Sáng nay nghe dự báo có bão, trên kênh thời tiết, và đến tầm giữa chiều trời đã trở nên một màu xanh lục độc địa, còn cây lá bắt đầu vật vã quật cuồng như có con vật khổng lồ nào đang điên cuồng dẹp đường mở lối. Cơn bão đi qua ngay trên đầu - le rồi thụt những lưỡi sáng trắng chẻ đôi, xô đổ từng chồng đĩa thiếc. Đếm từ một đến nghìn lẻ một đi, Reenie thường bảo chị em tôi. Đọc được đến đó, nó đã đi xa một dặm. Chị bảo không được gọi điện khi trời bão vì sét sẽ theo đường dây đánh thủng tai cho điếc. Chị cũng bảo không được tắm, bởi sét sẽ chảy ra từ vòi như nước. Chị bảo nếu tóc gáy dựng đứng thì phải nhảy ngay ra ngoài trời, đấy là cách duy nhất cứu được mình.
Tới sẩm tối thì bão tạnh, nhưng trời vẫn còn ẩm nhớp như lòng cống. Tôi xoay trở giữa bề bộn chăn, nghe tim mình thậm thịch gõ vào lò xo giường, tìm thế nằm thoải mái. Cuối cùng tôi bỏ cuộc và trùm áo len dài ra ngoài áo ngủ, rồi lần xuống cầu thang. Rồi tôi choàng cái áo mưa ni lông có mũ và xỏ chân vào đôi ủng cao su, đi ra ngoài. Cần phải coi chừng những phiến gỗ ẩm trên bậc hàng hiên. Sơn đã mòn cả, có thể gỗ đã mục.
Ánh sáng yếu ớt làm cảnh vật hóa ra đơn sắc. Không khí ẩm và đứng gió. Hoa cúc trên bãi cỏ sân trước óng ánh những giọt sương; một sư đoàn sên trần hẳn đang gặm nốt ít lá đậu tía còn sót lại. Nghe nói sên thích bia; tôi vẫn định tâm để một ít ra vườn cho chúng. Cho chúng còn hơn cho tôi: chưa bao giờ tôi bầu chọn bia là chất cồn yêu thích của mình. Nếu cần bất tỉnh tôi muốn chóng vánh hơn.
Chân lạch bạch, tôi lẩn đi trên vỉa hè ẩm ướt. Trăng rất tròn, giữa một quầng nhợt nhạt; dưới ánh đèn đường cái bóng ngắn lại lướt đi đằng trước tôi như một con yêu tinh. Tôi cảm thấy mình đang làm một việc táo tợn: một bà cao tuổi, bước một mình, giữa đêm. Kẻ lạ nhìn thấy sẽ nghĩ tôi vô phương tự vệ. Và thực sự tôi có hơi thấy hoảng, hoặc ít ra là e ngại, đủ khiến tim đập mạnh hơn. Như Myra thường hiền từ dặn dò tôi, các bà già là mục tiêu số một của phường xin đểu. Nghe nói chúng đến từ Toronto, quân xin đểu ấy, mọi điều xấu xa đều từ đó mà ra. Nhiều phần chúng tới bằng xe buýt, đồ nghề xin đểu giả trang thành ô, hay gậy chơi gôn. Chúng không từ bất cứ điều gì, Myra trầm trọng nói.
Tôi đi qua ba khối nhà tới con đường chính xuyên thị trấn, rồi dừng lại nhìn qua mặt đường nhựa óng như nhung sang ga ra của Walter bên kia đường. Walter đang ngồi trong buồng kính, cây hải đăng giữa vũng nhựa đường phẳng lì, trống không, quánh như mực. Cái mũ lưỡi trai đỏ chúi về phía trước, trông cậu ta như một tay nải sắp hết đát trên lưng con ngựa vô hình, hay như thuyền trưởng của số phận mình, lèo lái một phi thuyền kỳ quái băng qua vũ trụ. Còn sự thực thì cậu ta đang xem kênh thể thao trên ti vi xách tay, như tôi tình cờ được Myra cho biết. Tôi không qua chào: cậu ta sẽ dựng tóc gáy khi thấy tôi lù lù hiện ra từ bóng tối, chân dận ủng và mình choàng áo ngủ như một mụ điên bát thập chuyên rình rập. Nhưng dù sao cũng ấm lòng khi biết vẫn còn ít nhất một sinh vật người nữa đang thức vào lúc đêm hôm này.
Trên đường quay về tôi nghe tiếng chân sau lưng. Giờ thì thỏa chí nhé, tôi tự nhủ, xin đểu đến đây rồi. Nhưng đấy chỉ là một cô gái trẻ mặc áo mưa đen, mang túi hoặc một va li nhỏ. Thoắt chốc cô đã vượt qua tôi, cổ vươn ra như sếu.
Sabrina, tôi nghĩ. Cuối cùng thì nó đã trở về. Thật nhẹ nhõm làm sao, giây phút ấy - tôi được tha thứ, tôi tràn trề ơn phước, như thể thời gian đã đảo ngược và cây gậy gỗ héo quắt trong tay tôi bùng nở hoa, rất kịch. Nhưng nhìn lại lần nữa - không phải, hai lần nữa - thì đó chẳng phải Sabrina; chỉ là một người xa lạ. Nào tôi có là ai, mà đáng hưởng đoạn kết thần kỳ đến thế? Làm sao tôi dám trông mong?
Vậy nhưng tôi vẫn trông mong. Bất chấp lý trí.
Nhưng thế là đủ rồi. Tôi nối tiếp bài ca của mình, như các nhà thơ xưa thường nói. Về Avilion thôi.
Mẹ chết rồi. Sẽ chẳng có gì còn bao giờ như trước. Tôi được dạy phải giữ nghiêm vành môi trên. Ai nói vậy? Reenie hẳn rồi, cha nữa có thể. Buồn cười là, chẳng ai nói gì bao giờ về môi dưới. Môi dưới được coi là cái để cắn vào, để thế cái đau này bằng nỗi đau khác.
Hồi đầu Laura thường ở rất lâu bên trong cái áo lông của mẹ. Áo bằng da hải cẩu, khăn tay mẹ vẫn còn trong túi. Laura chui vào rồi cô cài cúc từ bên trong, tới khi nó nghĩ ra cách cài cúc xong trước rồi mới bò vào bên dưới. Tôi nghĩ chắc lúc đó nó cầu nguyện trong ấy, hoặc tìm cách gọi hồn: gọi mẹ trở về. Dù là điều gì thì cũng không thành công. Sau rồi cái áo được đem cho tế bần.
Chẳng mấy chốc Laura bắt đầu hỏi em bé đi đâu rồi, em bé trông không giống mèo ấy. Lên trời không còn được nó chấp nhận nữa - sau khi vào chậu men rồi thì đi đâu, ý nó là vậy. Reenie nói bác sĩ đem nó đi rồi. Nhưng làm sao không có đám tang? Bởi nó sinh ra còn nhỏ quá, Reenie nói. Làm sao một thứ rất nhỏ như thế lại làm mẹ chết? Reenie nói, Thôi đừng hỏi. Chị bảo, Lớn lên rồi cô sẽ hiểu. Chị bảo, Cái gì cô không biết thì không làm hại cô. Châm ngôn này khá đáng ngờ: nhiều lúc cái ta không biết làm hại ta lắm lắm.
Đến đêm Laura thường bò sang phòng lay tôi tỉnh, rồi trèo vào giường cạnh tôi. Nó không ngủ được: đấy là tại Chúa. Cho đến trước đám tang, nó và Chúa vẫn còn hòa thuận. Chúa yêu các con, bà giáo ở lớp Chủ nhật thuộc nhà thờ Giám lý nói thế, mẹ cho chúng tôi đi học ở đó, và Reenie vẫn duy trì việc đó để bảo vệ nguyên tắc chung, và Laura từng tin điều này. Nhưng bây giờ nó không còn chắc nữa.
Nó bắt đầu băn khoăn về địa bàn chính xác của Chúa. Đấy là lỗi của bà giáo ở nhà thờ: Chúa ở khắp nơi, bà ta nói, và thế là Laura hỏi: Chúa có ở trong mặt trời không, có ở trong mặt trăng không, có ở trong bếp, ở trong phòng tắm, ở dưới gậm giường? (“Tôi chỉ muốn vặn cổ con mụ ấy,” Reenie bảo.) Laura không muốn Chúa bất thình lình hiện ra bên cạnh, cũng dễ hiểu khi xét đến những hành vi gần đây của ngài. Mở miệng ra, nhắm mắt lại, cho cô cái này bất ngờ lắm này, Reenie thường nói thế, tay giấu bánh quy sau lưng, nhưng giờ Laura không chơi trò đó nữa. Nó muốn mắt luôn luôn mở. Không phải nó không tin Reenie, có điều giờ đây nó sợ các bất ngờ.
Rất có thể Chúa ở trong buồng để chổi. Đấy có vẻ là nơi có lý nhất. Ngài ta đang nấp ở đấy như một ông chú lập dị và có thể còn nguy hiểm, nhưng nó không biết chắc ngài có trong đó vào một thời điểm cụ thể nào đấy không vì không dám mở cửa nữa. “Chúa ở trong tim con,” bà giáo ở nhà thờ dạy, và như thế còn tệ hơn. Nếu ở trong buồng để chổi thì còn có cách, ví dụ như khóa cửa lại.
Chúa không bao giờ ngủ, theo bản thánh ca - Không bao giờ giấc ngủ lơ là đến khép mắt Người. Thay vào ngủ ngài rảo khắp nhà vào ban đêm, do thám mọi người - xem xem họ có ngoan không, hoặc phải bệnh dịch đến kết liễu họ, hoặc làm một trò nghịch ngợm gì khác. Sớm hay muộn thế nào ngài cũng làm điều gì đó không hay, xem Kinh Thánh là thấy ngài rất hay làm thế. “Nghe kìa, ngài đến đấy,” Laura nói. Bước nhẹ, bước nặng.
“Không phải Chúa đâu. Đấy là cha thôi. Cha đang ở trên tháp.”
“Cha làm gì trên ấy?”
“Hút thuốc.” Tôi không muốn nói là uống rượu. Như thế là thiếu trung thành.
Tôi thấy trìu mến nhất với Laura khi nó ngủ - miệng hơi hé mở, mi mắt còn ướt - nhưng nó ngủ không khi nào yên; nó làu bàu quẫy đạp, đôi khi còn ngáy, làm cho chính tôi không ngủ được. Tôi hay trèo xuống khỏi giường nhón bước đi trên sàn nhà, kiễng chân nhìn ra ngoài cửa sổ. Khi có trăng vườn hoa sẽ lấp lánh xám bạc, như là mọi màu sắc đều đã bị hút sạch. Tôi nhìn thấy cô tiên nữ ngắn lại khi nhìn từ trên; mặt trăng in bóng trên ao súng, và cô ả đang nhúng ngón chân vào ánh trăng lạnh. Người run rẩy, tôi trở lại giường, nằm nhìn bóng tấm rèm chạy trên tường mà lắng nghe tiếng ộp oạp và răng rắc của ngôi nhà đang trở mình. Nghĩ xem mình đã làm gì sai.
Trẻ con thường tin mọi chuyện xấu xảy ra cách nào đó đều là lỗi chúng, và tôi không phải ngoại lệ; nhưng chúng cũng tin vào những đoạn kết có hậu, bất chấp mọi bằng cớ hoàn toàn trái ngược, và cả điều này cũng không chừa tôi. Tôi chỉ ước cái đoạn kết có hậu sẽ đến nhanh lên, bởi vì - nhất là ban đêm khi Laura đã ngủ và tôi không phải động viên em - tôi cảm thấy bơ vơ quá.
Mỗi buổi sáng tôi giúp Laura mặc áo - nhiệm vụ này được giao cho tôi từ khi còn mẹ - và trông chừng nó đánh răng rửa mặt. Tới bữa trưa thỉnh thoảng Reenie cho chúng tôi đi picnic. Chúng tôi sẽ có bánh mì trắng tẩm bơ phết thạch nho trong suốt như giấy bóng kính, và cà rốt sống cùng táo xắt miếng. Chúng tôi sẽ có thịt bò muối đổ từ hộp ra, còn nguyên hình một ngôi đền Aztec. Chúng tôi sẽ có trứng luộc. Chúng tôi sẽ bày tất cả lên đĩa, rồi mang ra ngoài, và ăn ở đâu đó, bên ao hay trong nhà kính. Nếu trời mưa chúng tôi sẽ ăn trong nhà.
“Hãy nhớ đến những người Armenia chết đói,” Laura sẽ nói, tay chắp vào nhau, mắt nhắm lại, cúi đầu trên những vụn vỏ bánh dính thạch. Tôi biết nó nói câu đó vì mẹ vẫn nói như thế, khiến tôi muốn khóc. “Không có người Armenia chết đói nào đâu, toàn chuyện bịa đấy,” tôi từng bảo nó, nhưng nó không nghe.
Phần lớn thời gian chúng tôi bị bỏ một mình. Chúng tôi học về Avilion từ trong ra: những hẻm, những hang hốc, những đường hầm. Chúng tôi ngó vào chỗ ẩn náu dưới cầu thang phụ, có một mớ hầm bà lằng giày bao vứt đi và găng tay lẻ đôi, và một cái ô đã gãy gọng. Chúng tôi thám hiểm những nhánh khác nhau trong hầm - hầm than dùng để chứa than; hầm củ chứa bắp cải và bí phơi trên ván, củ cải đường và cà rốt đã trổ râu tơ trong hộp cát, khoai tây duỗi các tua bạch tạng mù lòa, như cua duỗi chân; hầm lạnh để dành cho táo xếp trong thùng, và cho các kệ muối ướp - mứt và thạch đông mờ đục, ánh lên như đá quý chưa mài, tương cay và dưa muối và dâu tây và cà chua lột vỏ và nước táo, đều trong các lọ gắn kín mác Crown. Còn có cả hầm rượu nữa, nhưng khóa chặt; mình cha có chìa.
Chúng tôi tìm thấy cái động dưới gầm hàng hiên, nền đất mùn ẩm ướt, muốn vào phải bò giữa những cành thục quỳ, thứ duy nhất cố mọc trong đó là cây bồ công anh mảnh khảnh như chân nhện, và thường xuân bò, phả ra mùi lá bạc hà vò nát quyện với mùi nước tiểu mèo đực và (có lần) còn cả mùi nồng nồng, tanh tanh của một con rắn sọc phát hoảng. Chúng tôi tìm thấy căn gác mái, các hộp đựng sách cũ và chăn để dành và ba cái rương rỗng, và cây đàn đạp hơi đã hỏng, và khung áo không đầu của bà Adelia, một thân người mốc meo bợt bạt.
Cố nín thở, chúng tôi lẻn qua những mê cung bóng tối. Chúng tôi nhờ đó làm an ủi - nhờ cảm giác bí mật, nhờ những lối đi chỉ mình chúng tôi hay, nhờ niềm tin không bị ai nhìn thấy.
Nghe đồng hồ đang đếm kìa, tôi bảo. Đấy là một chiếc đồng hồ quả lắc - đồ cổ, bằng sứ trắng và vàng; ngày xưa là của ông nội; nó đặt trên bệ lò sưởi trong thư viện. Laura nghĩ tôi nói đồng hồ đang liếm. Và cũng không sai, quả lắc đồng đưa qua đưa lại trông thật giống như cái lưỡi, đang liếm đôi môi trên cái miệng vô hình. Nuốt mất thời gian.
Rồi mùa sang thu. Laura và tôi ngắt những quả bông tai và tách vỏ, đưa tay lần trên các hạt hình vẩy xếp lớp như vẩy rồng. Chúng tôi rứt hết hạt mà tung cho chúng bay trên những cái dù tơ óng, trơ lại cái vỏ lưỡi nâu vàng mịn như da thuộc, mềm như mặt trong khuỷu tay. Rồi chúng tôi mang chỗ vỏ đến cầu Khánh Tiết ném xuống sông xem bơi được bao xa, trước khi lật nhào hoặc bị cuốn đi mất. Chúng tôi có tưởng tượng chúng chở người, hay một người cụ thể nào hay không? Tôi không rõ. Nhưng tôi biết chắc cái cảm giác khoái chí khi nhìn chúng chìm nghỉm.
Rồi mùa sang đông. Bầu trời màu xám vẩn sương, mặt trời xệ xuống trên nền trời, một màu hồng đùng đục, như máu cá. Nhũ băng nặng và đục, dày bằng cổ tay, rủ xuống dưới mái và bệ cửa sổ như bị ngưng lại giữa đà rơi. Chúng tôi bẻ chóp ra mút. Reenie bảo làm thế lưỡi chúng tôi sẽ đen kịt và rụng mất, nhưng tôi biết không phải, vì tôi từng làm vậy rồi.
Avilion lúc này đã có một nhà thuyền, và một nhà trữ đá, gần bên cầu tàu. Trong nhà thuyền là con thuyền buồm già cả của ông, nay là của cha - chiếc Thủy Nữ Tinh, nằm suông nhớ nước, bị bắt đi ngủ đông. Trong nhà trữ đá để đá tảng, cắt ra từ sông Jogues và lôi lên từng tảng bằng sức ngựa, và cất trong đó phủ đầy mạt cưa, chờ đến mùa hè khan hiếm.
Laura và tôi đi ra đến tận cầu tàu trơn trượt, mặc dù bị cấm. Reenie nói nếu trượt chân rơi tòm xuống chúng tôi sẽ không sống được nửa giây, bởi nước ở đấy lạnh như cõi chết, ủng ngập đầy nước, chúng tôi sẽ chìm như đá chìm. Chúng tôi ném thử vài viên đá thật xuống xem có chuyện gì xảy ra; chúng nảy tưng tưng trên mặt băng, nằm lại đó, vẫn nguyên vẹn. Hơi thở tạo thành khói trắng, chúng tôi thổi ra từng ngụm, như tàu lửa, và đổi từ chân trái rét sang chân phải cóng. Dưới gót ủng tuyết kêu lạo xạo. Chúng tôi nắm tay cho hai chiếc găng dính cứng vào nhau, để khi rút tay ra sẽ có hai bàn tay len nắm lấy nhau, màu xanh trống rỗng.
Ở đáy đoạn ghềnh sông Louveteau, những mảng băng lởm chởm chồng chất lên nhau. Băng ở đó đến trưa thì trắng, chạng vạng thì xanh nhạt; những mảnh nhỏ hơn kêu lanh canh, như tiếng chuông. Ở giữa con sông nước chảy băng băng đen sì. Tiếng trẻ con kêu từ ngọn đồi bên kia, khuất sau hàng cây, giọng cao léo nhéo và hào hứng trong khí lạnh. Chúng đang trượt tuyết bằng toboggan, một việc chúng tôi không được phép. Tôi nghĩ có nên đi ra giẫm lên bờ băng lởm chởm kia, để xem nó chắc tới đâu.
Rồi mùa sang xuân. Trên cây liễu cành ngả vàng, cây sơn thù du ngả đỏ. Dòng Louveteau đang xả băng; cây bụi và cây gỗ bị nhổ bật rễ xoay trong dòng xoáy, làm tắc nghẽn nước. Một người đàn bà nhảy từ cầu Khánh Tiết xuống phía trên đoạn ghềnh, hai ngày sau mới tìm thấy xác. Cái xác được câu lên ở dưới xuôi dòng, cảnh tượng chẳng đẹp đẽ mấy bởi trôi qua khúc ghềnh đó cũng không khác gì đi qua máy xay thịt. Chẳng phải là cách từ bỏ thế giới tốt nhất, Reenie bảo, nhất là nếu cô quan tâm đến mặt mũi mình, dù đến lúc đó chắc cô cũng chẳng còn nghĩ mấy.
Bà Hillcoate quen đến nửa tá các cô nhảy cầu như vậy, tích tụ qua tháng năm. Trên báo cũng có khi viết về họ. Một người là bạn học cũ lấy chồng làm đường sắt. Đi vắng liên miên, bà nói, hỏi hắn còn mong gì? “Ễnh ương ra,” bà nói. “Mà chẳng biện hộ được.” Reenie gật gù, như là thế đã đủ hiểu.
“Cho dù thằng đàn ông có ngu đến đâu, phần lớn cũng biết đếm,” bà ta nói, “ít nhất trên đầu ngón tay. Tôi nghĩ là đã có đứa đã ăn quả đấm. Nhưng có ích gì khi mất bò mới lo làm chuồng.”
“Bò nào cơ?” Laura hỏi.
“Chắc là cô ta cũng gặp phải chuyện khác nữa,” bà Hillcoate nói. “Thói thường, nghèo bao giờ chả mắc cái eo.”
“Ễnh ương là cái gì?” Laura thì thầm hỏi tôi. “Ễnh ương nào?” Nhưng tôi không biết.
Ngoài việc nhảy cầu, Reenie nói, những đàn bà ấy cũng có khi lội xuống sông ở thượng nguồn để bị hút xuống đáy vì quần áo ướt quá nặng, thế là họ kể cả có muốn cũng không bơi được lên bờ. Đàn ông thường chọn cách chắc chắn hơn. Họ treo cổ trên xà nhà kho, hoặc dùng súng bắn vỡ óc, hoặc nếu muốn chết đuối, họ sẽ buộc theo đá, hay các vật nặng khác - lưỡi rìu hay tải đinh. Họ không muốn liều trong chuyện nghiêm trọng như thế. Còn đàn bà thì chỉ có bước tới mà nộp mình thôi, để cho nước đón lấy mình. Nghe giọng Reenie thì khó đoán được chị tán đồng điểm khác biệt ấy hay là không.
Tôi tròn mười tuổi vào tháng Sáu. Reenie làm một cái bánh, chị nói có lẽ làm thế là không nên, mẹ vừa mới mất chưa bao lâu, nhưng mặt khác, người ta vẫn phải sống tiếp, nên có cái bánh chắc cũng không ảnh hưởng. Ảnh hưởng gì? Laura hỏi. Nghĩa là mẹ sẽ không buồn, tôi đáp. Vậy là mẹ đang nhìn chúng mình, từ trên trời? Nhưng tôi quay ra bướng bỉnh và kênh kiệu, không chịu trả lời. Laura không muốn động vào bánh, sau khi nghe nói có thể mẹ buồn, nên tôi ăn phần cả hai.
Bây giờ khó khăn lắm tôi mới dựng lại được từng chi tiết nỗi buồn thương của mình - hình hài chính xác của nỗi buồn thương ấy - cho dù nếu muốn tôi vẫn có thể gợi lại một âm hưởng xa xôi, như con chó nhốt trong hầm oăng oẳng. Tôi đã làm gì cái hôm mẹ mất? Tôi hầu như không còn nhớ, cũng không nhớ trông mẹ như thế nào: giờ đây mẹ trông chỉ còn giống như trong ảnh. Tôi có nhớ cái giường trông như lạc điệu khi bỗng nhiên không có mẹ nằm nữa: trống trải bao nhiêu. Và ánh nắng chiều xiên xiên vào cửa sổ đậu lại lặng lẽ trên sàn gỗ cứng, bụi vẩn lờ lững trong nắng như hơi sương. Và mùi gỗ đánh sáp ong, mùi hoa cúc úa, mùi bô và chất khử trùng mãi không phai hẳn. Tôi bây giờ nhớ khi vắng mẹ rõ hơn khi có mẹ.
Reenie bảo bà Hillcoate dù không ai mong thay thế được bà Chase, vị thánh sống thực sự nếu quả có khái niệm đó, chị cũng đã làm hết sức có thể, và chị giữ bộ mặt tươi cười là vì chúng tôi bởi càng bớt gãi sẽ càng mau lành, và thật may là có vẻ như chúng tôi sắp vượt qua, dù nước lặng là nước sâu và tôi ít nói quá dễ hóa hại. Tôi là đứa trẻ ưa trầm mặc, chị nói; nó sẽ phải phát tiết ra đường nào đó. Còn về Laura, ai biết được, vì vốn nó đã là đứa bé kỳ quặc rồi.
Reenie nói chúng tôi bám lấy nhau nhiều quá. Chị nói Laura đang học những lối điệu quá sớm so với tuổi nó, còn tôi thì đang bị hãm lại. Mỗi đứa cần phải tách ra chơi với trẻ bằng tuổi, nhưng mấy đứa trẻ trong thị trấn có lẽ hợp thì đã đi trọ học cả rồi - ở trường tư như đáng lẽ chúng tôi cũng phải đi theo quyền lợi chính đáng, nhưng đại úy Chase hình như không bao giờ xốc được mình lên lo chuyện ấy, mà nếu làm thế bây giờ thì quá nhiều thay đổi dồn dập, và mặc dù tôi thì lạnh như băng và chắc sẽ chịu đựng nổi, Laura vẫn quá nhỏ so với tuổi và, ngay cả tuổi cũng còn quá nhỏ. Hơn nữa nó lại hay căng thẳng. Cái kiểu nó có thể phát hoảng chạy lồng lên rồi chết đuối dưới mét rưỡi nước, chỉ vì mất thăng bằng.
Laura và tôi ngồi trên cầu thang phụ bên cửa hé rất hờ, tay bịt mồm để khỏi cười to tiếng. Chúng tôi thích thú những dịp do thám như thế này. Nhưng cả hai chẳng được lợi gì khi nghe lỏm những điều như thế về bản thân.