất kỳ lúc nào, trẻ con mất tích là chuyện thường xuyên. Tôi là bà ngoại Sabrina, tôi sẵn lòng đón nó về nhà, và…

“Bà không phải là bà ngoại nó,” Aimee nói. Lúc này nó đang nức nở. “Dì Laura mới là bà nó. Và dì chết rồi, chính bà đã giết dì!”

“Đừng nói ngu,” tôi nói. Trả lời thế là sai lầm: những chuyện này càng chối đây đẩy bao nhiêu, càng khiến người ta tin chắc bấy nhiêu. Nhưng con người ta thường phản xạ sai lầm khi sợ hãi, và Aimee đã làm tôi sợ.

Khi tôi nói chữ ngu, nó bắt đầu gào thét vào mặt tôi. Tôi mới là đồ ngu, nó nói. Tôi ngu đến mức nguy hiểm, tôi ngu đến mức không biết mình ngu đến mức nào. Nó dùng một cơ số từ tôi không tiện nhắc lại, rồi cầm cái ca nước mặt cười ném vào tôi. Rồi nó lao về phía tôi, người lảo đảo; nó đang hú lên, từng tiếng nấc lớn xé lòng. Tay nó giơ ra, có vẻ đe dọa, tôi nghĩ thế. Tôi rối trí, tôi choáng váng. Tôi bước giật lùi, bám tay vịn cầu thang, né vật này tránh vật khác - cái giày, cái đĩa. Khi xuống đến cửa trước tôi ù té chạy.

Có lẽ tốt hơn là tôi phải giơ tay đáp lại. Tôi phải ôm lấy nó. Tôi phải khóc. Rồi tôi phải ngồi xuống bên nó và kể nó nghe câu chuyện đang kể với người đọc đây. Nhưng tôi đã không làm thế. Tôi bỏ lỡ cơ hội ấy, và tôi tiếc đến đắng cay.

Chỉ ba tuần sau đó Aimee ngã cầu thang. Tôi khóc thương nó, tất nhiên. Nó là con gái tôi. Nhưng phải thừa nhận rằng người tôi khóc thương là cô bé Aimee ở cái tuổi nhỏ hơn rất nhiều. Tôi khóc thương cái tương lai lẽ ra đã dành cho nó; tôi khóc thương những triển vọng không bao giờ có. Trên hết, tôi khóc thương những thất bại của mình.

Sau khi Aimee chết, móng vuốt Winifred quắp lấy Sabrina. Nắm được là đã thắng đến chín phần mười theo luật, và mụ ta đến hiện trường trước. Mụ ta phỗng Sabrina biến về căn biệt thự nhỏ lòe loẹt khu Rosedale, và ngoảnh đi ngoảnh lại mụ ta đã được phong làm người bảo hộ theo chỉ định. Tôi đã tính đến chuyện giành giật, nhưng sẽ chỉ lặp lại y hệt cuộc chiến giành Aimee - mà tôi nắm chắc phần thua.

Lúc Winifred lãnh Sabrina về tôi còn chưa đến sáu mươi; hồi đó tôi còn lái xe tốt. Thỉnh thoảng tôi lại đánh đường đến Toronto để bám đuôi Sabrina, như một tay thám tử tư trong cuốn truyện trinh thám cũ. Tôi thường lẩn quất quanh trường nó học - một ngôi trường mới, một ngôi trường danh giá - chỉ để nhìn nó từ xa, để được yên tâm, bất chấp mọi chuyện xảy ra, nó vẫn ổn.

Chẳng hạn tôi vào cửa hàng bách hóa, cái buổi sáng Winifred đưa nó đến trung tâm Eaton mua giày đi tiệc, vài tháng sau khi cướp nó về tay mụ. Hiển nhiên quần áo khác thì mụ ta cứ thế mua chẳng cần đến ý kiến con bé - tính mụ ta vẫn vậy - nhưng giày thì cần thử vừa chân, và không rõ vì sao Winifred lại không gửi gắm chuyện lẻ tẻ này cho kẻ ăn người ở.

Lúc ấy đang mùa Giáng sinh - hàng cột cửa hàng quấn đầy lá nhựa ruồi giả, vòng quả thông xịt keo vàng quấn băng nhung đỏ treo trên các cửa như những vòng hào quang gai góc - và Winifred bị mắc vào giữa một tốp hát Giáng sinh, hết sức bực mình. Tôi ở cách họ một dãy hàng. Ăn mặc không còn giống ngày xưa - áo khoác vải tuýt cũ, đầu trùm khăn sụp xuống trán - và dù nhìn thẳng vào tôi nhưng mụ ta không nhận ra tôi. Mụ ta chỉ thấy một bà lao công, hoặc một mụ mới nhập cư săn đồ giảm giá, chắc vậy.

Mụ ta vẫn ăn diện ngất trời như thường lệ, nhưng dù thế trông cũng bã lắm rồi. Thì mụ ta cũng đã suýt soát bảy mươi, và đến một tuổi nào đó lối hóa trang ấy chỉ khiến người ta giống xác ướp. Mụ ta không nên níu kéo son màu cam, lên mặt mụ ta nhìn rất gắt.

Tôi nhìn thấy giữa đôi lông mày cơn điên tiết vạch những rãnh hằn bự phấn, thấy cơ quai hàm nghiến lại dưới lớp phấn hồng. Mụ ta đang lôi xềnh xệch Sabrina bằng một tay, tìm cách mở lối qua dòng người khoác áo mùa đông tay xách nách mang; mụ ta ắt ghét lắm cái giọng hát nhiệt thành, quê kệch đó.

Sabrina thì ngược lại, nó muốn nghe hát. Nó đang trì lại, biến mình thành khối nặng khó kéo như trẻ con vẫn làm - kháng cự mà không tỏ ra là kháng cự. Tay giơ thẳng lên trời, như một cô học trò ngoan xung phong phát biểu, nhưng mặt nó nhăn như bị. Chắc phải đau lắm, cái cử chỉ ấy. Giữ vững lập trường, tuyên bố quan điểm. Kéo dài thời gian.

Bài đang hát là “Hiền vương Wenceslas”. Sabrina thuộc lời: tôi thấy môi nó đang mấp máy. “Sáng lung linh vầng trăng cao vời, dù giá tuyết lạnh căm căm,” nó hát. “Một người nghèo đằng xa thấp thoáng, nhặt củi cho mùa đô-ông.”

Đấy là một bài hát về cái đói. Tôi thấy là Sabrina hiểu rõ - chắc nó vẫn còn nhớ, đói là như thế nào. Winifred giật tay nó, căng thẳng nhìn quanh. Mụ ta không thấy tôi, nhưng vẫn cảm thấy tôi, như bò trong đồng cỏ rào kỹ cảm thấy có sói. Dù thế, bò không giống thú hoang; chúng đã quen được bảo vệ. Winifred bồn chồn, nhưng không hoảng sợ. Nếu có bao giờ thoáng nghĩ đến tôi, hẳn nhiên mụ ta nghĩ tôi ở đâu đó xa xôi, khuất mắt, yên thân trong bóng tối ngoài kia mụ ta đã nhốt tôi vào.

Tôi nóng bừng vì ao ước muốn bế bổng Sabrina lên rồi bồng nó chạy đi. Tôi có thể mường tượng tiếng hú rền rĩ của Winifred sau lưng trong lúc tôi nháo nhào lao qua tốp hát vô cảm, đang ấm áp gào vỡ họng về tiết trời giá băng.

Tôi sẽ ôm chặt lấy con bé, tôi sẽ không vấp ngã, sẽ không buông rơi. Nhưng tôi cũng sẽ không chạy được xa lắm. Chúng sẽ đuổi theo tôi sát nút.

Thế nên tôi bước ra phố một mình, và bước hoài bước mãi, đầu cúi xuống, cổ bẻ lên, qua bao nhiêu hè phố khu trung tâm. Gió đang thổi từ phía hồ vào và tuyết đổ xuống từng nắm xoáy. Đang là ban ngày nhưng mây sà thấp và tuyết bay làm trời nhập nhoạng; xe cộ lầm lũi bò qua đường phố chưa được dọn, bóng đèn hậu đỏ dần lùi xa như mắt những con thú gù lưng chạy giật lùi.

Tôi đang túm chặt một gói đồ - tôi đã quên là mua gì - và không đi găng. Chắc tôi đã đánh rơi trong cửa hàng, giữa những bàn chân chen chúc. Tôi gần như không nhận thấy. Một thời tôi có thể đi qua bão tuyết để trần tay mà chẳng cảm thấy gì. Chỉ yêu thương hay căm ghét hay kinh hoàng, hay đơn giản là điên giận, có thể khiến người ta ra như vậy.

Tôi từng mơ tưởng về mình - mà nghĩ cho kỹ thì giờ vẫn vậy. Giấc mơ khá chối, mặc dù thường thì chính qua những hình ảnh đó mà chúng ta tạo dựng số phận mình. (Người đọc đến đây sẽ thấy tôi dễ dàng rơi vào thứ ngôn từ to tát kiểu như tạo dựng số phận, một khi sa đà vào những chuyện thế này. Nhưng kệ nó đi.)

Trong giấc mơ đó, Winifred cùng bè bạn, đầu đội vòng hoa kết bằng tiền, đang xúm quanh cái giường trắng trải khăn xếp nếp của Sabrina khi con bé ngủ, bàn bạc xem ban tặng nó món gì. Nó đã được tặng cái cốc bạc chạm trổ hiệu Birks, giấy dán tường cho phòng trẻ in hình gấu hiền khô, vài viên ngọc trai để bắt đầu xâu vòng tuổi[1], cùng rất nhiều quà tặng bằng vàng nữa, rất mực comme il faut[2], tất cả sẽ biến thành than khi mặt trời lên. Bây giờ họ đã tính đến niềng răng và lớp quần vợt và lớp dương cầm và lớp khiêu vũ và trại hè thượng lưu. Nó còn hy vọng đường nào?

Đúng lúc đó, tôi hiện ra giữa chớp sáng lưu huỳnh, luồng khói và nhịp vỗ đôi cánh da lấm tro, bà tiên đỡ đầu không mời bị ruồng bỏ. Tôi cũng muốn ban một món quà, tôi rống lên. Đấy là quyền của tôi!

Winifred cùng đồng bọn chỉ trỏ tôi cười cợt. Mi ấy ư? Mi đã bị đày đi từ lâu lắm rồi! Mi có còn biết nhìn mình trong gương không? Mi bỏ bê bàn thân, mi trông như đã già trăm linh hai tuổi. Cút về cái hang ghẻ lở nhà mi đi! Mi thì có gì mà ban tặng chứ?

Tôi tặng nó sự thật, tôi nói. Tôi là người cuối cùng còn giữ. Đấy là thứ duy nhất trong phòng này vẫn còn lại khi sáng ra.

[1] Vòng cổ cho bé gái, mỗi năm xỏ thêm một viên, một phong trào của các nhà giàu phương Tây.

[2] Tiếng Pháp: Hợp chuẩn.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.