Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THƯỢNG ĐÔ

❊ ❊ ❊

Đêm qua tôi mơ mình đang mặc bộ đồ trong vũ hội Thượng Đô. Tôi được phân vai cô thiếu nữ Abyssinia - cô gái chơi huyền cầm. Bộ đồ xa tanh màu xanh: áo khoác lửng viền trang kim vàng, phô rãnh ngực và hở bụng khá thoải mái; quần ngắn bằng xa tanh xanh mặc trong quần phồng bán trong suốt. Chuỗi đồng tiền vàng giả rất dài đeo cổ và quấn ngang trán. Khăn bịt đầu nhỏ nghịch ngợm cài ghim hình lưỡi liềm. Mạng che mũi. Hình dung về phương Đông của một lão vẽ phục trang gánh xiếc ưa lòe loẹt.

Tôi nghĩ diện vào trông mình khá ngon mắt, đến khi nhận ra, lúc nhìn xuống cái bụng chảy xệ, những khớp đốt ngón sưng phồng mạch máu nổi xanh, hai cánh tay quắt queo, rằng tôi không ở tuổi tôi hồi ấy, mà ở tuổi bây giờ.

Tuy nhiên tôi không ở vũ hội. Tôi ở một mình, hoặc ít nhất ban đầu tưởng thế, trong nhà kính bỏ hoang ở Avilion. Chậu rỗng đó đây vứt bừa bãi, chậu nào không rỗng thì đầy đất cằn và cây chết. Một trong hai con nhân sư đá nằm lăn trên sàn, đổ nghiêng, cả người nhằng nhịt vết bút dạ - tên tuổi, chữ tắt, hình vẽ bậy. Trên mái kính thủng một lỗ tướng. Khắp nơi sặc sụa mùi mèo.

Nhà chính đằng sau tôi thì tối và hoang vắng, mọi người trong nhà đã bỏ đi cả. Tôi bị bỏ rơi ở đây trong bộ cánh hóa trang ngớ ngẩn này. Đang là đêm, trăng mỏng như móng tay. Trong ánh trăng tôi thấy hóa ra vẫn còn một cây duy nhất sống: một bụi cây gì đó lá bóng, có một bông hoa màu trắng. Laura, tôi gọi. Từ trong bóng tối, có tiếng đàn ông rộ cười.

Thế cũng gọi là ác mộng, chắc người đọc đến đây sẽ bảo. Nhưng cứ thử xem. Tôi tỉnh dậy rã rời xương tủy.

Vì sao trí óc phải bày trò như thế? Nhảy xổ vào ta, cắn xé, cắm vuốt vào ta. Đến lúc quá đói, người ta bảo, ta sẽ ăn chính trái tìm mình. Có thể đây cũng là như thế.

Vớ vẩn. Chỉ là phản ứng hóa học thôi. Tôi phải hành động thôi, phải trấn áp mộng mị kiểu này. Chắc phải có thuốc gì chứ.

Hôm nay tuyết dày hơn. Nhìn ra cửa sổ thấy tuyết là ngón tay tôi đã nhức. Tôi ngồi viết bên bàn bếp, chậm như khắc gỗ. Bút trở nặng, khó đẩy đi, như đinh mài mặt xi măng.

Tháng Tám năm 1935. Sức nóng rút lui cho giá lạnh tiến chiếm. Sương giá đóng trên lá rụng, rồi trên lá chưa kịp rụng. Rồi trên cửa sổ. Hồi đó tôi lấy những chuyện nhỏ nhặt ấy làm vui. Tôi thích hít vào thật sâu. Khoảng không trong phổi của riêng mình tôi thôi.

Trong lúc đó mọi sự vẫn tiếp diễn.

Cái mà Winifred giờ gọi là “chuyến phiêu lưu nhỏ của Laura” được hết sức che đậy. Richard bảo nếu nó kể ra cho bất kỳ ai, đặc biệt là ở trường, chắc chắn sẽ đến tai ông ta và đó sẽ được coi là hành vi tấn công trực diện ông ta, chưa kể là mưu đồ phá hoại. Ông ta đã thu xếp xong phía báo chí: cần bằng cớ ngoại phạm thì đã có nhà Newton-Dobbs, một cặp vợ chồng trong số các chiến hữu mũ cao áo dài của ông ta - ông chồng có ghế trong một hãng xe lửa - họ sẵn sàng thề độc rằng Laura ở với họ từ đầu chí cuối trong nhà nghỉ ở Muskoka. Kế hoạch quyết định quá sát giờ, và Laura cứ nghĩ nhà Newton-Dobbs đã gọi báo chúng tôi còn nhà kia lại nghĩ Laura đã báo, tóm lại chẳng qua là chuyện hiểu lầm vặt, và cả ba đâu có biết Laura bị coi là mất tích bởi đi nghỉ thì có ai quan tâm nghe tin tức đâu.

Câu chuyện cũng hợp lý lắm. Nhưng người ta vẫn tin, hoặc buộc phải giả vờ có tin. Tôi nghi nhà Newton-Dobbs đã phát tán câu chuyện thật trong số chừng hai chục bằng hữu chí thiết nhà họ, bí mật nhé đừng kể với ai, mà điều đó hẳn chính Winifred cũng làm nếu ở địa vị họ, chuyện đàm tiếu cũng là mặt hàng giá trị như tất cả. Nhưng ít nhất nó không bao giờ lên mặt báo.

Laura được nhồi vào váy ca rô rất ngứa cùng ca vát sọc và đẩy thẳng tới trường nữ sinh Thánh Cecilia. Nó chẳng hề giấu giếm nỗi căm ghét trường này. Nó nói việc gì phải tới trường; nó nói đã từng làm việc rồi nó có thể kiếm được việc khác. Nó nói với tôi, ngay trước mặt Richard. Nó không bao giờ nói trực tiếp với ông ta.

Nó liên tục cắn ngón tay, nó không chịu ăn, nó gầy trông thấy. Tôi khổ sở lo âu vì nó, như người ta muốn tôi phải thế, và nói cho đúng, như tôi cần phải thế. Nhưng Richard bảo đã chán ngấy trò rồ dại nhăng cuội này rồi, còn chuyện việc làm, đừng nói thêm cho rác tai ông ta. Laura quá nhỏ không thể thả rông cho tự lập được, thế nào cũng rơi vào một chuyện bất tường nào đó, ngoài đường đầy những kẻ kiếm ăn bằng cách rình mò những đứa con gái ngô nghê như nó. Nếu không thích trường đó, nó có thể đi học ở một trường khác, xa hơn, ở thành phố khác, và nếu còn bỏ trốn khỏi đó nữa ông ta sẽ tống nó vào nhà cải tạo thanh nữ cho sống chung với lũ tội phạm vị thành niên khác, mà nếu thế vẫn chưa xong thì vẫn còn bệnh viện. Một bệnh viện tư, cửa sổ lắp chấn song: nó thích áo vải gai và tro thì tha hồ cho nó hài lòng. Nó chưa thành niên, còn ông ta có uy quyền, và đừng tưởng lầm, ông ta bảo sao là sẽ làm đúng thế. Nó biết đấy - và ai cũng biết - ông ta nói lời sẽ giữ lời.

Ông ta có tật lồi mắt ra khi nổi giận, và lúc này mắt ông ta đang lồi ra, nhưng vẫn nói năng bằng giọng nhẹ nhàng, đáng tin, và Laura tin, và khiếp sợ. Tôi cố chen ngang - dọa dẫm như thế ác nghiệt quá, ông ta không hiểu Laura và không hiểu nó luôn tin vào nghĩa đen - nhưng ông ta bảo tôi xê ra. Cần một bàn tay cứng rắn. Laura đã được ru vỗ quá nhiều. Đã đến lúc nó cần uốn nắn.

Nhiều tuần trôi qua, tình trạng đình chiến bấp bênh dần thiết lập. Tôi cố gắng sắp xếp việc nhà sao cho hai người bọn họ không bao giờ đụng độ. Chạm mặt càng ít càng hay, ấy là điều tôi mong muốn.

Winifred cũng có thò tay bẻ lái vụ này, cố nhiên. Hẳn chị ta đã bảo Richard phải giữ lập trường, bởi để Laura cũng như nuôi cáo trong nhà, phải có rọ mõm.

Richard hỏi ý Winifred về từng chuyện nhỏ, bởi chỉ có chị ta là thông cảm với ông ta, chống lưng ông ta và cổ vũ trong mọi sự. Chính chị ta đã dựng ông ta lên trong giới giao tế, hướng ông ta quan tâm tới các mảng chị ta coi là cần thiết. Lúc nào thì đặt chân vào cuộc đua vào Nghị viện? Bây giờ thì chưa, chị ta thì thầm vào bất cứ cái tai nào ông ta chìa ra - thời cơ chưa chín - nhưng sắp rồi. Cả hai bọn họ đều cho Richard là lãnh tụ tương lai, và bóng dáng người đàn bà đằng sau - chẳng phải mỗi đàn ông thành đạt đều có? - là chị ta.

Rõ ràng không thể là tôi. Tương quan vị trí của hai chúng tôi giờ đã định hình, chị ta và tôi; hoặc có thể chị ta đã xác định từ đầu, nhưng giờ tôi cũng dần nhận thức được. Chị ta cần thiết cho Richard, tôi ngược lại có thể thay bất cứ lúc nào. Việc của tôi là giạng chân ra và ngậm miệng lại.

Nếu nghe có vẻ tàn nhẫn, thì đấy là vì đúng thế. Nhưng cũng không phải trái lệ thường.

Winifred cần kiếm việc cho tôi lúc ban ngày: chị ta không muốn tôi phát dại vì buồn chán, không muốn tôi rơi qua mép vực lý trí. Chị ta vắt óc đẻ ra những nhiệm vụ vô nghĩa cho tôi, rồi sắp xếp lại thời gian không gian để tôi rảnh rỗi mà thực hiện. Những nhiệm vụ đó chẳng bao giờ quá tỉ mỉ, bởi chị ta chẳng hề giấu quan điểm rằng tôi chẳng qua là một con vật cảnh ngu đần. Về phía mình tôi cũng không cố gắng làm chị ta suy nghĩ khác.

Từ đó mà có vũ hội từ thiện ủng hộ Cô nhi viện trung tâm, do chị ta điều phối. Chị ta đưa tôi vào danh sách ban tổ chức, không chỉ để tôi phải ngọ nguậy chân tay mà còn vì như thế sẽ sang hơn cho Richard. “Ban tổ chức” chỉ là trò đùa, chị ta còn không cho là tôi tổ chức nổi cái tủ giày của mình, vậy thì trộn được đỗ gì cho tôi nhặt đây? Viết phong bì, đấy là đáp án của chị ta. Chị ta đoán đúng, cái này tôi làm được. Tôi còn làm tốt là khác. Tôi lại chẳng cần động não, và có thể dành đầu óc nghĩ về cái khác, (“Ơn trời cô ả cũng có được một cái tài,” tôi gần như nghe thấy được chị ta kể với các bạn Billie và Charlie bên bàn bài. “Ôi nhầm - hai cái chứ!” Từng chặp cười hô hố.)

Cô nhi viện trung tâm, nhằm hỗ trợ trẻ con đường phố, là cục cưng của Winifred - hay ít nhất vũ hội hàng năm là như vậy. Đấy là một vũ hội hóa trang - mọi cuộc gây quỹ kiểu này nói chung đều thế, bởi thời đó người ta khoái hóa trang. Khoái hóa trang cũng ngang với khoái đồng phục. Hai thứ có chung một mục tiêu: để tránh phải làm chính mình, người ta giả vờ làm kẻ khác. Người ta có thể lớn hơn và hùng mạnh hơn, hay quyến rũ và huyền bí hơn, chỉ nhờ đắp lên người những áo quần lạ mắt. Nghĩ thế cũng ít nhiều có lý.

Winifred lập một ủy ban chỉ đạo vũ hội, nhưng ai cũng biết mọi quyết định quan trọng là do chị ta một tay đưa ra cả. Chị ta phất cờ còn những kẻ khác chạy theo. Chính chị ta đã chọn chủ đề cho năm 1936 - “Thượng Đô”. Kình địch của chị ta, Vũ hội mỹ thuật mới đây vừa chọn “Vua Timur xứ Samarqand” và thành công rực rỡ. Chủ đề Đông phương chẳng bao giờ lỗi mốt, và ắt hẳn mọi người đều phải học thuộc “Hốt Tất Liệt”[1] ngày đi học, thế nên kể cả các luật sư - kể cả bác sĩ - kể cả giới nhà băng cũng phải biết Thượng Đô là gì. Vợ họ thì biết là cái chắc.

Hốt-Tất-Liệt mến Thượng-Đô tiên-cảnh,

Chọn đất lành xây thưởng-lạc-cung

Trên đất ấy sông thiêng Alph chảy

Qua triền-miên vô-để-động trập-trùng

Xuống biển vô-minh không động ánh dương hồng.

Winifred đã cho đánh máy toàn bộ bài thơ và sao ra gửi đi khắp ủy ban - để ý tưởng có thời gian thẩm thấu, chị ta nói thế - và ý kiến đóng góp của chúng tôi sẽ được đón nhận nhiệt tình, dù chúng tôi đều biết trong đầu chị ta đã chốt xong từng chi tiết. Bài thơ sẽ xuất hiện cả trên tấm thiệp in nổi nữa - chữ dát vàng, viền mép hàng chữ Ả Rập màu vàng và xanh ngọc. Có ai hiểu những chữ ấy nói gì không? Chả ai hiểu, nhưng trông cũng vui mắt ra phết.

Những sự kiện này chỉ dành cho người được mời thôi. Ai được mời thì lộn trái túi áo ra mà trả tiền, nhưng phạm vi thì cực kỳ hẹp. Danh sách khách mời trở thành đề tài gây nhiều chờ đợi và xao xuyến, dù chỉ trong những ai còn ngờ vực vẻ vị thế của mình. Đợi giấy mời rồi không có cũng chẳng khác nào rơi vào luyện ngục. Tôi nghĩ không ít nước mắt đã đổ ra vì mấy mảnh giấy này, nhưng đều kín đáo - trong giới đó, tuyệt đối không bao giờ được tỏ ra bận tâm.

Cái thần kỳ của Thượng Đô (Winifred nói, sau khi đã ngâm toàn bài thơ bằng chất giọng uýt ki của mình - ngâm cực kỳ hay, tôi thừa nhận) - cái thần kỳ ở đây là với chủ đề ấy người ta có thể hở hang hay kín đáo bao nhiêu tùy thích. Các bà phệ có thể quấn hàng lớp vải thêu kim tuyến, các nàng mình dây có thể đóng vai vũ nữ Ba Tư hay nữ nô và khoe đủ thứ trừ cái bàn là Liên Xô. Váy mỏng tang, lắc tay, vòng mắt cá lanh canh - các khả năng mở ra vô cùng tận, còn đàn ông dĩ nhiên sẽ khoái ăn mặc giả làm Thổ quan và vờ như có cả một hậu cung trong nhà. Mặc dù có lẽ chẳng thuyết phục nổi ai đóng vai hoạn quan đâu, chị ta thêm, kéo theo vài tiếng hí hí hưởng ứng.

Laura còn nhỏ quá không được tham gia. Winifred đang chuẩn bị buổi ra mắt cho nó, một nghi lễ trưởng thành còn chờ diễn ra, và chưa đến ngày đó thì nó còn chưa được coi là đủ tuổi. Tuy nhiên nó khá quan tâm tới công tác thực hiện vũ hội. Tôi nhẹ cả lòng khi thấy nó lại bắt đầu quan tâm đến thứ gì đó. Bài học ở trường thì dĩ nhiên nó không quan tâm rồi: điểm số của nó thiếu điều chạm đáy.

Cần đính chính: không phải nó quan tâm đến công tác vũ hội, mà là đến bài thơ. Tôi đã thuộc bài thơ từ lâu, nhờ cô Hung Dữ, hồi ở Avilion, nhưng Laura độ đó chẳng ỏ ê đến mấy. Bây giờ thì nó đọc đi đọc lại.

Yêu hồn tình lữ là gì, nó hỏi? Thế nào là biển vô minh, thế nào là vô sinh hải? Tại sao thưởng lạc cung đầy nắng lại có động băng? Núi Abora là gì, tại sao cô thiếu nữ Abyssinia lại hát về nó? Vì sao tiếng tổ tông lại tiên báo chiến tranh?

Lúc ấy tôi không biết trả lời những câu hỏi đó thế nào. Giờ thì tôi biết hết rồi. Không phải những câu trả lời Samuel Taylor Coleridge sẽ đưa ra - tôi cũng không biết ông ta có câu trả lời nào không, lúc đó đầu óc ông ta còn đang mụ mị vì thuốc - mà là những câu trả lời của riêng tôi. Chúng thế này, dù được bao nhiêu giá trị.

Con sông thiêng sống. Nó chảy tới biển vô sinh, bởi mọi vật sống rốt cuộc đều đi về đó. Người tình là yêu hồn bởi anh ta không có mặt. Thưởng lạc cung ngập nắng có động băng bởi thường lạc cung nào cũng như thế tất - chẳng mấy chốc chúng sẽ lạnh giá, và rồi thì tan ra, rồi thì anh sẽ ra sao? Ướt sũng. Núi Abora là nhà của thiếu nữ Abyssinia, cô ta hát về nó bởi cô ta không còn cách trở về. Tiếng tổ tông đi tiên báo chiến tranh bởi tiếng tổ tông chẳng bao giờ chịu ngậm mồm, mà họ ghét đoán sai, còn chiến tranh thì chắc chắn sẽ đến, dù sớm hay muộn.

Nếu tôi sai thì sửa đi.

Tuyết rơi, ban đầu nhẹ, rồi thành từng thỏi cứng chích vào da như kim châm. Mặt trời lặn từ chiều, trời chuyển từ màu máu đã gột sạch sang màu sữa không béo. Khói tuôn ra miệng các ống, từ các lò lèn đầy than. Ngựa kéo xe bánh mì để rơi từng bãi nâu bốc khói trên đường, nháy mắt đã đông cứng. Trẻ con bóc ra ném nhau. Đồng hồ gõ nửa đêm, hết lần này qua lần khác, nửa đêm nào cũng hun hút màu xanh đen lấm chấm sao buốt giá, trăng trắng bạch như xương. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ phòng ngủ, nhìn xuống vệ đường, qua tán cây dẻ. Rồi tắt đèn.

Vũ hội Thượng Đô tổ chức vào thứ Bảy tuần thứ hai tháng Giêng. Trang phục của tôi vừa đến sáng hôm ấy, trong hộp nhồi hàng vốc giấy mềm. Khôn ngoan thì hãy thuê đồ ở hàng Malabar, bởi đặt may bộ riêng là tỏ ra quá bỏ công vì nó. Giờ đã gần sáu giờ và tôi đang thử đồ. Laura ở trong phòng tôi: nó vẫn làm bài ở đó, hoặc làm ra bộ làm bài. “Chị đóng vai gì?” nó hỏi.

“Thiếu nữ Abyssinia,” tôi nói. Lấy cái gì làm huyền cầm tôi vẫn chưa nghĩ ra. Có thể lấy cây banjo, thắt vài cái nơ. Rồi tôi nhớ ra cây banjo duy nhất tôi biết thì đã ở Avilion, trên gác mái, của các ông chú quá cố bỏ lại. Sẽ phải bỏ qua đàn thôi.

Tôi không chờ đợi Laura khen tôi đẹp, hoặc thậm chí xinh. Nó chẳng bao giờ nói thế: xinh hay đẹp không thuộc các phạm trù tư duy của nó. Lần này nó bảo, “Chị trông chẳng ra vẻ Abyssinia lắm. Người Abyssinia đâu có tóc vàng.”

“Màu tóc thì chị làm gì được,” tôi nói. “Lỗi tại Winifred chứ. Lẽ ra chị ta nên chọn người Viking hay gì đó.”

“Sao họ lại sợ anh ta?” Laura hỏi.

“Sợ ai cơ?” tôi hỏi. (Tôi chưa nghĩ đến cái sợ trong bài thơ, chỉ nghĩ đến thưởng lạc. Đến thưởng-lạc-cung. Thưởng lạc cung là nơi tôi thực sự đang sống lúc này - nơi tôi cất cái tôi thực của mình, xung quanh không ai biết. Bao quanh có tường tháp, không cho ai khác vào.)

“Chị nghe này,” nó nói. Nó nhắm mắt đọc thuộc lòng:

Giá hồn này tái-tạo

Điệu cầm-ca của nàng,

Tâm này thêm hoan-hỉ

Cao-tấu nhạc rền vang

Giữa không-trung thoắt dựng

Động băng cùng lạc-cung!

Ai nghe mắt sẽ thấy

Và thét lớn: Coi chừng!

Mắt chàng nhấp-nhoáng!

Tóc chàng xõa tung!

Hãy kết ba vòng vây bủa lại

Mắt nhắm nghiền kính sợ hãi-hùng

Vì chàng đã nếm cam-lộ-mật,

Và lót lòng sữa của Thiên-cung.

“Thấy chưa, họ sợ anh ta,” nó nói, “nhưng tại sao? Sao lại Coi chừng?”

“Thực tình thì, Laura ạ, chị chẳng biết đâu,” tôi nói. “Đấy chỉ là thơ thôi mà. Chẳng ai biết được thơ ca có nghĩa gì. Có thể họ nghĩ anh ta bị điên.”

“Đấy là vì anh ta quá sung sướng,” Laura nói. “Anh ta đã uống sữa Thiên cung. Người ta thường khiếp sợ khi thấy ai đó quá sung sướng, theo lối đó. Chẳng phải đấy là lý do à?”

“Laura, đừng dồn chị,” tôi nói. “Đâu phải cái gì chị cũng biết, chị có phải thầy giáo đâu.”

Laura đang ngồi trên sàn, mặc váy đồng phục. Nó ngậm khớp đốt tay, mắt nhìn tôi, cụt hứng. Dạo này tôi làm nó cụt hứng thường xuyên. “Hôm trước em vừa thấy Alex Thomas,” nó nói.

Tôi ngoảnh đi thật nhanh, chỉnh lại mạng trong gương. Hiệu ứng khá tệ, cái xa tanh xanh này: trông như ả nhà trò Hollywood đóng phim sa mạc. Tôi tự an ủi bằng ý nghĩ ai nấy trông cũng sẽ rởm vậy hết. “Alex Thomas? Thật à?” tôi nói. Đáng ra tôi phải tỏ ra ngạc nhiên hơn.

“Sao, chị không vui à?”

“Vui gì cơ?”

“Vui là anh ấy còn sống,” nó nói. “Vui là chúng chưa tóm được.”

“Tất nhiên là chị vui rồi,” tôi nói. “Nhưng đừng nói gì với ai. Kẻo chúng sẽ dò ra được.”

“Chị không phải dặn em. Em có phải con nít đâu. Thế nên em đâu có vẫy anh ấy.”

“Anh ấy có thấy em không?” tôi hỏi.

“Không. Anh ấy đi trên phố. Anh ấy bẻ cổ áo khoác dựng lên và kéo khăn quấn cằm, nhưng em vẫn biết là anh ấy. Anh ấy cho tay trong túi.”

Khi nghe thấy nói đến tay, đến túi, có cơn đau buốt dội qua tôi. “Phố nào thế?”

“Phố nhà mình,” nó nói. “Anh ấy đứng bên kia đường, nhìn sang dãy nhà bên này. Em nghĩ anh ấy tìm chúng mình. Chắc anh ấy biết chúng mình sống ở khu này.”

“Laura,” tôi nói, “em vẫn còn mê Alex Thomas đấy à? Nếu còn thì em phải cố vượt qua đi.”

“Em không mê anh ấy,” nó khinh bỉ nói. “Em chưa bao giờ mê. là một chữ rất xấu. Một chữ rất tởm.” Nó đã bớt sùng đạo từ khi đi học, nói năng cũng bừa bãi hơn nhiều. Tởm là đang theo chiều đi lên.

“Gọi là gì cũng được, em phải cố quên đi. Không có tương lai đâu,” tôi dịu dàng nói. “Sau này sẽ chỉ làm em buồn thôi.”

Laura vòng tay ôm đầu gối. “Buồn à,” nó nói. “Chị thì biết quái gì là buồn?”

[1] “Kubla Khan”, 1797 của Samuel Taylor Coleridge viết trong lúc say thuốc phiện, được coi là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Lãng mạn Anh. Coleridge đọc về Thượng Đô, hành cung mùa hè của Hốt Tất Liệt, trong sách của Marco Polo dưới tên Xanadu.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.