Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LY XÔ ĐA

❊ ❊ ❊

Trong vòng một tháng sau khi mẹ chết - tôi không nhớ chính xác hôm nào - cha nói định đưa tôi vào trung tâm thị trấn. Ông chưa bao giờ quan tâm lắm đến tôi, hay Laura - ông mặc chúng tôi với mẹ, rồi với Reenie - nên nghe thế làm tôi giật mình.

Ông không đưa Laura đi. Còn không hề đề cập tới chuyện đó.

Ông loan báo chuyến du hành sắp tới trong giờ ăn sáng. Đến lúc này ông đã đòi hỏi Laura và tôi ăn sáng cùng ông, chứ không phải trong bếp với Reenie như trước nữa. Chúng tôi ngồi một đầu bàn ăn rất dài, đầu kia là ông. Ông hầu như không nói chuyện với chúng tôi: ông ngồi đọc báo, còn chúng tôi quá kính sợ ông không dám mở miệng. (Chúng tôi sùng kính ông, tất nhiên. Nếu không sẽ phải căm ghét ông. Ông không có chỗ cho những tình cảm chừng mực.)

Nắng rọi xuống qua cửa sổ kính màu, tỏa những luồng sáng đủ màu lên ông, cứ như ông vừa bị nhúng vào mực vẽ. Tôi vẫn còn nhớ màu xanh cô ban trên má, màu vỏ quất chói trên những ngón tay ông. Những màu đó Laura và tôi cũng tha hồ sử dụng. Chúng tôi thường đẩy đĩa cháo sang trái một chút, sang phải một chút, để ngay món cháo yến mạch xám buồn tẻ cũng biến thành xanh đỏ tím vàng: đồ ăn thần diệu, đã được phù phép hoặc bị đánh thuốc, tùy theo hứng của tôi hay tâm trạng Laura. Rồi chúng tôi sẽ nhăn mày lè lưỡi nhìn nhau giữa khi ăn, nhưng phải thật là im lặng. Mục đích là làm trót lọt những trò đó mà không khiến ông nhận ra. Chà, chúng tôi cũng phải có gì giải khuây chứ.

Vào cái ngày bất thường ấy, cha từ nhà máy về sớm và chúng tôi cùng đi bộ vào trung tâm. Cũng không xa lắm: hồi ấy trong thị trấn, chẳng có nơi nào là thực sự xa nhau. Cha thích đi bộ hơn là lái xe, hoặc ngồi xe người khác lái. Tôi nghĩ đó chắc là tại cái chân hư: ông muốn tỏ ra mình vẫn còn đi tốt. Ông thích sải bước quanh thị trấn, và đúng là ông bước rất sải, dù vẫn khập khiễng. Tôi lót tót chạy bên cạnh, cố gắng bắt kịp nhịp chân xiên xẹo của ông.

“Ta sẽ đến quán Betty,” ông nói. “Cha sẽ mời con một ly xô đa.” Cả hai chuyện đó đều là lần đầu tiên. Quán điểm tâm Betty là nơi chốn của dân thị trấn, chứ không phải của chị em tôi, Reenie bảo. Chẳng việc gì phải hạ mình bằng họ. Còn xô đa là nuông chiều hư thân và sẽ gây sâu răng. Hai thứ bị cấm, được phát cho cùng lúc, mà lại nhẹ không như vậy, việc đó khiến tôi gần như kinh hãi.

Trên phố chính ở Cảng Ticonderoga có năm nhà thờ và bốn nhà băng, đều xây bằng đá, đều bè bè lực lưỡng. Nhiều lúc phải đọc bảng tên mới phân biệt được, mặc dù nhà băng thì không có tháp nhọn. Quán điểm tâm Betty ở cạnh một nhà băng. Mái hiên bạt sọc xanh trắng, trên cửa sổ dán tranh vẽ hình bánh gà trông như cái mũ vải sơ sinh bằng bột nhào, diềm xếp nếp. Bên trong ánh sáng màu vàng nhàn nhạt, không khí có mùi va ni lẫn với cà phê và pho mát chảy. Trần bằng tôn nện; quạt rủ xuống lòng thòng, cánh như cánh quạt máy bay. Có vài người đàn bà đội mũ phớt ngồi rải rác các bàn trắng trang trí cầu kỳ; cha tôi gật đầu chào, họ gật đầu lại.

Chạy dọc một bên tường có nhiều ngăn bàn ghế bằng gỗ sậm màu. Cha tôi ngồi vào một ngăn, tôi luồn vào ghế đối diện. Ông hỏi tôi muốn uống vị gì, nhưng tôi không quen đi với ông ở nơi công cộng nên thấy thẹn. Mà tôi cũng không biết có những vị gì. Thế nên ông gọi một xô đa dâu cho tôi và cho mình một cà phê.

Cô gái phục vụ mặc váy đen, đội mũ trắng, lông mày tỉa thành hai đường cong mỏng, cái miệng đỏ ướt như mứt. Cô ta gọi cha tôi là đại úy Chase còn ông gọi cô là Agnes. Qua việc đó, và qua tư thế ông tì khuỷu tay lên mặt bàn, tôi nhận ra ông hẳn phải là khách quen ở đây.

Agnes nói có phải đây là con gái ngài không, và dễ thương quá; cô ta ném cho tôi một cái nhìn khó chịu. Cô ta mang cà phê đến cho ông gần như tức khắc, hơi lắc lư trên đôi gót cao, và khi đặt xuống cô hơi đụng khẽ vào tay ông. (Tôi có để ý thấy, dù vẫn chưa hiểu nghĩa là sao.) Rồi cô ta mang xô đa đến cho tôi, trong cái ly hình nón trông như cái sừng lật ngược, bên trong là hai ống hút. Bọt ga dâng lên mũi, khiến mắt tôi chảy nước.

Cha tôi thả một viên đường vào cốc cà phê khuấy, gõ nhẹ thìa lên thành cốc. Tôi ngắm ông qua thành ly xô đa. Bỗng thình lình trông ông hoàn toàn khác, như một người tôi chưa từng gặp trước đây - loãng hơn, bớt tập trung hơn, nhưng cũng chi tiết hơn. Tôi ít khi nhìn ông gần đến thế này. Tóc ông chải lật về phía sau và cắt ngắn hai bên đầu, đang rụng dần phía thái dương: con mắt còn tốt màu xanh phẳng lặng, như giấy xanh. Khuôn mặt thương tích, vẫn còn điển trai, mang vẻ lơ đãng như mỗi buổi sáng, bên bàn ăn, như là ông đang lắng nghe một bài hát, hay một vụ nổ xa xăm đâu đấy. Ria mép ông bạc hơn tôi tưởng, và bây giờ nghĩ kỹ tôi mới thấy lạ, sao đàn ông lại có lông cứng trên mặt còn phụ nữ thì không. Ngay quần áo thường ngày của ông cũng biến thành huyền bí trong ánh sáng lờ mờ mùi va ni, cứ như là quần áo người khác và ông chỉ mượn về mặc tạm. Quần áo to quá khổ với ông, đúng là thế. Ông đã thu nhỏ lại. Nhưng đồng thời ông cũng cao lên.

Ông mỉm cười với tôi, và hỏi xô đa có ngon không. Sau đó ông im lặng trầm ngâm một hồi. Rồi ông rút một điếu từ hộp thuốc bạc luôn mang theo bên mình, châm thuốc, nhả khói. “Nếu có chuyện gì xảy ra,” rốt cuộc ông cũng nói, “con phải hứa sẽ chăm sóc Laura nhé.”

Tôi trang nghiêm gật đầu. Chuyện gì là chuyện gì? Cái gì có thể xảy ra? Tôi kinh hoàng chờ nghe tin xấu, dù chưa thể hình dung là gì. Có thể ông sắp đi xa - ra ngoại quốc. Những chuyện thời chiến vẫn chưa phai khỏi trí tôi. Nhưng ông không nói gì thêm.

“Bắt tay nào?” ông nói. Chúng tôi chìa tay cho nhau qua bàn; tay ông cứng và khô, như tay nắm va li bằng da. Con mắt xanh độc nhất đánh giá tôi, như cân nhắc xem tôi có thể trông cậy được không. Tôi ngẩng mặt, thẳng lưng. Tôi mong đến cồn cào được ông tán thưởng.

“Có năm xu thì con mua được những gì?” lúc đó ông nói. Tôi bị bất ngờ với câu hỏi ấy, miệng đờ ra: tôi không biết. Laura và tôi chưa bao giờ được cho tiền tiêu riêng, bởi Reenie nói chúng tôi cần phải học biết giá trị đồng tiền đã.

Từ túi trong bộ com lê đen ông rút ra cuốn sổ tay bọc bìa da lợn và xé một trang. Rồi ông bắt đầu nói về cúc. Chẳng có tuổi nào là quá sớm, ông nói, để dạy tôi học những nguyên tắc kinh tế cơ bản, và tôi sẽ cần biết để cư xử có trách nhiệm, khi nào lớn lên.

“Giả thử con bắt đầu với hai chiếc cúc,” ông nói. Ông nói chi phí tức là phần tiền anh bỏ ra để làm cúc, và doanh thu tổng là số tiền anh có được khi bán cúc, và lãi ròng là con số đó trừ đi chi phí, trong một khoảng thời gian nhất định. Sau đó anh có thể giữ một phần lãi ròng cho mình và dùng phần còn lại để làm ra bốn chiếc cúc, và rồi anh sẽ bán tiếp và có thể làm ra tám cái. Ông vẽ phác một sơ đồ nhỏ bằng cái bút chì bạc: hai cúc, rồi bốn cúc, rồi tám cúc. Cúc nhân lên hoa mắt trên tờ giấy; ở cột bên cạnh, tiền cũng dồn lên. Cứ như là lột vỏ đậu: đậu vào bát này, vỏ vào bát kia. Ông hỏi tôi có hiểu không.

Tôi liếc lên mặt ông để xem ông có thật tình không. Đã bao nhiêu lần tôi nghe ông chửi rủa nhà máy cúc là cái bẫy, cát lún, lời nguyền, gông quàng cổ, nhưng đấy là lúc ông say rượu. Hiện giờ thì ông khá tỉnh táo. Ông không có vẻ đang dạy dỗ, mà như là đang tạ lỗi. Ông muốn nhận được từ tôi một thứ khác, không chỉ là câu trả lời. Cứ như là ông muốn tôi tha thứ cho ông, xá cho ông một tội lỗi nào đó; nhưng ông đã làm gì tôi? Tôi không thể nghĩ ra là gì.

Tôi thấy bối rối, và cũng đồng thời thấy mình kém cỏi: cho dù ông đang hỏi hay yêu cầu gì đi nữa, việc đó cũng quá sức tôi. Đây là lần đầu tiên một người đàn ông trông đợi nhiều hơn tôi có khả năng trao đi, nhưng sẽ không phải là lần cuối.

“Có ạ,” tôi nói.

Trong tuần cuối cùng trước khi mất - giữa những buổi sáng ghê sợ ấy - mẹ tôi có nói một điều lạ lùng, dù khi ấy tôi chưa thấy lạ lùng. Mẹ nói: “Đằng sau tất cả mọi điều, cha con vẫn yêu con.”

Mẹ không mấy khi nói chuyện với chúng tôi về tình cảm, đặc biệt là tình yêu - của mẹ hay của bất kỳ ai, ngoại trừ tình yêu của Chúa. Nhưng ai cũng biết là cha mẹ phải yêu con cái, nên chắc tôi đã coi mẹ nói thế là để trấn an: mặc cho bề ngoài có thế nào, cha tôi cũng như mọi người cha khác, hoặc cũng như mọi người cha cần phải thế.

Giờ tôi nghĩ cái đó phức tạp hơn nhiều. Đó có thể là lời cảnh cáo. Cũng có thể là một gánh nặng. Cho dù tình yêu có ở đằng sau mọi điều, vẫn có một đống chất chồng lên trước, và tôi sẽ tìm thấy gì khi đào xới thật sâu qua đó? Không phải là một món quà giản dị, lấp lánh vàng ròng; mà ngược lại là một vật thái cổ và rất có thể còn tai vạ, như tấm bùa sắt đang gỉ sét giữa bộ xương khô. Một lá bùa hộ thân, có thể tình yêu ấy là thế, nhưng là lá bùa rất nặng; một thứ rất nặng tôi phải tha theo khắp nơi, lủng lẳng trên sợi xích sắt đeo quanh cổ.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.