Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 307 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CON MÈO CON

❊ ❊ ❊

Tháng Chín tới, sang tháng Mười. Laura đã đi học lại, trường khác. Trường này váy ca rô xám pha xanh chứ không phải nâu pha đen; mọi mặt còn lại giống hệt trường kia, ít nhất theo tôi thấy.

Tháng Mười một, khi vừa tròn mười bảy, Laura tuyên bố Richard chỉ phí tiền. Nó sẽ vẫn đến trường nếu ông ta đòi hỏi, nó vẫn đặt thân ngồi vào bàn, nhưng ở đấy nó chẳng học được gì có ích. Nó nói điềm nhiên chứ không hằn học, và thật ngạc nhiên là Richard lại nhượng bộ. “Con bé cũng chẳng cần thiết phải đến trường làm gì,” ông ta nói. “Sẽ chẳng có chuyện nó phải đi làm kiếm sống.”

Nhưng Laura cũng phải có việc gì lấp thời gian, giống như tôi. Nó được tuyển vào một trong các sứ mệnh của Winifred, một tổ chức thiện nguyện gọi là đội Tùy nữ Abigail, chuyên môn là lui tới thăm viếng các bệnh viện. Đội Abigail là một nhóm cảnh vẻ: con gái nhà trâm anh thế phiệt, đào luyện để thành các Winifred tương lai. Chúng độn váy tạp dề kiểu cô vắt sữa đính mẫu hoa uất kim hương trên yếm và diễu hành qua khắp các phòng bệnh, mục tiêu là để chuyện trò với bệnh nhân, có lẽ đọc sách cho họ, và nâng đỡ tinh thần họ - cụ thể cách nào thì không nói rõ.

Laura bắt rất nhanh vào việc này. Nó không ưa các cô nàng Abigail khác, cái đó khỏi phải nói, nhưng nó mê váy tạp dề. Dễ đoán được là nó thiên hẳn về các phòng bệnh làm phước, nơi các nàng Abigail khác lảng xa vì sợ cảnh hôi thối kinh tởm. Trong các phòng đó toàn phế vật dưới đáy xã hội: các bà già lú lẫn, cựu chiến binh áo rách hết thời, người bệnh giang mai giai đoạn cuối đã rụng mũi và các của tương tự. Y tá khu này luôn khan hiếm, và chẳng mấy chốc Laura đã nhúng ngập tay trong những việc mà đúng ra không phải việc của nó. Bô và chất mửa chẳng khiến nó nao núng, xem ra thế, chửi bới và quát tháo và cảnh hỗn loạn nói chung cũng chẳng hề gì. Không phải như Winifred dự tính, nhưng chẳng mấy chốc chúng tôi chẳng còn can thiệp nổi.

Các y tá nghĩ Laura là một thiên thần (hoặc là vài người nghĩ thế; số khác chỉ nghĩ nó làm vướng chân). Theo Winifred, chị này vẫn cố để mắt theo dõi nhờ điều động nội gián, Laura nghe đồn đặc biệt khéo léo với những ca không còn hy vọng. Có vẻ nó không ý thức được họ đang hấp hối, Winifred bảo. Nó cư xử như thể bệnh tình họ là bệnh thông thường, là trạng thái bình thường nữa là khác, và theo Winifred đoán, chắc họ nhờ đó mà dịu lại hay gì đó, dù người tỉnh táo thì đã chẳng thấy vậy. Theo Winifred, cái năng lực hay thiên tư này chỉ tiết lộ thêm bản chất trái khoáy vốn có của Laura.

“Chắc dây thần kinh nó bằng băng,” Winifred nói. “Tôi thì chắc chắn không làm nổi. Tôi không chịu nổi. Bẩn tưởi phát gớm!”

Trong lúc đó các kế hoạch đưa Laura ra mắt giới giao tế vẫn đang xây đắp. Những kế hoạch này chưa hé cho thân chủ hay: tôi đã gieo vào đầu Winifred rằng phản ứng của nó sẽ chẳng phải là vỗ tay hoan hỉ. Nếu thế, Winifred nói, cần phải xếp đặt xong hết một lượt, rồi đặt nó vào thế đã rồi; hoặc có thể bỏ đứt buổi ra mắt thì càng tốt nếu chẳng cần thực hiện cũng đạt được mục tiêu cốt yếu của sự kiện, tức là một cuộc hôn nhân chiến lược.

Câu chuyện đem ra bàn trong bữa trưa ở Vườn Arcadia; Winifred đã mời tôi đi ăn, chỉ hai người với nhau, để vạch ra một mưu chước vì Laura, theo lời chị ta nói.

“Mưu chước?” tôi hỏi.

“Cô hiểu nghĩa là sao mà,” Winifred nói. “Để không biến thành thảm họa giao tế.” Quả sung to nhất may ra rơi được vào Laura, sau khi xét mọi mặt - chị ta nói tiếp - là một anh nhà giàu tốt tính sẽ ngậm bồ hòn mà cầu hôn con bé, rồi rước thẳng nó đến nhà thờ. Tốt hơn nữa là một anh nhà giàu tốt tính ngu lâu, không nhận ra nổi có quả bồ hòn cần ngậm đến khi đã muộn.

“Chị nói quả bồ hòn nào?” tôi hỏi. Tôi nghĩ có phải chính Winifred đã nhờ chiến thuật này mà bỏ túi ông Prior giấu mặt. Có phải chị ta đã ém nhẹm bản chất bồ hòn đợi đến tuần trăng mật, rồi bất thình lình xổ ra, như sét đánh trời quang? Có phải vì thế mà ông ta đã mất tăm tích, chỉ còn cái ảnh?

“Cô cũng phải thừa nhận,” Winifred nói, “rằng Laura không chỉ là hơi khác người.” Chị ta ngưng lại mỉm cười với ai đó sau lưng tôi, ve vẩy mấy ngón tay chào. Những lắc bạc va vào nhau leng keng: chị ta đeo quá nhiều.

“Ý chị là sao?” tôi ngoan hiền hỏi. Thu thập những lời Winifred giải thích xem ý chị ta là sao đã trở thành thú chơi hư đốn của tôi.

Winifred bặm môi. Chị ta đánh son màu cam, da môi bắt đầu có nếp. Ngày nay ta sẽ nói đấy là vì phơi nắng quá nhiều, nhưng thời đó còn chưa phát hiện mối liên quan, còn Winifred thì thích ngả màu đồng; chị ta ưa nước láng kim loại. “Không phải đàn ông nào cũng thấy con bé hợp nhãn. Nó hay nghĩ ra nhiều thứ kỳ khôi. Nó thiếu - nó thiếu đề phòng.”

Winifred đang đi đôi giày da cá sấu xanh mọi khi, nhưng giờ tôi không còn nghĩ thế là thanh lịch nữa; giờ tôi thấy thế là rợ. Có nhiều điều ở Winifred ngày xưa tôi thấy huyền bí và quyến rũ còn bây giờ lại thấy hiển nhiên, chỉ vì nay tôi biết quá nhiều, vẻ hào nhoáng của chị ta chẳng qua là men mẻ, nước bóng là đánh véc ni. Tôi đã ghé mắt sau màn, tôi đã thấy dây dợ và ròng rọc, tôi đã nhìn khung sắt và áo bó. Tôi đã có gu thẩm mỹ riêng.

“Ví dụ thế nào?” tôi hỏi. “Những thứ gì mà kỳ khôi?”

“Hôm qua nó bảo tôi hôn nhân không quan trọng, chỉ có tình yêu quan trọng. Nó nói Giê su cũng đồng ý với mình,” Winifred nói.

“Thì cách nhìn của nó là thế,” tôi nói. “Nó đâu có giấu giếm gì chuyện đó. Nhưng nó không nghĩ đến tình dục, chị biết mà. Nó không nói đến eros.”

Khi có điều gì Winifred không hiểu, chị ta thường cười nhạo hoặc lờ đi. Lần này chị ta tảng lờ. “Chúng nó đều nghỉ đến tình dục, dù có ý thức được hay không,” chị ta nói. “Tư tưởng này ở một đứa con gái như thế có thể dẫn đến khối điều phiền toái.”

“Lớn thêm chút nữa nó sẽ hết thôi,” tôi nói, mặc dù không nghĩ thế.

“Cũng còn lâu. Những con bé đầu óc trên mây như thế là tệ nhất - đàn ông tha hồ lợi dụng. Chỉ cần một cu cậu Romeo thớ lợ là xong. Nó sẽ thân tàn ma dại.”

“Vậy chị nghĩ nên thế nào?” tôi hỏi và trố mắt nhìn chị ta. Tôi dùng ánh mắt ngây ngốc mỗi lần muốn giấu nỗi bực mình hay kể cả tức giận, nhưng Winifred chỉ càng thêm hăng hái.

“Thì tôi đã nói đấy, gả béng cho một anh chàng tốt tính khù khờ nào đấy. Rồi nó có thể chơi trò yêu đương về sau, nếu nó thực sự muốn vậy. Miễn là nó biết ăn tép phải chùi mép, thì sẽ chẳng ai ỏ ê trên con đê.”

Tôi chọc chọc chỗ bánh nướng gà còn trên đĩa. Winifred gần đây đã tích lũy thêm vô khối cách diễn đạt lóng cho mình. Tôi đoán chị ta nghĩ như vậy là cập nhật: chị ta đã đến cái tuổi bắt đầu lo lắng phải cập nhật mình.

Hiển nhiên chị ta không hiểu Laura. Hình dung Laura ăn tép biết chùi mép là điều tôi không tiêu hóa nổi. Mang ra ngã tư giờ cao điểm có vẻ đúng kiểu nó hơn. Nó sẽ muốn thách thức chúng tôi, muốn gí đầu chúng tôi vào đó. Trốn nhà theo trai, hoặc cái gì đó kịch tính tương tự. Cho cả đám còn lại soi thấy mình giả nhân giả nghĩa ra sao.

“Laura sẽ có tiền, khi tròn hai mốt tuổi,” tôi nói.

“Không đủ đâu,” Winifred đáp.

“Có thể với Laura thế là đủ. Có thể nó chỉ muốn sống cuộc đời theo cách nó muốn,” tôi nói.

“Theo cách nó muốn!” Winifred kêu lên. “Cô cứ nghĩ xem nó sẽ muốn gì!”

Tìm cách lái Winifred đi chẳng ích gì. Chị ta cứ như con dao pha treo lơ lửng giữa trời. “Chị nhắm người nào chưa?” tôi hỏi.

“Chưa có gì chắc, nhưng tôi đang gắng sức,” Winifred đáp nhanh. “Có vài người sẽ không phiền lòng nếu được dâu gia với nhà Richard.”

“Đừng quá mất công,” tôi rì rầm.

“Nhưng nếu tôi không làm,” Winifred nói tươi rói, “chuyện gì sẽ đến?”

“Chị nghe nói dạo này em chọc tức Winifred không phải lối,” tôi bảo Laura. “Bơm nóng chị ta lên. Đem Tự do Luyến ái ra chọc ghẹo.”

“Em không hề nói Tự do Luyến ái,” Laura trả lời. “Em chỉ nói hôn nhân là một thể chế lỗi thời. Em nói nó chẳng liên quan gì đến tình yêu, có thế thôi. Yêu là trao đi, hôn nhân là mua bán. Không thể đưa tình yêu vào một bản khế ước. Rồi em nói làm gì có hôn nhân trên thiên đàng.”

“Đây không phải là thiên đàng,” tôi nói. “Nếu em còn chưa nhận ra. Dù sao thì em cũng làm chị ta kêu quang quác.”

“Em chỉ nói sự thực thôi.” Nó đang ấn cho gọn da chân móng tay bằng que sửa móng của tôi. “Chắc giờ chị ta sẽ bắt đầu giới thiệu em cho người này người nọ. Lúc nào chị ta cũng phải nhúng tay vào.”

“Chị ta chỉ sợ em sẽ làm hỏng đời mình thôi. Nếu em cứ nhất quyết muốn tình yêu, ý là thế.”

“Vậy cưới xin có cứu chị tránh hỏng đời không? Hay còn sớm quá chưa biết được?”

Tôi bỏ qua giọng điệu nó. “Nhưng em thấy thế nào?”

“Chị dùng nước hoa mới. Richard cho chị à?”

“Chị đang nói chuyện hôn nhân cơ.”

“Chả có gì.” Bây giờ nó đang chải mái tóc vàng rất dài, bằng lược của tôi, bên bàn phấn của tôi. Gần đây nó bắt đầu quan tâm hơn đến vẻ ngoài; nó bắt đầu ăn mặc khá hợp mốt, cả quần áo riêng của nó lẫn đồ lấy của tôi.

“Ý em là hôn nhân chả có gì đáng nói?” tôi hỏi.

“Không phải. Em chả nghĩ gì về chuyện đó.”

“Có lẽ em nên nghĩ đi,” tôi nói. “Có lẽ em nên dành ít nhất một phút nghĩ về tương lai mình. Em không thể cả đời cứ lông bông, chẳng…” Tôi định nói chẳng làm gì hết, nhưng nói thế sẽ là sai lầm.

“Tương lai làm gì tồn tại,” Laura nói. Nó bắt đầu có thói quen nói chuyện như thể tôi mới là em gái còn nó là chị lớn; như thể nó phải chỉ bày rành rọt cho tôi. Rồi nó phát biểu một trong những “thứ kỳ khôi”. “Nếu chị đang bị bịt mắt đi dây bắc rất cao qua thác Niagara, chị sẽ chú ý cái gì hơn - đám đông bờ bên kia, hay chân của chị?”

“Chân của chị, chắc thế. Chị nghĩ em không nên dùng lược của chị. Như thế rất mất vệ sinh.”

“Nhưng nếu quá chú ý xuống chân, chị sẽ ngã. Mà quá chú ý đến đám đông, chị cũng ngã luôn.”

“Vậy đáp án đúng phải là gì?”

“Khi chị chết rồi thì cái lược này còn là của chị không?” nó hỏi, đưa mắt liếc ngang nhìn bóng mình trông nghiêng. Động tác đó thế khiến cô gái trong gương có vẻ mặt ranh giảo, hoàn toàn không giống nó ngày thường. “Người chết có sở hữu được đồ đạc không? Nếu không thì vì sao bây giờ nó lại là ‘của chị’? Vì có khắc tên chị à? Hay vi trùng của chị?”

“Laura, thôi đừng đùa nữa!”

“Em có đùa đâu,” Laura nói và bỏ lược xuống. “Em đang nghĩ chứ. Chị chẳng bao giờ phân biệt được. Em chẳng hiểu sao chị còn nghe bất kỳ cái gì Winifred nói. Chẳng khác gì nghe lời một cái bẫy chuột. Một cái bẫy chuột chưa có chuột,” nó nói thêm.

Gần đây nó đã khác nhiều: nó dễ quạu mà lại ơ hờ, bất chấp theo kiểu mới. Nó không còn cự cãi thẳng thừng như trước nữa. Tôi ngờ nó đã bắt đầu hút thuốc, lén tôi: một hai lần tôi ngửi thấy mùi thuốc lá trên người nó. Thuốc lá, và còn mùi gì khác nữa: mùi thạo đời, mùi hiểu biết. Tôi đáng ra phải nhạy bén hơn trước những thay đổi đang diễn ra ở nó, nhưng trong đầu tôi còn đang lấn bấn trăm thứ chuyện.

Tôi đợi đến cuối tháng Mười mới cho Richard biết mình có bầu. Tôi nói muốn đợi cho chắc. Ông ta tỏ ra vui mừng vừa đủ độ, và hôn lên trán tôi. “Bé ngoan,” ông ta nói. Tôi chỉ đang làm đúng nhiệm vụ giao cho mình.

Một điều lợi là từ giờ ông ta nghiêm ngặt để tôi yên khi đêm đến. Ông ta không muốn nhỡ tay làm hỏng cái gì, ông ta bảo. Tôi nói ông ta thật chu đáo quá. “Và từ giờ mợ sẽ phải kiêng gin. Tôi không cho phép càn quấy gì đâu nhé,” ông ta dứ ngón tay trước mặt tôi, một vẻ tôi thấy là hắc ám. Tôi thấy trong những phút bông lơn ông ta còn đáng ngại hơn tất cả những khi còn lại; cứ như xem một con thằn lằn đang nô giỡn. “Chúng ta sẽ mời bác sĩ hàng đầu,” ông ta thêm. “Tốn bao nhiêu cũng được.” Nhìn nhận sự việc dưới khía cạnh thương mại khiến cả hai chúng tôi đều bình tâm. Khi đã có tiền vào cuộc, tôi biết vị trí của mình: tôi là người mang một món hàng vô cùng đắt giá, đơn giản chỉ có thế.

Còn Winifred, sau tiếng thét nho nhỏ báo nỗi kinh hoảng chân thành là đến cơn xăng xái giả tạo. Thật tình là chị ta sợ hãi. Chị ta đoán (đúng) rằng làm mẹ một đứa con trai và một người nối dõi, hay chỉ là người nối dõi thôi cũng được, sẽ đưa tôi lên đẳng cấp cao hơn hẳn từ trước đến giờ trong mắt Richard, và cao hơn rất nhiều so với tôi đáng có. Thêm cho tôi, là bớt phần chị ta. Chị ta sẽ để tâm tìm cách hạ tôi xuống bậc cũ: tôi chuẩn bị tinh thần chị ta có thể tỉ mỉ đưa ra các phương án bày biện phòng trẻ bất cứ lúc nào.

“Khi nào tin mừng thành hiện thực đây?” chị ta hỏi, và tôi thấy trước sắp phải đón đợi một tràng rỉ rách những ngôn từ cưng nựng từ miệng chị ta. Từ giờ sẽ nghe liên thanh những thành viên mớimón quà của mười hai bà mụthiên thần nhỏ. Gặp những đề tài khiến chị ta bứt rứt, Winifred có thể trở nên rất cầu kỳ và quái tính.

“Tháng Tư, tôi nghĩ thế,” tôi nói. “Hoặc có lẽ tháng Ba. Tôi còn chưa đi khám.”

“Nhưng cô phải biết chứ,” chị ta nói và rướn cao mày.

“Đâu phải tôi nhiều kinh nghiệm lắm đâu,” tôi gắt trả. “Đâu phải là tôi dự tính. Chẳng qua là bất cẩn thôi.”

Tôi qua phòng Laura một buổi tối để báo cho nó cái tin đó. Tôi gõ cửa; không thấy nó trả lời, tôi khẽ đẩy cửa, nghĩ chắc nó còn ngủ. Nhưng nó không ngủ. Nó đang quỳ bên giường, mặc áo ngủ xanh, đầu cúi xuống, tóc xòa ra như dưới cơn gió bất động, tay vung ra hai bên như vừa bị đẩy ngồi xuống đó. Đầu tiên tôi nghĩ nó đang cầu nguyện, nhưng không phải, hoặc là tôi không nghe thấy. Khi cuối cùng cũng nhận thấy tôi, nó đứng dậy, thản nhiên như chỉ đang lau bụi, rồi ngồi xuống cái ghế trải khăn xếp nếp bên bàn phấn.

Như thường lệ, đập vào mắt tôi là mối tương phản giữa không gian quanh nó, không gian Winifred chọn cho nó - những hoa văn thanh tú, những nụ hồng bằng nơ, vải phin và diềm xếp nếp - với bản thân Laura. Chụp ảnh nhìn lên sẽ thấy rất hài hòa. Nhưng với tôi đôi bên bất xứng đến gần như siêu thực. Laura là viên đá lửa nằm giữa nệm bông kế.

Tôi nói đá lửa chứ không phải đá: có trái tim bằng lửa.

“Laura, chị muốn báo với em,” tôi nói. “Chị sắp sinh em bé.”

Nó quay lại nhìn tôi, khuôn mặt mịn trắng như lòng đĩa sứ, cảm xúc đóng kín bên trong. Nhưng nó không tỏ vẻ ngạc nhiên. Cũng không nói chúc mừng. Nó nói: “Nhớ con mèo con không?”

“Con mèo con nào cơ?” tôi hỏi.

“Con mèo con mẹ sinh ra ấy. Con đã làm mẹ chết ấy.”

“Laura, đấy có phải mèo con đâu.”

“Em biết,” Laura nói.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.