Trời vẫn ấm một cách rất bất hợp mùa. Dịu dàng, êm ả, khô và sáng; ngay cả mặt trời, giờ này mọi năm vốn gầy gò nhợt nhạt, cũng tròn đầy mỡ màng, mỗi hoàng hôn đều ứ sức sống. Những chàng nàng tươi cười phấn chấn trên kênh thời tiết bảo nguyên nhân là một thảm họa bụi bặm nào đó ở phương xa - động đất? hay núi lửa? Một cử chỉ tàn độc mới của bàn tay Chúa. Trong cái rủi có cái may là châm ngôn của họ. Nhưng muốn cái may lại bày cái rủi.
Hôm qua Walter lái xe đưa tôi đến Toronto vì cái hẹn với tay luật sư. Cậu ta chẳng bao giờ đến thành phố trừ khi không đừng được, nhưng Myra đã ấn cho cậu ta việc đó. Đấy là sau khi tôi bảo sẽ đi xe buýt. Đừng hòng mà Myra chịu. Ai cũng biết rằng xe buýt chỉ có mỗi một chuyến thôi, đã thế còn khởi hành lúc trời tối và quay về lúc tối trời. Cô nói khi tôi xuống xe trong đêm, cánh mô tô sẽ chẳng nhìn ra và tôi sẽ bị cán dẹp như chuột. Mà dù gì tôi cũng không được phép đến Toronto một mình bởi, ai cũng biết cả điều này nữa, cả thành phố chỉ toàn bợm bãi bất lương. Walter sẽ để mắt đến tôi, cô nói.
Walter đội cái mũ bóng chày đỏ nhân dịp này; giữa vành mũ và cổ áo khoác, cái gáy lởm chởm lồi ra như chuột bắp tay. Mí mắt cậu ta nhăn nheo như da đầu gối. “Chắc cháu sẽ lấy xe tải,” cậu ta nói, “nó vâm như cái nhà cầu gạch, lũ bợm sẽ phải suy tính chút đỉnh nếu muốn tông vào cháu. Mỗi tội tưng mất vài cái lò xo rồi, nên không êm ái lắm đâu.” Theo lời cậu thì tài xế Toronto gã nào cũng khùng cả. “Không khùng thì tới đó làm gì?” cậu ta bảo thế.
“Chúng ta đang tới đó thôi,” tôi nhận xét.
“Nhưng chỉ một lần này thôi. Như xưa chúng cháu toàn nói với các em, một lần không sao cả.”
“Thế họ tin cậu chứ hả Walter?” tôi hỏi, đưa đà theo vì cậu ta thích vậy.
“Đã hẳn. Đần như con bà bần. Đặc biệt là các bé tóc vàng.” Tôi cảm thấy cậu ta đang cười toét.
Vâm như nhà cầu gạch. Câu đó ngày xưa thường nói về đàn bà. Đấy được coi là lời khen, cái thời mà không phải ai cũng có nhà cầu gạch: chỉ có nhà cầu gỗ, mỏng mảnh bốc mùi, đẩy cái là nhào.
Nhét tôi vào xe và cài dây lại xong là Walter bật đài: tiếng vĩ cầm điện rền rĩ, yêu đương xoắn xuýt, nhịp bốn rộn ràng của cõi lòng tan nát. Khổ đau rất sáo, nhưng vẫn cứ là khổ đau. Công nghiệp giải trí. Chúng ta đều đã thành những kẻ nhìn lén lành nghề. Tôi ngả người dựa vào cái gối Myra để sẵn. (Cô đã trang bị cho chúng tôi đủ làm một chuyến viễn dương - chăn đắp đầu gối, bánh kẹp cá ngừ, bánh xốp sô cô la, một phích cà phê.) Ngoài cửa sổ dòng Jogues vẫn lừ đừ chảy. Chúng tôi qua sông rồi ngoặt lên hướng Bắc, qua những phố từng là nhà liên kế cho thợ thuyền còn bây giờ được mệnh danh là “nhà khởi nghiệp”, rồi vài hàng họ nhỏ: trạm phụ tùng ô tô si đa, hiệu bán lẻ hàng thực phẩm chức năng sắp đóng cửa, đại lý giày chỉnh hình có cái giày nê ông xanh chớp rồi lại tắt như đang tự bước đi ở đúng một chỗ. Rồi trung tâm thương mại mi ni có năm cửa hàng, mới một cái kịp mông má đón Giáng sinh tới. Rồi là trung tâm thẩm mỹ của Myra, Cảng Tóc. Cửa sổ dán hình một người tóc húi gần nhẵn, nam hay nữ tôi chịu không nhìn ra được.
Rồi một nhà nghỉ xưa từng có tên Hành Trình Hết. Tôi đoán đặt tên này người ta nghĩ tới “Hành trình hết khi người yêu hội ngộ”[1], nhưng không thể đòi hỏi ai cũng ngộ ra điều ấy được: nó có thể bị phiên giải theo chiều hướng đen tối, một tòa nhà chỉ có lối vào mà không đường ra, điếc mùi động mạch phình, tĩnh mạch nghẽn, thuốc ngủ dốc cạn và lỗ đạn xuyên đầu. Bây giờ tên nó chỉ ngắn gọn là Hành Trình. Thay đổi khôn ngoan gớm. Lửng lơ hơn bao nhiêu, đỡ cảm giác giai đoạn cuối bao nhiêu. Đi đường tốt hơn bao nhiêu so với đến đích.
Xe đi qua một vài hàng nhượng quyền nữa - gà tươi cười chào mời chân cẳng mình trên đĩa, chú Mễ nhăn nhở vung bánh xèo taco. Tháp nước thị trấn lừng lững phía chân trời, thêm một bong bóng xi măng khổng lồ điểm giữa trời quê như những khung lời truyện tranh rỗng chữ. Bây giờ xe đã ra đến đồng trống. Giữa cánh đồng một tháp ủ xi lô thép trồi lên như đài chỉ huy tàu chiến; bên vệ đường, ba con quạ mổ một búi chuột chũi lông lá đã phanh bụng. Hàng rào trôi qua, nhiều tháp ủ nữa, một toán bò lông ướt; một rặng tuyết tùng lá thẫm, rồi một vệt đầm lầy, lau sậy mùa hè giờ phô đầu hói xác xơ.
Trời bắt đầu lất phất mưa. Walter bật cần gạt nước. Trong tiếng rù rì êm ái, tôi thiếp đi.
Khi tỉnh dậy, ý nghĩ đầu tiên đến với tôi là: Mình có ngáy không? Nếu ngáy thì mình có há hốc miệng không? Khó coi quá, thế nên mất mặt quá. Nhưng tôi không có gan hỏi. Chẳng ai thoát được cái sĩ diện, còn phải nói.
Xe đã lên đường cao tốc tám làn, gần đến Toronto. Đấy là Walter nói thế: tôi không nhìn thấy gì, vì xe tôi đã bị tắc sau đuôi một xe tải nông phẩm vừa đi vừa lảo đảo, những két ngỗng trắng chất đến nóc, rõ ràng trên đường ra chợ. Những cổ dài đợi thi hành án và những cái đầu điên dại ló ra đây đó qua các nan, mỏ hết mở lại khép, thốt những tiếng dài bi thiết và lố lăng, lọt thỏm giữa tiếng bánh xe rầm rập. Lông chim dính cả vào kính trước, xe ngập mùi phân ngỗng và khói xăng.
Đuôi xe tải có biển đề: Đọc Được Câu Này Hả? Đến Gần Quá Rồi Ku. Khi rốt cuộc nó cũng rời xa lộ, Toronto đã ở ngay trước mặt, một quả núi giả bằng kính và bê tông mọc lên từ đồng bằng bên hồ, những cửa kính những đỉnh nhọn những vách khổng lồ sáng lóa những khối đa diện chọc trời sắc cạnh, bồng bềnh giữa quầng khói sương nửa vàng nửa nâu. Nhìn như một vật tôi chưa thấy bao giờ - một vật mọc lên qua đêm, hoặc giả cũng không thực có ở đó - một hư ảnh giữa sa mạc.
Những vụn đen bay vụt qua như thể đằng trước đang có đồi giấy âm ỉ cháy. Nỗi căm giận lan như sóng trong không trung, như gió nóng. Tôi nghĩ đến những vụ chạy xe bắn càn.
Văn phòng luật sư ở gần giao lộ phố King và Bay. Walter lạc đường, rồi không tìm được chỗ đậu. Chúng tôi phải đi bộ năm khối nhà, Walter đỡ khuỷu tay đẩy tôi tiến tới. Tôi không biết chúng tôi đang ở đâu nữa, tất cả đã thay đổi quá nhiều. Mỗi lần tôi tới, dầu chẳng thường xuyên lắm, thành phố lại đổi khác, và dồn lại qua các lần là cảm giác tan tành - cứ như thành phố đã bị bom san bằng, rồi xây lại từ bình địa.
Khu trung tâm như tôi nhớ - xám tẻ, đượm màu giáo phái Cải cách, đàn ông trắng trong áo bành tô đen nện bước sin sít nhau trên hè phố, đây đó xen kẽ một hai cô đàn bà, giày cao lối công sở, găng tay và mũ, ví kẹp dưới tay, mắt nhìn thẳng - đã biến đi như mộng, nhưng nói cho đúng nó đã biến đi từ lâu rồi. Toronto không còn là một thành phố Tin lành nữa, nó đã thành một thành phố trung cổ - đường phố tắc nghẽn những đám đông đa sắc điệu, quần áo rực rỡ đủ màu. Các quán bánh kẹp xúc xích cắm ô vàng, các hàng bánh quẩy, các đội bán rong hoa tai hay túi đan tay hay thắt lưng da, ăn mày treo bảng viết sáp Thất Nghiệp: họ đã có thỏa thuận nội bộ về lãnh thổ. Tôi lần lượt đi qua một tay thổi sáo, một nhóm tam tấu ghi ta điện, một người mặc váy Tô Cách Lan thổi kèn túi. Sẽ chẳng bất ngờ nếu gặp diễn viên tung hứng hoặc xiếc nuốt lửa, hoặc dân hủi kéo đàn kéo lũ, mũ trùm mặt tay lắc chuông. Tiếng ồn dội choang choảng; một lớp màng ngũ sắc bám vào kính tôi như váng dầu.
Rốt cục thì chúng tôi cũng tìm được đến chỗ viên luật sư. Khi tôi lần đầu nhờ tư vấn ở hãng này, hồi thập kỷ bốn mươi, nó còn ở trong một tòa nhà văn phòng gạch đỏ bết tro xây theo lối Manchester, sảnh đón lát gạch thành tranh khảm, sư tử đá, chữ vàng trên cửa gỗ, kính cửa gắn sỏi thủy tinh. Thang máy vẫn còn có lồng lưới sắt dích dắc trong buồng thang, bước vào thang cứ như nhập ngục tạm thời. Một bà mặc đồng phục xanh hải quân đi găng tay trắng đứng thang, xướng số từng tầng, đến mười là hết.
Bây giờ văn phòng luật đặt trong một tháp cao tầng vách kính, trong khu văn phòng tít trên tầng thứ năm mươi. Walter và tôi đi lên bằng thang máy sáng loáng, vách trong ốp nhựa giả hoa cương, tỏa mùi nệm da xe hơi và ken đặc những người mặc đồ vét, cả đàn ông lẫn đàn bà, tất cả đều có bộ mặt trống rỗng, mắt đưa chỗ khác, thói quen của những nô lệ cả đời. Những người chỉ nhìn thấy những gì đồng lương cần họ thấy. Lên đến hãng luật thì sảnh tiếp tân chẳng thua gì khách sạn năm sao: chậu hoa giữa sảnh cắm sít hoa, phô phang chẳng kém thế kỷ mười tám, thảm dày màu mũ nấm kín tận bốn góc phòng, tranh trừu tượng trên tường nhát quệt nào cũng đắt.
Viên luật sư ra, bắt tay, lẩm bẩm, ra hiệu: tôi cần đi theo ông ta. Walter nói cậu sẽ đợi tôi, ở đúng chỗ này. Cậu trố mắt, có hơi hốt hoảng, nhìn cô lễ tân trẻ bóng lộn mặc vét đen, khăn quàng hoa cà và đánh móng tay xà cừ; cô ta nhìn lại, không phải nhìn cậu, mà nhìn cái sơ mi ca rô và đôi ủng thuôn dài đế cao su khổng lồ. Rồi cậu ngồi xuống cái xô pha chỉ vừa hai mông, lập tức lún vào đó như vào giữa đống kẹo dẻo; đầu gối banh ra, hai ống quần co phắt lên, lộ ra đôi bít tất dày đỏ của thợ đốn củi. Trước mặt cậu, trên cái bàn trà quyến rũ, bày một hàng tạp chí kinh doanh, cố vấn làm sao cho đồng tiền đầu tư của cậu sinh sôi nảy nở. Cậu nhặt tờ nói về quỹ đầu tư tương hỗ: giữa đôi móng vuốt khổng lồ của cậu trông tờ báo như giấy hỉ mũi. Mắt cậu bắt đầu đảo tròn trên mặt như con bò non trong cơn gia súc chạy loạn.
“Tôi sẽ về nhanh thôi,” tôi trấn an cậu. Thực tế tôi ở lâu hơn mình tưởng. Có gì lạ, họ tính tiền từng phút, hội luật sư ấy, như đám gái điếm mạt hạng. Lúc nào tôi cũng tưởng sắp nghe tiếng gõ cửa, giọng cáu bẳn cất lên: Ê mấy người. Làm gì mà chậm thế? Lên đi, vào đi rồi ra đi!
Khi tôi đã xong việc ở chỗ tay luật sư, chúng tôi đi bộ trở lại lấy xe và Walter nói sẽ chở tôi đi ăn trưa. Cậu nói mình biết chỗ này được lắm. Tôi đoán chừng Myra đã giao việc này cho cậu: Vì Chúa, anh nhớ cho bà ăn cái gì đấy, đến tuổi đấy rồi người ta ăn như chim ấy, người ta chẳng biết lúc nào thì mình hết xí quách đâu, bà có thể chết gục vì đói giữa xe. Hơn nữa chắc cậu cũng đói: cậu đã chén sạch số xăng uých gói ghém kỹ lưỡng của Myra trong khi tôi ngủ, và bánh xốp sô cô la cũng chung số phận.
Chỗ này được lắm có tên là Hố Lửa, cậu nói. Cậu ăn ở đó lần vào thành phố trước, có lẽ hai ba năm trước gì đó, và nó cũng tàm tạm, nếu lượng đến hoàn cảnh. Hoàn cảnh gì? Hoàn cảnh là nó ở Toronto. Cậu đã gọi bánh kẹp pho mát hai tầng, đầy đủ. Ở đây họ có sườn nướng, và nói chung là chuyên mồn về nướng.
Tôi cũng còn nhớ quán này, hơn một thập kỷ trước - từ cái thời tôi còn dõi theo Sabrina, sau lần đầu tiên nó trốn nhà. Tôi vẫn thường quanh quẩn gần trường nó khi cuối ngày, an vị trên ghế đá khắp nơi, chọn điểm nào dễ mai phục nó - không phải, điểm nào dễ để nó nhận ra, dù cơ hội thật là ít ỏi. Tôi thường nấp sau tờ báo mở rộng, như một tay thị dâm ám ảnh đến nhu nhược, và cũng như hắn, vô vọng khát khao một cô bé hẳn sẽ chạy trốn tôi như trốn quỷ.
Tôi chỉ muốn một điều là cho Sabrina biết tôi ở đó, biết tôi tồn tại, biết tôi không phải như nó vẫn nghe. Biết tôi có thể đem lại chốn nương thân cho nó. Tôi biết nó sẽ cần một chốn nương thân, ngay lúc này đã cần một chốn nương thân, vì tôi hiểu Winifred. Tuy nhiên không có gì xảy ra. Nó chẳng bao giờ nhận ra tôi, tôi chẳng bao giờ để lộ mình. Khi đến bước quyết định, tôi lại thường quá nhát.
Một hôm tôi theo nó đến tận Hố Lửa. Có vẻ như đấy là nơi các cô bé - các cô bé tuổi đó, học trường đó - vẫn tụ họp mỗi bữa trưa, hoặc mỗi khi trốn học. Biển ngoài cửa màu đỏ, bệ cửa sổ trang trí những vỏ sò nhựa vàng coi như là lửa. Tôi có giật mình vì chất Milton táo tợn trong cái tên: liệu họ có biết họ đang triệu lên cái gì không?
Ném hắn lao qua Thượng Tầng Thanh Khí
Dung mạo điêu tàn thân thể lửa thiêu.
… Cơn Đại Hồng Hỏa đốt
Bể Lưu Huỳnh nghìn thế kỷ chẳng vơi.[2]
Không. Họ không biết. Hố Lửa chỉ là Địa Ngục cho thịt nướng.
Trong quán mắc đèn treo, chụp đèn kính màu, những cây dài lòng thòng lốm đốm cắm chậu gốm - không khí những năm sáu mươi. Tôi chọn bàn ngay cạnh ngăn Sabrina đang ngồi với hai cô bạn học, cả ba đều mặc thứ đồng phục lùng thùng kiểu con trai, váy sọc ca rô dày như vải chăn và cà vạt đồng màu vẫn khiến Winifred nức lòng vì vẻ danh giá. Ba cô bé đã tận tình cố gắng phá hỏng bề ngoài đó - tất trụt xuống, áo nửa giắt nửa thò, cà vạt xiên xẹo. Chúng chăm chú nhai kẹo cao su như thực hành một lễ nghi tôn giáo và nói chuyện lớn giọng ra điều chán ngán, cái giọng con gái tuổi ấy hình như đứa nào cũng sành.
Cả ba đứa đều đẹp, cái kiểu mọi đứa con gái tuổi này đều đẹp. Không có cách nào tránh được, cái xinh đẹp ấy, mà cũng không lưu lại được: đấy là vẻ tinh sạch, vẻ mũm mĩm đến từng tế bào, không phải cố mà có và cũng không bền, và chẳng cách nào sau này nhại lại. Chẳng ai trong chúng lấy đó làm thỏa mãn: chưa gì chúng đã cố tìm cách thay đổi bản thân, cải thiện và bóp méo và co rút, cố đẽo mình vừa một cái khuôn tưởng tượng bất khả thi, lăm lăm nhíp và bút chì tấn công khuôn mặt. Tôi không trách chúng, vì ngày xưa tôi cũng làm y thế.
Tôi ngồi đó liếc Sabrina từ dưới vành mũ chống nắng oặt oẹo, nghe lỏm những chuyện líu lo vặt chúng ném ra trước mặt như khói ngụy trang. Chẳng đứa nào nói những gì nó nghĩ, chẳng đứa nào tin tưởng đứa kia - cũng đúng, vì phản bội vụn là chuyện thường ngày vào tuổi ấy. Hai cô bé kia tóc vàng, một mình Sabrina tóc đen và bóng như quả dâu tằm. Nó không hẳn để tâm lắng nghe chuyện hai đứa bạn, và cũng chẳng nhìn. Đằng sau cái nhìn trống rỗng đã luyện thuần kia, nổi loạn hẳn đang âm ỉ. Tôi nhận ra cái sưng sỉa, cái bướng bỉnh, cái kiêu phẫn của công chúa bị xiềng, cần giấu kín đến khi vũ khí thu thập đủ. Hãy đợi đấy Winifred, tôi hả hê nghĩ.
Sabrina không để ý thấy tôi. Hoặc là có để ý, nhưng không biết tôi là ai. Có vài ánh mắt xẹt lại từ ba đứa chúng, vài câu thì thầm và tiếng cười khúc khích; tôi vẫn nhớ kiểu này. Quả táo tàu mặc áo bù nhìn, hay một dị bản hiện đại hơn. Tôi đoán chừng cái mũ trên đầu mình là chủ đề bàn tán. Nó đã hết tuổi thời trang từ lâu lăm rồi, cái mũ ấy. Với Sabrina ngày hôm ấy tôi chỉ đơn giản là một mụ già - một bà cao tuổi - một bà cao tuổi không tên tuổi, còn chưa đủ tã để phải gây chú ý.
Sau khi ba đứa chúng về, tôi vào nhà vệ sinh. Trên vách tường trong ngăn có một bài thơ:
Tao yêu anh Darren thế đấy
Mày đừng hòng đụng vào anh ấy
Nếu mày cứ lảng vảng gần xa
Tao sẽ cào toạc mặt mày ra
Con gái thời này thẳng thừng hơn nhiều so với ngày xưa, mặc dù về chấm phẩy thì vẫn không khá hơn.
Khi Walter và tôi cuối cùng cũng tìm ra Hố Lửa, bởi (theo như cậu nói) nó chẳng chịu ở yên nơi cậu đã dặn nó, có mấy tấm ván đóng chéo cửa, trên đóng một tờ thông cáo chính thức hay gì đó. Walter hít hửi quanh cánh cửa khóa như con chó để lạc khúc xương. “Có vẻ là đóng cửa rồi,” cậu nói. Cậu đứng đó một lúc lâu, tay xỏ túi. “Chúng nó cứ thay đổi suốt thôi,” cậu nói. “Chẳng tài nào mà bắt kịp.”
Sau một vài chặng lượn lờ và một vài mối hỏng, chúng tôi cũng dừng chân làm một bữa súc miệng ở Davenport, có ghế nhựa và máy chơi nhạc cạnh các bàn, toàn nhạc đồng quê với chấm phá mấy bài Beatles và Elvis Presley cũ kỹ. Walter chọn “Khách sạn tim vỡ”, chúng tôi cùng nghe trong lúc ăn bánh kẹp thịt và uống cà phê. Walter nhất định đòi trả tiền - lại là Myra, khỏi phải bàn. Chắc cô ả đã nhét một tờ hai mươi vào túi cậu.
Tôi chỉ ăn có nửa cái bánh kẹp. Tôi không đủ sức ăn cả. Walter chén nốt nửa kia, ấn tọt vào mồm một miếng như bỏ thư vào thùng.
Trên đường rời thành phố, tôi bảo Walter cho mình đi qua nhà cũ - nhà tôi từng sống với Richard lúc trước. Đường thì tôi vẫn nhớ chính xác, nhưng khi đến nơi tôi lại không nhận ra ngay căn nhà. Nó vẫn vuông vức xấu xí như trước, kềnh càng, cửa sổ ti hí, nâu xỉn như trà đun lâu, nhưng thường xuân đã mọc kín các tường. Tường khung gỗ giả Thụy Sĩ, xưa màu kem nhạt, giờ đã sơn lại màu táo xanh, cánh cửa trước nặng nề cũng thế.
Richard ghét thường xuân. Ban đầu còn một ít khi mới dọn vào, nhưng ông ta đã cho chặt hết. Nó ăn vào tường gạch, ông ta bảo thế; nó chui vào ống khói, nó mở đường cho chuột bọ. Đấy là cái hồi ông ta còn viện ra lý do cho những gì ông ta nghĩ và làm, và viện ra làm lý do cho những gì tôi cần phải nghĩ và làm. Đấy là trước khi ông ta tung hê mọi lý do ra cửa.
Tôi thoáng nhìn thấy chính mình hồi ấy, mũ nan, đầm vàng nhạt, vải bóng vì trời nóng. Đấy là cuối hè, cái năm sau lễ cưới; đất rắn như gạch. Nghe Winifred xui khiến tôi đã thử nghiệm làm vườn: tôi cần một thú chơi, chị ta nói. Chị ta quyết định để khởi đầu tôi nên làm vườn đá, bởi kể cả nếu tôi có làm chết sạch cây thì đá vẫn còn. Chẳng có mấy cách giết chết đá đâu, chị ta đùa. Chị ta đã phái sang cái gọi là tổ ba người tin cẩn, để làm việc đào xới và sắp đặt đá, sẵn sàng cho tôi trồng cây.
Trong vườn đã có sẵn ít đá rồi, đều do Winifred đặt mua: đá nhỏ, đá to như phiến, vứt lung tung hoặc chồng lên nhau như đô mi nô bị hẩy đổ. Cả đám chúng tôi đứng đó, tổ ba người tin cẩn và tôi, nhìn đống đá bừa bãi. Họ đội mũ trên đầu, áo khoác bỏ ra, tay áo xắn, dây đai quần đập vào mắt; họ đang chờ chỉ thị của tôi, nhưng tôi không biết phải bảo họ làm gì.
Tôi vẫn còn muốn thay đổi được điều gì, hồi ấy - muốn tự mình làm được, tạo ra điều gì đó, từ bất kỳ thứ vật liệu vô hy vọng nào. Giờ tôi vẫn nghĩ mình làm được. Nhưng khi ấy tôi không biết chút xíu gì về vườn tược. Tôi muốn phát khóc, nhưng nếu khóc sẽ là chấm hết: nếu khóc, những người tin cẩn sẽ khinh miệt ta, và rồi họ sẽ không còn tin cẩn.
Walter bẩy tôi khỏi xe, rồi đợi lặng yên, đứng sau tôi một chút, sẵn sàng đưa tay nếu tôi vấp. Tôi đứng trên hè nhìn lên ngôi nhà. Vườn đá vẫn còn đó, dù chẳng được ngó ngàng. Tất nhiên đang là mùa đông, nên cũng khó nói, nhưng tôi không tin còn gì mọc được trong này, có lẽ chỉ trừ một ít cây máu rồng, cái thứ bạ chỗ nào cũng mọc.
Có một bãi phế thải lớn giữa lối xe vào, toàn gỗ nát và những tảng vữa: người ta đang sửa sang. Hoặc là thế hoặc vừa có cháy: tầng trên có một cửa sổ vỡ vụn. Dân lang thang ưa trú trong những nhà kiểu này, theo lời Myra: cứ bỏ nhà hoang không người ở, ít ra thì Toronto là vậy, là chớp mắt chúng đã trám đầy nhà, tiệc tùng xì ke hay những trò bệnh hoạn khác. Chúng thờ Xa tăng, cô từng nghe vậy. Chúng nổi lửa trại trên sàn gỗ cứng, chúng làm tắc toa lét rồi ị vào bồn rửa, chúng xoáy tay vặn vòi nước, xoáy nắm đấm đẹp, xoáy bất cứ gì bán được. Mặc dù đôi khi cũng chỉ là tụi trẻ con vào đập phá, cho vui. Đấy là biệt tài riêng của lũ trẻ.
Cái nhà nhìn vô chủ, vô thường, như ảnh trong tờ rơi bất động sản. Không còn gợi lại bất kỳ mối liên hệ nào với tôi. Tôi cố nhớ lại tiếng chân mình bước, ủng mùa đông giẫm tuyết khô lạo xạo, nhanh chân trở về, lúc khuya, nhào nặn những lời giải thích; cổng rào màu mực chắn lối xe vào; ánh đèn đường đậu lên bờ tuyết, viền mép xanh như băng, lấm tấm chữ Braille vàng vết chó tè. Bóng ngả trên đường ngày ấy nhìn rất khác. Nhịp tim đập dồn, hơi thở cuộn ra trước mặt, khói trắng trong luồng khí tê người. Hơi ấm cuồng dại trên đầu ngón tay; môi còn ram ráp dưới lớp son quệt vội.
Trong phòng khách có lò sưởi. Tôi vẫn thường ngồi trước lò sưởi, bên Richard, ánh sáng chập chờn trên người chúng tôi, trên cả đôi ly, cả hai đều kèm miếng lót tránh ướt ván sàn. Sáu giờ chiều, giờ martini. Richard thích tổng kết vụ việc hằng ngày: đấy là ông ta gọi thế. Ông ta đã thành thói quen đặt tay lên gáy tôi, buông lại đó, cứ đặt nhẹ ở đó trong lúc tiến hành việc tổng kết. Tống kết vụ việc là điều thẩm phán vẫn làm trước khi chuyển cho đoàn bồi thẩm quyết. Có phải ông ta coi mình là thế không? Có lẽ. Nhưng những ý nghĩ sâu bên trong, những động cơ của ông ta, với tôi nói chung thường rất mù mờ.
Đấy là một trong những cớ tạo nên căng thẳng giữa hai bên: tôi không hiểu nổi, không dự đoán nổi mong muốn của ông ta, mà ông ta đổ tại tôi không quan tâm, một cách cố tình, thậm chí nhằm gây hấn. Thực tế đó còn là vì nỗi hoang mang, và sau này, nỗi sợ. Thời gian trôi đi, ông ta trước mắt tôi càng lúc càng bớt giống một con người, có da thịt và các phần cơ thể, mà càng ngày càng giống một búi dây khổng lồ rối beng, còn tôi trúng lời nguyền phải mỗi ngày ngồi tìm cách gỡ. Mà chẳng bao giờ thành công.
Tôi đứng ngoài nhà mình, nhà cũ của mình, chờ xem có ùa tới bất kỳ loại tình cảm gì không. Chẳng có gì. Sau khi đã nếm trải cả hai, tôi không rõ đằng nào tệ hơn: xúc động nghẹn ngào, hay là cạn ráo.
Trên cây dẻ trên bãi cỏ có cặp chân thòng xuống, cặp chân đàn bà. Trong một giây tôi tưởng là chân người thật, đang trèo xuống, đang bỏ trốn, tới khi nhìn lại kỹ hơn. Đấy là một chiếc quần tất, trong nhồi đầy cái gì đó - giấy vệ sinh, hẳn rồi, hay là đồ lót - rồi vứt qua cửa sổ tầng trên giữa một lễ nghi thờ Xa tăng, một trò nghịch của lũ ranh hay cuộc trác táng của dân không nhà nào đó. Rồi mắc giữa cành.
Chắc hẳn chính cửa sổ của tôi là nơi cặp giò không thân kia bị quăng xuống. Cửa sổ cũ của tôi. Tôi hình dung mình bên cửa ấy ngóng ra, ngày xưa tít tắp. Mưu tính xem có cách nào chuồn ra lối đó, không ai thấy, và bám cây leo xuống - tụt giày ra, vắt mình qua bậu cửa, thò xuống một bàn chân đi tất rồi đến chân kia, bấu vào các mấu. Nhưng chưa bao giờ làm.
Ngóng ra ngoài cửa. Ngại ngần. Bụng nghĩ, Mình đã để mất mình làm sao.
[1] Trong vở Đêm thứ mười hai của Shakespeare: “Ôi người đẹp, nàng đi về đâu thế? / Nghỉ chân nghe, tình lang sắp tới gần / Cất tiếng hát vút cao rồi rù rì / Diễm kiều ơi, xin hãy dừng chân. / Hành trình hết khi người yêu hội ngộ / Ấy người người đều tạc dạ ghi tâm.”
[2] Cảnh Lucifer bị Chúa trời ném xuống địa ngục trong Thiên đường đã mất của John Milton.