Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CỦA HỒI MÔN

❊ ❊ ❊

Quạt mới đã mua rồi. Các bộ phận được gửi đến trong một thùng các tông lớn, người ráp chúng lại là Walter, đã vác hộp đồ nghề đến và vặn hết vào với nhau. Khi làm xong, cậu ta nói, “Như thế là cô ả ngon rồi đấy.”

Walter coi mọi tàu bè đều là nữ giới, cũng như động cơ xe bị cháy hay đèn đài hỏng - bất cứ thứ đồ gì mà những anh chàng rành máy móc có thể mang ra vầy vọc rồi trả về trạng thái chưa bóc tem. Sao tôi lại lấy đó làm an tâm thế? Có thể tôi vẫn tin, ở một góc đầy lòng tin con trẻ trong hồn, rằng có thể sẽ đến lúc Walter lôi bộ kìm và cờ lê ra thực hiện quy trình đó với tôi.

Cái quạt cây để trong phòng ngủ. Cái quạt cũ tôi đã tha xuống dưới bỏ ra hiên, nó sẽ chiếu thẳng vào gáy tôi. Cảm giác dễ chịu nhưng cũng hơi sờ sợ, như có bàn tay bằng khí lạnh dịu nhẹ đặt lên vai. Đã được hong khí, tôi ngồi vào cái bàn gỗ, cầm bút cạo giấy miệt mài. Không, tôi nhầm - bút ngày nay không cạo giấy nữa. Từ ngữ tuôn ra êm ru trên giấy; chính cái việc bắt chúng chảy xuống cánh tay, nặn chúng ra các ngón, chính việc đó mới khó khăn.

Trời đã tờ mờ. Không có gió, tiếng nước dưới ghềnh xối qua vườn như một hơi thở thật dài. Hoa nào màu xanh đã lẫn vào không trung, hoa đỏ biến thành đen, hoa trắng ngời lên như lân tinh. Uất kim hương đã trút hết cánh, trơ lại nhụy hoa - đen, như mõm chó, dâm đãng. Mẫu đơn cũng sắp hết đời, rã rượi mềm oặt như giấy ăn ẩm, nhưng ly đã nở bùng, cả hoa lốc nữa. Những cây sơn mai cuối cùng đã rụng hoa, cỏ phủ đầy những bông tuyết trắng xóa.

Tháng Bảy năm 1914, mẹ tôi lấy cha tôi. Chuyện này đòi giải thích, tôi nghĩ thế, xét theo tình hình như vậy.

Hy vọng lớn nhất của tôi là Reenie. Khi đến tuổi quan tâm đến những chuyện loại ấy - mười, mười một, mười hai, mười ba - tôi hay ngồi bên bàn bếp, vặn chị như vặn chìa.

Chị còn chưa tròn mười bảy khi đến ở hẳn tại Avilion, rời khu nhà liên kế bên bờ Đông Nam sông Jogues, nơi cư ngụ của thợ thuyền nhà máy. Chị nói mình là người Tô Cách-Ái Nhĩ Lan, nhưng không phải cái giống Ái Nhĩ Lan Công giáo, dĩ nhiên, ám chỉ đời bà nội ngoại chị đã là Công giáo. Chị khởi đầu bằng việc bảo mẫu cho tôi, nhưng trải qua một loạt thay đổi và thải hồi chị đã trở thành chỗ dựa chính của gia đình. Chị hồi ấy bao nhiêu tuổi? Không phải chỗ cô nhúng mỏ vào. Đủ lớn đủ khôn rồi. Biết thế là đủ. Nếu bị cật vấn về đời tư, chị sẽ khép miệng hến. Tôi giữ mình cho mình, chị đáp. Ngày xưa tôi thấy chị khôn ngoan biết bao. Còn bây giờ, bủn xỉn dường nào.

Nhưng chị nắm rõ lịch sử gia đình, hoặc ít nhất một phần nào đó. Chuyện chị kể thay đổi tùy theo độ tuổi của tôi, mà cũng tùy xem lúc đó chị lơ đãng đến đâu. Dù sao đi nữa, nhờ thế tôi đã nhặt nhạnh đủ mảnh vụn mà tái dựng lại quá khứ, một quá khứ so với thực tế chắc cũng như bức chân dung khảm so với nguyên mẫu bên ngoài. Mà dù sao tôi cũng không cần chủ nghĩa hiện thực: tôi muốn mỗi mảnh đều được tô màu chói gắt, đường viền rõ nét, không có gì mập mờ, cũng như phần lớn trẻ con đối với sự tích các đấng sinh thành. Chúng muốn hình trên bưu thiếp.

Cha tôi đã cầu hôn (theo lời Reenie) trong một buổi liên hoan trượt băng. Có một cái ao - một hồ cấp nước cho cối xay cũ - ngược về phía trên đoạn thác, ở đó nước chảy chậm hơn. Mùa đông nào thật lạnh, mặt nước sẽ đóng băng đủ dày cho người trượt. Ở đây giới trẻ của giáo xứ thường tổ chức các buổi liên hoan trượt băng, tuy không gọi là liên hoan mà là dã ngoại.

Mẹ tôi thuộc giáo hội Giám lý, còn cha theo Anh giáo: như vậy xét về thang bậc xã hội mẹ tôi thuộc đẳng thấp hơn, như người ta tính ngày đó. (Nếu còn sống, bà nội Adelia hẳn không đời nào chấp thuận cuộc hôn phối này, về sau tôi kết luận. Mẹ tôi quá lạc đôi lệch lứa, bà sẽ cho như vậy, lại thêm quá e thẹn, quá nghiêm ngắn, quá tỉnh lẻ. Adelia sẽ lôi cổ cha tôi đến Montreal - gán ông cho một tiểu thư mới ra mắt nào đó, ít nhất. Một người áo lượt quần là hơn.)

Mẹ tôi khi ấy còn trẻ, mười tám tuổi, nhưng bà hoàn toàn không phải một cô bé đồng bóng ngốc nghếch, Reenie bảo. Bà đã dạy ở trường được ít lâu; hồi đó người ta có thể làm cô giáo khi chưa đầy hai mươi. Đấy không phải nhu cầu mưu sinh: cha của bà là luật sư chính cho Công ty Chase, và họ sống “khá phong lưu”. Nhưng, cũng như bà ngoại, đã qua đời khi mẹ vừa chín tuổi, mẹ tôi thành tâm tin theo tôn giáo của mình. Bà tin cần giúp đỡ những ai không được phúc phận bằng mình. Bà chọn nghề dạy học như người ta đi truyền giáo, Reenie ngưỡng mộ nhận xét. (Reenie thường ngưỡng mộ những việc mẹ tôi làm mà nếu ở địa vị mình chị sẽ coi là hết sức ngu ngốc. Còn về chủ đề người nghèo, chị đã lớn lên giữa họ và cho là họ chẳng đời nào nên thân. Cứ việc dạy dỗ họ đến rát cổ bỏng họng, nhưng đối với phần lớn đối tượng đó, việc ấy cũng chỉ như húc đầu vào tường mà thôi, chị bảo. Nhưng mẹ cô, cầu trời phù hộ trái tim cao quý của bà, chẳng bao giờ nhận ra điều đó.)

Vẫn còn một tấm ảnh chụp mẹ tôi ở trường sư phạm, ở thành phố London, Ontario, chụp với hai cô gái nữa; cả ba đứng trên thềm trước nhà trọ, cười thoải mái, tay lồng vào nhau. Tuyết mùa đông đã quét thành đống sang hai bên; nhũ băng rủ xuống trên mái. Mẹ tôi mặc áo choàng da hải cẩu; đuôi mái tóc mềm ló ra dưới mũ. Chắc lúc này mẹ đã dùng đôi kính cặp mũi, tiền thân của gọng kính cú vọ tôi còn nhớ - mẹ bị cận thị từ nhỏ - nhưng trong ảnh không thấy đeo. Có thể nhìn thấy một bàn chân xỏ trong bốt viền lông, mắt cá hơi xoay ra làm dáng. Trông mẹ khá mạnh mẽ, táo bạo là khác, như một cậu cướp biển thiếu niên.

Tốt nghiệp xong, mẹ đã nhận việc ở một ngôi trường nhỏ, loại trường mấy lớp học chung một phòng, tít về phía Tây Bắc, nơi lúc đó vẫn còn là vùng sâu vùng xa. Mẹ đã sốc trước những gì chứng kiến ở đó - nghèo khổ, dốt nát, rận rệp. Trẻ con ở đó mặc rịt quần áo lót từ khi thu tới cho đến tận mùa xuân, chi tiết này in sâu vào trí tôi như điển hình của sự nhếch nhác. Dĩ nhiên, Reenie nói, đấy không phải là nơi dành cho một thiếu nữ quý phái như mẹ cô.

Nhưng mẹ tôi cảm thấy mình đang đạt được điều gì - làm được điều gì - cho ít nhất là vài đứa trong số tụi trẻ nghèo hèn ấy, hoặc ít nhất là bà hy vọng thế; và rồi bà về nhà nghỉ Giáng sinh, sắc mặt xanh xao và bắp tay gầy guộc của bà đem lại không ít phàn nàn: người ta muốn bà hồng hào đôi má. Và vì thế bà có mặt ở buổi liên hoan trượt băng, trên mặt hồ cối xay đóng băng, có cha tôi hộ tống. Ông buộc dây giày trượt cho bà trước, một gối quỳ trên sàn.

Họ đã quen nhau từ trước nhờ có hai cụ thân sinh. Đã có nhiều buổi gặp gỡ lịch thiệp. Họ đã diễn cùng nhau, trong buổi diễn trong vườn cuối cùng của Adelia - ông đóng vai Ferdinand, bà Miranda, trong một vở Cơn bão được tỉa tót đứng đắn mà cả sex lẫn Caliban đều giản lược tối thiểu. Vận áo dài hồng cánh sen, Reenie kể, đeo một tràng hoa hồng; bà đọc lời thoại tuyệt vời, như một thiên thần đang nói. Thế giới mới diệu kỳ, có những con người như thế! Và ánh nhìn lãng đăng từ đôi mắt cận thị hấp háy lóa đèn. Có thể hiểu vì sao mà ra chuyện đó.

Cha tôi lẽ ra có thể kiếm tìm nơi khác, một cô vợ nhiều tiền lắm bạc hơn, nhưng chắc ông muốn thứ vàng đã qua thử lửa, muốn người có thể cậy nhờ. Bất chấp tính khí bốc đồng - ngày trước ông đã từng rất bốc đồng, hẳn rồi - ông là một chàng trai nghiêm chỉnh, Reenie nói, ám chỉ nếu không phải thế mẹ tôi hẳn đã khước từ. Cả hai đều nhiệt thành theo cách riêng; họ đều đeo đẳng một mục đích cao xa, muốn đem lại điều tốt đẹp cho thế giới. Những lý tưởng quá sức quyến rũ, quá sức hiểm nghèo!

Sau khi đã cùng trượt vài vòng quanh ao, cha tôi hỏi cưới mẹ tôi. Tôi đoán ông đã hỏi một cách vụng về, nhưng đàn ông vụng về thời đó là dấu hiệu cho thấy họ thành thực. Thời điểm ấy, dù chắc vai và hông đã chạm, cả hai đều không nhìn nhau; họ lướt bên nhau, hai tay phải nắm lấy nhau trước ngực, tay trái nắm sau lưng. (Lúc ấy mẹ mặc gì? Cả cái này Reenie cũng biết. Khăn len đan màu thiên thanh, mũ nồi với găng tay đan đồng màu. Đều là mẹ tự đan lấy. Áo khoác dày phủ ngang đùi, xanh như màu áo thợ săn. Và khăn tay giắt vào tay áo - một vật bà không bao giờ quên, Reenie bảo, không phải như một số đứa chị biết.)

Mẹ đã làm gì ở thời điểm cốt tử này? Mẹ chăm chú nhìn mặt băng. Mẹ không trả lời ngay. Có nghĩa là đồng ý.

Khắp bốn bề là núi đá tuyết phủ và những nhũ băng rủ trắng - trắng đất trắng trời. Dưới chân họ là băng, cũng trắng, và dưới nữa là nước sông đang chảy, đầy những xoáy nước và sóng tạt, tăm tối nhưng không thấy được. Đó cũng là cách tôi hình dung về thời kỳ đó, trước khi Laura và tôi sinh ra - phẳng lặng làm sao, vô hại sao, vững vàng sao trước mắt nhìn vào, nhưng vẫn cứ là băng mỏng. Dưới bề mặt ấy là những điều chẳng thành lời, đang âm ỉ sôi.

Rồi sau đó là chiếc nhẫn, và tin đăng trên báo chí; rồi - ngay khi mẹ dạy xong năm học, bổn phận tất nhiên phải thế, và trở lại - bắt đầu những bữa tiệc trà mời khách. Bày biện trang nhã, với xăng uých cuốn măng tây, xăng uých kẹp cải xoong, cùng ba loại bánh ngọt - kem, sô cô la, hoa quả - còn trà thì rót trong ấm tách bạc, bàn bày hoa hồng, trắng hoặc phớt kem hoặc có khi vàng nhạt, nhưng không phải đỏ. Màu đỏ không dùng cho tiệc trà đính hôn. Tại sao cơ? Lớn lên cô sẽ biết, Reenie bảo.

Rồi thì đến của hồi môn. Reenie thích kể cặn kẽ từng thứ một - áo ngủ dài, áo ngủ mềm, ren đính trên ấy, vỏ gối thêu tên tắt, ga giường và váy lót phồng. Chị tả từng tủ đứng và bàn có ngăn kéo và tủ áo chia ngăn, và những thứ dành cất vào trong đó, đã gập gọn gàng. Không nhắc gì đến những thân người rồi sẽ được các vải vóc ấy phủ lên: đám cưới, đối với Reenie, quan trọng chỉ là phương diện áo quần, ít nhất trên bề mặt.

Rồi danh sách khách mời cần lên, thiệp mời cần gửi, hoa cưới cần chọn, và cứ thế cho đến lễ cưới.

Và rồi, sau đám cưới, là chiến tranh. Yêu đương, sang cưới hỏi, sang thảm họa. Theo cách kể của Reenie, thứ tự ấy hình như do trời định.

Chiến tranh bắt đầu tháng Tám năm 1914, chẳng mấy lâu sau hôn lễ của cha mẹ tôi. Cả ba anh em đều nhập ngũ ngay ngày đầu, cái đó là tất yếu. Giờ nghĩ lại mà kỳ lạ, cái sự tất yếu này. Vẫn còn một tấm ảnh chụp bọn họ, bộ ba bảnh tỏn đóng quân phục, ba cái trán nghiêm nghị và thơ ngây, ba bộ râu mềm yếu, ba nụ cười hờ hững, ba đôi mắt cương nghị, làm dáng theo hình mẫu ba người lính họ còn chưa kịp trở thành. Giữa cả ba cha tôi cao nhất. Bức ảnh này cha luôn để trên bàn.

Họ đầu quân vào Trung đoàn hoàng gia Canada, đơn vị đầu quân của tất cả thanh niên từ Cảng Ticonderoga. Gần như tức khắc họ được phái tới Bermuda thế chỗ một trung đoàn Anh đã hết hạn đóng quân tại đó, và thế là, suốt năm đầu chiến sự, ngày ngày họ chỉ duyệt binh và chơi cricket. Và ngứa ngáy vô cùng, hay ít ra thư nói vậy.

Ông nội Benjamin hăm hở đọc thư. Khi thời gian lết thết qua mà chưa thấy có tin thắng lợi từ một trong hai phía, ông càng lúc càng thêm bồn chồn bất an. Lẽ ra sự thể không được như thế. Trái khoáy là việc làm ăn của ông lại đang nở rộ. Gần đây ông đã bành trướng sang cả xen luy lô và cao su, ý là công nghệ làm cúc, cho phép sản xuất với khối lượng lớn hơn; và nhờ những quan hệ trong giới chính khách lập được nhờ Adelia lúc trước, các nhà máy của ông tới tấp nhận được đơn hàng cho quân đội. Ông vẫn trung thực như cũ, ông không xuất đi thứ hàng hóa tạp nhạp, ông không phải loại người trục lợi từ chiến tranh như người ta vẫn nói. Nhưng không thể nói là ông không được lợi.

Chiến tranh là cơ hội đẹp cho ngành làm cúc. Bao nhiêu cúc áo mất đi trên chiến địa, cần được bổ sung - có khi hàng hộp, hàng xe một lúc. Chúng có thể bị nổ tung, bị đạp xuống bùn, bị cháy ra tro. Cả quần áo lót nữa chứ. Theo góc nhìn tài chính, chiến tranh là một thứ lửa thần kỳ: một đám cháy khổng lồ có phép giả kim, làn khói bốc lên tự động chuyển hóa thành tiền. Hoặc ít ra với ông tôi. Nhưng điều đó không còn đem niềm vui lại cho tâm hồn ông, hay nâng đỡ thêm lòng tự hào về sự chính trực của mình, như nếu đây còn là những năm xưa, những năm còn tự mãn. Ông muốn có lại các con. Dù cũng chưa phải chúng ở nơi nào nguy hiểm: chúng vẫn còn ở Bermuda, diễu hành nhởn nhơ trong nắng.

Từ sau tuần trăng mật (tại vùng hồ Bảy Ngón, ở bang New York), cha mẹ tôi đã về Avilion sống chờ dựng cơ nghiệp của riêng mình, và khi chiến tranh nổ ra mẹ vẫn ở lại đó cai quản nhà cửa cho ông nội. Người làm vắng, bởi mọi cánh tay khỏe mạnh đều huy động tới nhà máy hoặc ra mặt trận, nhưng còn bởi người ta cảm thấy Avilion cần nêu gương sáng trong việc cắt giảm chi tiêu. Mẹ tôi khăng khăng chỉ cho phép ăn uống đơn giản - bò hầm vào thứ Tư, đậu nướng chiều Chủ nhật - mà như thế khá hợp với ông tôi. Ông chưa bao giờ thật yêu thích phong cách ẩm thực cầu kỳ của Adelia cả.

Tới năm 1915 tháng Tám, Trung đoàn hoàng gia Canada được điều lại về Halifax, trang bị sẵn sàng đến Pháp. Đội quân nghỉ lại cảng hơn một tuần, bổ sung nhu yếu phẩm cùng tân binh và đổi quân phục xứ nhiệt đới lấy những đồ ấm áp hơn. Các chàng trai được cấp súng trường Ross, rồi đây sẽ tắc nghẽn trong bùn, khiến họ vô phương xoay xở.

Mẹ tôi bắt tàu đến Halifax tiễn cha. Tàu chật cứng người lên đường ra trận; mẹ không kiếm được toa nằm, nên cả chặng đường ngồi trên ghế. Giữa hai hàng ghế có chân bước đi, có gói với bọc, và ống nhổ; có tiếng ho, tiếng ngáy - tiếng ngáy kẻ say, hẳn nhiên. Và nhìn những khuôn mặt trẻ măng xung quanh, mẹ nhận ra chiến tranh có thực, không phải như một ý niệm mà là một thực thể vật chất. Người chồng trẻ tuổi có thể bị giết. Cơ thể ông có thể bị hủy diệt; có thể bị xé toang, có thể mất vào mâm cỗ hiến sinh - mà bây giờ bà hiểu rõ - sắp phải dâng lên. Cùng với nhận thức đó ùa về nỗi tuyệt vọng và niềm kinh sợ rúm người, nhưng cũng có - tôi dám chắc - cả một chút tự hào tăm tối.

Tôi không biết ở Halifax hai người họ ngủ lại đâu, hoặc bao lâu. Trong một khách sạn đàng hoàng hay, bởi khan phòng, một quán trọ rẻ tiền, một nhà nghỉ tạm bên cảng? Một vài ngày, hay một đêm, một vài giờ? Giữa họ diễn ra những chuyện gì, có lời nào đã nói? Thì cũng như mọi người khác, tôi đồ vậy, nhưng là chuyện gì? Giờ không còn cách nào biết được. Rồi con tàu chở trung đoàn cũng ra khơi - đó là chiếc SS Caledonian - và mẹ tôi đứng trên cầu cảng giữa những người vợ lính, vẫy tay khóc lóc. Hoặc có khi không có màn khóc lóc: mẹ sẽ coi làm thế là yếu đuối.

Một nơi ở Pháp. Anh không thể mô tả nổi những chuyện đang diễn ra ở đây, cha tôi viết, vì thế sẽ không cố thử. Chúng ta chỉ có thể gắng tin cuộc chiến này sẽ mang lại điều tốt nhất, và nền văn minh sẽ nhờ nó mà được bảo tồn và phát triển. Thương vong cao đến (một từ bị cạo đi). Anh chưa bao giờ nhận ra con người có thể làm được những gì. Những gì phải chịu đựng thật quá (một từ bị cạo đi). Ngày nào anh cũng nhớ đến mọi người ở nhà, và nhất là em, Liliana yêu thương.

Ở Avilion, mẹ tôi đặt nghị lực vào hành động. Mẹ tin vào công cuộc phụng sự quần chúng; mẹ cảm thấy cần xắn tay áo lên mà làm gì đó có ích cho cuộc chiến. Mẹ thành lập Nhóm ái hữu, gây quỹ qua những cuộc bán hàng tầm tầm. Tiền thu được biến thành những hộp xinh xinh đựng kẹo và thuốc lá, để gửi ra chiến hào. Mẹ mở toang cửa Avilion cho những dịp ấy, một điều (theo lời Reenie) rất hại cho sàn nhà. Bên cạnh những cuộc bán hàng, mỗi chiều thứ Ba tốp của mẹ lại ngồi đan lát đồ cho các chàng trai, trong phòng tiếp khách: khăn lau mình với những tay cơ bản, khăn quàng cho đám nâng cao, mũ bịt mặt và găng tay cho dân chuyên nghiệp. Chỉ ít lâu sau lại thêm một tiểu đoàn mới tuyển mộ, vào các thứ Năm - những bà già hơn, ít học hơn từ phía Nam sông Jogues, họ có thể vừa ngủ vừa đan. Nhóm mới đan quần áo trẻ con cho người Armenia, nghe đồn đang chết đói, và cho một đối tượng gọi là Dân Tị Nạn Ngoại Quốc. Sau hai giờ đan lát, lại có bữa trà đạm bạc dọn ra trong phòng ăn, dưới chân Tristan và Iseult mỏi mòn nhìn xuống.

Khi những thương binh què cụt đầu tiên xuất hiện, trên phố hay trong bệnh viện những thị trấn láng giềng - Cảng Ticonderoga lúc này còn chưa xây bệnh viện - mẹ tôi tới đó thăm. Mẹ xung phong nhận những ca tệ nhất - những người (theo lời Reenie) rõ ra không phải ứng viên sáng giá cho các cuộc thi sắc đẹp - và trở về sau những cuộc thăm viếng ấy run rẩy và kiệt lực, và có khi còn khóc, trong bếp, khi uống chén ca cao Reenie pha động viên. Bà không biết tiếc thân mình, Reenie nói. Bà hủy hoại sức khỏe mình. Bà làm quá sức mình, nhất là trong tình trạng bản thân như thế.

Sao mà điều ấy một thời được coi là biết bao cao quý - nào là làm quá sức mình, nào không biết tiếc thân, nào hủy hoại sức khỏe! Chẳng ai sinh ra đã có sẵn lòng xả thân như thế: nó chỉ có được nhờ thứ kỷ luật tàn bạc nhất, nhờ nghiền hủy bản tính tự nhiên, và đến thời tôi mánh khóe hay bí quyết thực hiện những điều này hình như đã mất. Hoặc là do tôi không dám thử, bởi đã biết hậu quả của đức tính ấy ở mẹ tôi.

Còn với Laura, con bé không phải xả thân, không phải chút nào. Trái lại nó là đứa vô thân, một chuyện hoàn toàn khác.

Tôi sinh ra đầu tháng Sáu năm 1916. Chẳng mấy lâu sau, Percy bỏ mạng trong bão đạn tại trận địa Ypres, và tới tháng Bảy Eddie chết ở sông Somme. Hoặc được phán đoán là đã chết: nơi trông thấy cậu lần cuối đã thành hố bom. Những sự kiện ấy là thử thách nặng nề với mẹ tôi, nhưng với ông tôi còn nặng nề hơn nữa. Tới tháng Tám ông chịu một cú đột quỵ tai hại, khiến cả lời nói và trí nhớ đều thương tổn.

Dù không chính thức, mẹ tôi đã tiếp quản công việc điều hành nhà máy. Mẹ đặt mình vào vị trí trung gian giữa ông tôi - được coi là đang dưỡng bệnh - với mọi người bên ngoài, và hằng ngày gặp gỡ người thư ký nam cùng các quản đốc phân xưởng. Bởi mẹ là người duy nhất hiểu được ông tôi nói gì, hoặc người duy nhất tự nhận mình hiểu, mẹ trở thành phiên dịch cho ông, và bởi là người duy nhất được phép nắm tay ông, mẹ cầm tay cho ông ký; và có ai dám chắc mẹ không đôi lúc dùng đến phán xét của riêng mình?

Cũng không phải tất cả đều yên ả. Khi chiến sự bắt đầu, số thợ đàn bà chiếm một phần sáu. Tới hết chiến tranh con số đã tăng lên hai phần ba. Đàn ông còn lại toàn người quá già, hoặc tàn tật, hoặc vì nguyên cớ này khác mà không thể ra trận. Những người này thù địch thế lực đang lên của đàn bà, và càu nhàu về họ hoặc đùa những câu tục tĩu, còn ngược lại đám đàn bà coi họ là nhu nhược hoặc lười chảy thây và không bỏ công che giấu niềm khinh bỉ. Trật tự thông thường của sự vật - theo ý niệm của mẹ tôi - đang lộn tùng phèo cả. Tuy nhiên, tiền công vẫn khá, và tiền là dầu bôi trơn rất tốt, nên xét trên toàn cục mẹ tôi vẫn đảm đương được mọi việc khá êm xuôi.

Tôi hình dung thấy ông mình, đêm đêm ngồi trong thư viện, trong ghế bành da xanh đóng đinh đồng, bên bàn viết gỗ đào hoa tâm. Những ngón tay chắp vào nhau, những ngón trên bàn tay còn cảm nhận và trên bàn tay không cảm giác. Ông đang lắng nghe chờ ai đó. Cửa để ngỏ; ông thấy có bóng người bên ngoài. Ông nói, “Vào đi” - ông nghĩ mình đã nói - nhưng không ai vào, cũng không ai đáp lại.

Bà y tá cắm cảu đi vào. Bà hỏi ông nghĩ mình đang làm cái gì mà lại đi ngồi một mình trong bóng tối. Ông có nghe âm thanh, nhưng không phải lời, mà như tiếng quạ; ông không trả lời. Bà nắm lấy tay ông, nhấc bổng ông khỏi ghế, lôi xềnh xệch đến giường. Váy hồ trắng kêu sột soạt. Ông nghe tiếng gió khô, thổi qua những đồng sậy mùa thu. Ông nghe tiếng tuyết đang thủ thỉ.

Ông có biết hai đứa con trai đã chết không? Ông có cầu mong họ sống lại, trở về lành lặn? Liệu cái kết có thành ra vô hậu hơn nữa, nếu điều cầu mong ấy thành sự thực? Có thể là như thế - thường là như thế - nhưng đây không phải một ý nghĩ vỗ về.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.