Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CÁI HỘP BẠC

❊ ❊ ❊

Uất kim hương màu cam đang nhú, quặt quẹo tơi tả như những kẻ lẽo đẽo rớt sau đội quân đang trở về. Tôi nhẹ cả người đón chào chúng, như người đứng trong tòa nhà bị bom phá nát mà vẫy tay; tuy nhiên chúng phải tự cựa lấy đường mà ra, tôi không giúp được nhiều. Đôi khi tôi vầy vọc trong phế địa vườn sau, dọn dẹp cuộng hoa tàn hay lá rụng, nhưng chỉ được đến thế là hết. Tôi không quỳ được nhiều nữa, không thể thọc tay vào đất.

Hôm qua tôi đi khám bệnh, kiểm tra xem mấy cú váng đầu dạo này là sao. Bác sĩ bảo tôi bị tim, như cách nói ngày trước, cứ như những người khỏe mạnh thì không có tim. Xem ra là rốt cuộc không phải tôi sẽ cứ thế sống mãi, chỉ quắt lại, xám thêm và bụi bặm hơn, như bà đồng trong chai. Đã thầm nhủ tôi muốn chết từ rất lâu về trước, giờ đây tôi nhận thấy rồi mình quả thật sẽ được toại nguyện, và sớm chứ không còn muộn. Không thèm biết tôi đã đổi ý đến đâu.

Tôi đã quấn mình trong tấm khăn để ra ngồi ngoài sân, náu dưới mái chìa ngoài hiên sau, bên cái bàn gỗ sứt sẹo nhờ Walter bê từ ga ra vào. Cái ga ra, như thường thấy, chất đầy di vật từ những người chủ trước: bộ bình sơn đủ màu đã khô, đống đá cuội nhựa đường, lọ gần đầy đinh đã gỉ, cuộn dây thép mỏng. Xác ướp chim én, đệm ruột bông cho chuột làm nhà. Walter đã giặt bằng nước Javex, nhưng nó vẫn bốc mùi chuột.

Bày trước mặt tôi có tách trà, quả táo bổ làm tư, tập giấy dòng kẻ ngang màu xanh, như pyjama đàn ông hồi xưa. Tôi cũng đã mua bút mới, rẻ tiền, vỏ nhựa đen, ngòi bi. Tôi vẫn nhớ cái bút mực đầu tiên, cầm trơn bóng, mực dây ra ngón tay xanh xanh. Hiệu Bakelite, đai bạc. Là năm 1929. Tôi mười ba tuổi. Laura đã mượn - mà không hỏi, cũng như với bất kỳ thứ gì khác - rồi làm gãy, dễ như không. Tôi tha thứ cho nó, tất nhiên. Tôi luôn luôn tha thứ; tôi buộc phải tha thứ, bởi chỉ còn có tôi với nó. Có tôi với nó trên hòn đảo giữa rào cây gai, chờ giải thoát; trên đất liền, tất cả mọi người còn lại.

Tôi viết cái này cho ai đây? Cho mình? Chắc là không phải. Tôi không thể hình dung mình đọc lại nó sau này, cái sau này đã trở thành không chắc chắn. Cho một người lạ mặt, trong tương lai, khi tôi đã chết? Tôi không có tham vọng, hay hy vọng nào như vậy.

Có thể tôi viết chẳng cho ai. Có thể cho cái người như khi trẻ con viết, khi chúng vạch tên trên nền tuyết.

Tôi không còn nhanh nhẹn như trước. Ngón tay đã cứng lại còng queo, cây bút rung rẩy đâm xiên xẹo, phải mất rất lâu mới hoàn thành một chữ. Nhưng tôi vẫn ngoan cường viết, người gập lại như đang thêu dưới ánh trăng.

Nhìn vào gương tôi thấy một bà già; hoặc không phải già, bởi ngày nay người ta không được phép già nữa. Cao tuổi vậy. Đôi lúc tôi thấy một bà cao tuổi có lẽ trông giống bà nội tôi không bao giờ gặp, hoặc giống mẹ tôi, nếu mẹ gắng sống được đến tuổi này. Nhưng đôi khi tôi lại thấy khuôn mặt cô gái trẻ ngày trước tôi từng bỏ bao nhiêu công sang sửa và phỉ nhổ, đã chìm mà vẫn bập bềnh ngay dưới khuôn mặt hiện thời, cái khuôn mặt - nhất là vào buổi chiều, khi ánh sáng chiếu xiên xiên - lỏng lẻo và trong suốt đến nỗi tôi có thể lột ra như cởi tất.

Bác sĩ nói tôi cần đi bộ - hằng ngày, anh ta bảo, để tập cho tim. Tôi thì không muốn. Chuyện đi lại không làm tôi băn khoăn, nhưng ra khỏi nhà thì có: tôi luôn cảm thấy mình bị phơi bày. Có phải tôi tưởng tượng ra, ánh nhìn soi mói, tiếng xì xầm? Có thể, mà cũng có thể không. Suy cho cùng tôi là một cảnh quan địa phương, như lô đất trống gạch vứt bừa ngày xưa từng là tòa nhà quan trọng.

Ở lại trong nhà cám dỗ hơn nhiều, náu mình trong cảnh ẩn dật vẫn khiến trẻ con hàng xóm giễu cợt và ít nhiều kinh khiếp; mặc hàng giậu và sân cỏ mọc tràn, mặc cửa nhà gỉ không mở được, nằm trên giường trong một thứ áo chùng nào đó mặc cho tóc mọc dài kín gối và móng tay quặp thành vuốt nhọn, trong khi sáp nến nhỏ đầy thảm. Nhưng từ ngày xưa tôi đã chọn lựa dứt khoát giữa chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa lãng mạn. Tôi muốn đứng thẳng và kiểm soát - một bình tro giữa ban ngày.

Có thể chuyển lại về đây sống không phải ý hay. Nhưng hồi đó tôi chẳng nghĩ ra nơi nào khác mà đi. Như Reenie từng nói, Ma quen hơn quỷ lạ.

Hôm nay tôi đã cố. Tôi ra ngoài, tôi đi bộ. Tôi đi đến tận nghĩa trang: cũng cần có cái đích cho những cuộc thăm thú mà nếu không sẽ trở thành ngớ ngẩn. Tôi đội mũ nan rộng vành cho bớt lóa, mang kính râm, và gậy chống để dò mép vệ đường. Cả túi nhựa đi chợ nữa.

Tôi đi theo phố Erie, qua một hiệu giặt khô, một hiệu ảnh chân dung, vài cửa hàng mặt phố đã sống sót qua nạn mất khách vì các trung tâm thương mại biên thị trấn. Rồi là Quán điểm tâm Betty, đã lại thay chủ mới: sở hữu chủ của nó không sớm thì muộn lại chán, hoặc lăn ra chết, hoặc chuyển đi Florida. Betty giờ có một khoảnh vườn nhỏ, cho khách du lịch ngồi phơi nắng tới độ cháy giòn tan; vườn ở sân sau, khoảnh sàn xi măng vỡ lúc trước chuyên để thùng rác. Cửa hàng có tortellini và cappuccino, quảng cáo hùng hồn trên cửa sổ cứ như dân thị trấn đương nhiên phải biết đấy là những gì. Mà giờ họ cũng biết; họ đã thử qua, dù chỉ để có quyền cười khẩy. Tôi không cần đánh bọt trên cà phê kiểu đó. Trông cứ như kem cạo râu. Nuốt một miếng là miệng sùi đầy bọt.

Bánh tạc gà đã từng là đặc sản quán, nhưng mất tích lâu rồi. Giờ chỉ có hamburger, nhưng Myra đã nhắc tránh xa. Cô bảo họ dùng nhân đông lạnh sẵn bằng mạt thịt. Mạt thịt, cô nói, là thứ người ta cào khỏi sàn sau khi xẻ bò đông lạnh bằng cưa điện. Cô đọc rất nhiều tạp chí, mỗi khi đi làm đầu.

Nghĩa trang có cổng sắt uốn, một vòm hoa văn tinh xảo bên trên, khắc dòng chữ: Dù Đi Qua Thung Lũng Bóng Tử Thần Con Cũng Không Sợ Sự Dữ, Bởi Có Người Ở Cùng Con. Tất nhiên, có hai người sẽ mang lại cảm giác an toàn giả tạo, nhưng Người là một nhân vật trơn như lươn. Mọi Người tôi biết đều có đường mất tích riêng. Họ đào thoát khỏi trấn, hay bội tín, hoặc rơi rụng như ruồi, và rồi thì ta ở đâu?

Ở chính nơi này.

Đài tưởng niệm dòng họ Chase đập ngay vào mắt: nó cao vượt lên trên tất cả. Có hai thiên thần, bằng cẩm thạch trắng, kiểu thời Victoria, sướt mướt nhưng khá tinh xảo như loại này luôn thế, đặt trên bệ đá to bốn góc chạm hoa văn cuộn. Thiên thần thứ nhất đứng, đầu gục sang bên dáng khóc thương, một tay âu yếm đặt lên vai thứ hai. Thiên thần thứ hai quỳ, dựa vào đùi thiên thần thứ nhất, nhìn thẳng trước mặt, ẵm bó hoa huệ trong lòng. Thân thể cả hai đều rất đoan trang, mọi đường nét đều lẩn trong nếp áo khoáng thạch buông nhẹ nhàng nhưng bất khả xuyên thủng, nhưng vẫn nhận ra được là nữ giới. Mưa a xít đang bào mòn chúng; hai đôi mắt từng tinh anh đã mờ đi, hiền hòa và rỗ, cứ như mắc bệnh đục thủy tinh thể. Nhưng có thể chỉ là chính mắt tôi đã mờ đi.

Laura và tôi ngày trước thường tới đây. Chúng tôi được Reenie đưa đến, vì không hiểu sao chị chủ trương đi thăm mồ dòng họ có tác dụng tốt cho trẻ, còn sau thì tự đi: muốn chuồn ra ngoài thì lấy cớ càng mộ đạo càng dễ được chấp thuận. Ngày còn nhỏ, Laura thường bảo hai thiên thần đó ý nói chúng tôi đấy, hai chị em tôi. Tôi bảo làm sao thế được, bởi hai thiên thần là do bà nội đặt từ trước khi chúng tôi sinh. Nhưng Laura không bao giờ chú ý đến những lập luận kiểu ấy. Nó quan tâm đến hình thức hơn - đến những gì tự thân chứa trong sự vật, chứ không phải những gì không có trong chúng. Nó muốn biết bản chất.

Sau nhiều năm tôi đã tập thói quen tới đây ít nhất hai lần một năm, để quét tước, nếu không vì lý do nào khác. Ngày xưa tôi lái xe đến, nhưng giờ thì thôi rồi: mắt tôi giờ đã quá yếu. Tôi khó nhọc cúi xuống nhặt bỏ hết hoa héo đã tích lại đó, của những người hâm mộ vô danh, nhồi vào cái túi ni lông. Dạo này ít hoa viếng hơn trước, dù vẫn khá nhiều. Hôm nay vài bó vẫn còn tươi. Đôi lúc tôi còn bắt gặp nén hương, hay cả nến, như có ai tìm cách gọi hồn Laura về lại.

Sau khi đã xử lý xong đám hoa hoét tôi đi vòng quanh đài tưởng niệm, đọc lướt danh sách những người nhà Chase đã hết số khắc trên các mặt bệ đá. Benjamin Chase Và Vợ Thân Yêu Là Adelia; Norval Chase Và Vợ Thân Yêu Là Liliana. Edgar Và Percival, Họ Sẽ Không Già Đi Như Chúng Ta Những Kẻ Bị Bỏ Lại.

Và Laura, còn lại ở đây cũng nhiều như bất kỳ đâu. Bản chất của Laura.

Mạt thịt.

Trên báo thị trấn tuần trước đăng ảnh nó, kèm theo tin về giải thưởng - tấm ảnh chính thức, tấm ảnh bìa sách, tấm ảnh duy nhất được in vì là tấm duy nhất tôi cho họ. Đấy là một tấm chân dung chụp hiệu, nửa người trên quay đi khỏi máy, đầu ngoảnh lại để tạo nét cong duyên dáng nơi cổ. Thêm chút nữa nào, giờ nhìn lên, nhìn tôi đây, ngoan lắm, bây giờ cười lên xem nào. Mái tóc dài màu vàng, giống tóc tôi hồi đó - rất nhạt, gần như trắng, như sắc đỏ đã bị gột đi sạch - sắt, đồng, mọi thứ kim loại nặng. Cái mũi thẳng, khuôn mặt hình tim; đôi mắt to, sáng, vô tội; lông mày cong vút, đầu mày hơi nhếch tạo cảm giác đang bối rối. Quai hàm có nét bướng bỉnh, nhưng chỉ ai biết trước mới nhận thấy. Không phấn không son, làm khuôn mặt có vẻ trần trụi lạ lùng: khi nhìn vào miệng, người ta biết đang nhìn vào da thịt.

Xinh lắm, đẹp nữa là khác; sạch sẽ đến nao lòng. Hình quảng cáo xà phòng, thành phần từ thiên nhiên. Khuôn mặt không nói lên gì cả: nó có cái vẻ bất khả xâm phạm trống rỗng, làm bộ của mọi cô bé con nhà gia giáo đương thời. Tấm bảng còn trắng, không chờ được viết, mà chờ được viết vào.

Chỉ còn cuốn sách khiến nó được người ta nhớ đến.

Laura về trong một cái hộp nhỏ màu bạc, như hộp xì gà. Tôi biết thị trấn bình phẩm ra sao, biết rõ như tự mình đi nghe lén. Tất nhiên không hẳn là cô ta, chỉ là tro xương. Chẳng ai nghĩ nhà Chase lại đi thiêu xác, trước đây chưa bao giờ, trong thời hoàng kim họ chẳng thèm dùng cách đó, nhưng có vẻ lần này tốt nhất là làm nốt cho xong, đằng nào cô ta cũng gần cháy sạch rồi. Tuy thế, tôi cho là nhà ấy nghĩ cô ta phải ở với gia đình. Muốn cô ta về cái đài to đùng có hai thiên thần ấy. Chẳng ai làm hai, nhưng lúc đó tiền bạc cứ là muốn nứt căng túi họ ấy. Họ thích phô trương mà, hồi ấy, thích gây huyên náo; thích giương cờ đầu, kiểu vậy. Thích làm bố tướng thiên hạ. Mà quả họ cũng đã gieo phấn phát khắp vùng, hồi ấy.

Những câu đó luôn vang lên trong đầu tôi bằng giọng Reenie. Ngày đó chị là người phiên dịch cả thị trấn cho chúng tôi, tôi và Laura. Chúng tôi còn dựa được vào ai nữa?

Đằng sau đài tưởng niệm vẫn còn đất trống. Tôi coi đấy là lô đặt sẵn - đặt cả đời, như Richard từng đặt tại Nhà hát hoàng gia Alexandra. Đấy là chỗ của tôi; ở đó tôi sẽ về với đất.

Aimee tội nghiệp thì ở Toronto, trong nghĩa trang Mount Pleasant, cùng với cả lò nhà Griffen - với Richard và Winifred và thạch trụ granite choáng lộn. Winifred đảm đương việc đó: mụ ta cắm cọc trong cuộc đua giành Richard và Aimee bằng cách sấn vào lập tức, vác theo cả quan tài. Ai trả nhà đòn sẽ toàn quyền chiêng trống. Nếu có thể mụ đã cấm tôi thò mặt đến tang lễ.

Nhưng Laura đi trước hết, khi Winifred chưa kịp hoàn thiện cung cách ăn cắp xác của mình. Tôi nói, “Nó sẽ về nhà,” và thế là hết. Tôi rải tro trên mặt đất, nhưng giữ lại cái hộp bạc. May tôi đã không chôn: nếu không hẳn cái hộp đã sớm mất tích về tay người hâm mộ nào đó rồi. Họ thó bất cứ gì lấy được, đám người ấy. Năm ngoái tôi bắt được một đứa ôm theo hũ mứt và bay, đào đất từ ngôi mộ.

Tôi thường đặt câu hỏi về Sabrina - con bé sẽ nằm lại đâu. Nó là người cuối cùng trong số chúng tôi. Tôi đoán nó vẫn còn trên mặt đất: tôi chưa nghe được tin gì khác, vẫn còn phải chờ xem giữa hai phía gia đình nó sẽ chọn nằm lại phía nào, hay sẽ giấu mình xuống một xó xỉnh khác, tránh xa cả lũ chúng tôi. Nếu có vậy tôi cũng không trách nó.

Lần đầu nó trốn nhà, năm mười ba tuổi, Winifred gọi cho tôi, điên giận một cách lạnh lùng, buộc tội tôi trợ giúp và che giấu nó, dù không đi tới mức nói bắt cóc. Mụ ta hạch hỏi Sabrina có đến chỗ tôi không.

“Tôi không nghĩ mình có nghĩa vụ cho bà biết,” tôi nói, cốt để hành hạ mụ ta. Công bằng thôi: phần lớn cơ hội hành hạ trước giờ là của mụ. Mụ luôn gửi trả lại thiếp với thư từ và quà sinh nhật của tôi cho Sabrina, trên ghi nắn nót Trả lại người gửi bằng nét chữ độc tài bè bè của mụ. “Dù sao tôi cũng là bà ngoại nó. Nó muốn đến nhà tôi lúc nào tùy thích. Cửa nhà tôi lúc nào cũng rộng mở cho nó.”

“Chắc tôi không cần nhắc lại với cô tôi là giám hộ hợp pháp của nó.”

“Nếu bà không cần nhắc lại với tôi, sao bà còn đang nhắc lại với tôi?”

Nhưng Sabrina không đến với tôi. Không bao giờ đến. Chẳng khó đoán tại sao. Chúa biết nó đã nghe nói những gì về tôi. Chẳng có gì tốt đẹp.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.