Nguyệt Thạch

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Ngay lúc tôi xuất hiện ở khung cửa, Rachel liền đứng dậy khỏi cây đàn piano.

Tôi khép cánh cửa lại đằng sau. Chúng tôi lặng lẽ đối diện nhau, khoảng cách giữa hai người trải dài theo chiều dài căn phòng. Cử động đứng lên vừa rồi dường như là chút sức lực cuối cùng mà cô ấy có thể vắt kiệt. Mọi chức năng khác của cơ thể hay tâm trí lúc bấy giờ đều dường như tan biến, chỉ còn lại duy nhất hành động nhìn chằm chằm vào tôi.

Một nỗi sợ thoáng qua trong tâm trí tôi rằng mình đã xuất hiện quá đường đột. Tôi bước tới gần cô ấy thêm vài bước. Tôi dịu dàng lên tiếng: “Rachel!”

Âm thanh từ giọng nói của tôi đã thổi bùng lại sức sống cho đôi chân và kéo lại sắc hồng trên khuôn mặt cô ấy. Bản thân Rachel cũng bước tới, vẫn không hé răng nửa lời. Chầm chậm, như thể đang bị chi phối bởi một thế lực nào đó nằm ngoài ý muốn của bản thân, cô ấy cứ tiến lại gần tôi mãi; đôi gò má ánh lên sắc hồng trầm ấm, còn ánh mắt thì bừng sáng dần lên từng khoảnh khắc với thứ lý trí đang hồi sinh. Tôi quên mất mục đích đã đưa mình đến trước mặt cô ấy; tôi quên mất mối nghi ngờ bỉ ổ đang đè nặng lên danh dự của bản thân; tôi quên sạch mọi suy tính, dẫu là quá khứ, hiện tại hay tương lai, những thứ mà lẽ ra tôi phải khắc ghi. Tôi chẳng còn thấy gì ngoài người phụ nữ tôi yêu đang từng bước tiến lại gần mình. Cô ấy run rẩy; cô ấy đứng ngập ngừng. Tôi không thể kìm ném thêm được nữa — tôi chồm tới ôm lấy cô ấy vào lòng, ngập ngừng phủ lên khuôn mặt nàng những nụ hôn.

Đã có khoảnh khắc tôi tưởng như những nụ hôn ấy được đáp lại; một khoảnh khắc tưởng chừng như chính cô ấy cũng có thể đã quên hết thảy. Gần như còn chưa kịp định hình ý nghĩ ấy trong đầu, hành động tự nguyện đầu tiên của Rachel đã đánh thức tôi khỏi cơn mê, khiến tôi nhận ra rằng cô ấy vẫn nhớ rõ. Với một tiếng thét tựa như tiếng kêu của sự kinh hoàng — cùng một sức mạnh mà tôi nghi ngờ rằng mình khó lòng chống cự nổi nếu thực sự cố gắng — cô ấy đẩy mạnh tôi ra xa. Tôi nhìn thấy sự phẫn nộ vô tình trong đôi mắt ấy; tôi nhìn thấy sự khinh miệt lạnh lùng đọng lại trên đôi môi ấy. Cô ấy đưa mắt ngắm nghía tôi, từ đầu đến chân, cứ như thể đang nhìn một kẻ xa lạ vừa dám lăng mạ mình vậy.

“Đồ hèn nhát!” cô ấy lên án. “Đồ hèn nhát ti tiện, khốn nạn và nhẫn tâm!”

Đó chính là những lời đầu tiên cô ấy thốt ra! Lời quở trách cay đắng nhất mà một người phụ nữ có thể dành cho một người đàn ông, lại chính là lời quở trách mà nàng đã chọn để giáng lên đầu Tôi.

“Anh vẫn nhớ có thời điểm, Rachel,” tôi đáp, “lẽ ra em có thể nói cho anh biết rằng anh đã làm em phật ý theo một cách đáng trân trọng hơn thế. Anh xin lỗi em.”

Chút cay đắng đang dâng trào trong lòng có lẽ đã lọt cả vào giọng nói của tôi. Ngay từ những từ ngữ đầu tiên trong câu trả lời ấy, đôi mắt cô ấy — vừa mới quay đi trước đó — liền miễn cưỡng nhìn ngược trở lại tôi. Rachel cất lời với âm điệu trầm đài, cùng một vẻ phục tùng ủ rũ hoàn toàn xa lạ với những gì tôi từng biết về cô ấy.

“Có lẽ tôi cũng có lý do để được tha thứ,” cô ấy nói. “Sau tất cả những gì anh đã làm, liệu việc tìm đến gặp tôi theo cái cách mà anh vừa làm hôm nay có phải là một hành động quân tử không? Chẳng khác nào một trò thử nghiệm hèn nhát, khi đem sự yếu mềm của tôi ra để thử lửa. Chẳng khác nào một cú đánh úp hèn nhát, khi khiến tôi bất ngờ đến mức để mặc anh ôm hôn. Nhưng đó chỉ là cách nhìn phiến diện của một người phụ nữ. Lẽ ra tôi phải hiểu rằng anh không thể nào suy nghĩ như vậy. Sẽ tốt hơn nhiều nếu tôi biết tự kiềm chế bản thân và ngậm chặt miệng lại.”

Lời xin lỗi ấy còn khó nuốt trôi hơn cả câu lăng mạ. Ngay cả một kẻ đê tiện nhất trên cõi đời này cũng sẽ cảm thấy bị sỉ nhục bởi thái độ đó.

“Nếu danh dự của anh không nằm trong tay em,” tôi nói, “anh đã bỏ đi ngay khoảnh khắc này và chẳng bao giờ thèm nhìn mặt em nữa. Em vừa nhắc đến những việc anh đã làm. Vậy anh đã làm gì chứ?”

“Anh còn dám hỏi câu đó với tôi ư!”

“Anh hỏi thì em cứ trả lời.”

“Chính tôi đã giữ kín sự đê tiện của anh như một bí mật,” cô ấy đáp. “Và chính tôi là kẻ phải gánh chịu hậu quả từ việc che giấu đó. Chẳng lẽ tôi không có quyền được miễn trừ khỏi nỗi nhục nhã khi bị anh hỏi ngược lại rằng anh đã làm những gì hay sao? Mọi thứ ơn nghĩa đều đã chết tiệt trong con người anh rồi à? Anh từng là một trang nam nhi hào hiệp. Anh từng rất đỗi trân quý đối với mẹ tôi, và càng sâu đậm hơn thế đối với riêng tôi ——”

Giọng cô ấy bỗng nghẹn lại. Rachel ngã quỵ xuống chiếc ghế, quay lưng về phía tôi và đưa hai tay ôm lấy mặt.

Tôi đứng đợi một lát trước khi đủ bình tĩnh để nói thêm điều gì. Trong khoảnh khắc tĩnh lặng ấy, tôi khó lòng phân định nổi điều gì giày vò mình sâu sắc hơn — mũi giáo của sự khinh miệt mà cô ấy đã cắm vào ngực tôi, hay bức tường kiêu hãnh lạnh lùng đã gạt bỏ tôi ra khỏi mọi chia sẻ trước nỗi thống khổ của nàng.

“Nếu em không chịu mở lời trước,” tôi nói, “thì đành phải để anh vậy. Anh đến đây để nói những chuyện nghiêm túc với em. Liệu em có thể đối xử công bằng với anh bằng cách lắng nghe những gì anh sắp bày tỏ không?”

Rachel không nhúc nhích, cũng chẳng đáp lời. Tôi không thèm nài nỉ thêm lần thứ hai; cũng chẳng bước thêm dù chỉ nửa tấc lại gần chiếc ghế của cô ấy. Với một nỗi kiêu hãnh cứng đầu chẳng kém gì cô ấy, tôi kể cho nàng nghe về phát hiện của mình tại vùng cát lún Shivering Sand, cùng toàn bộ chuỗi sự việc đã dẫn đến kết quả đó. Câu chuyện ấy, dĩ nhiên, đã ngốn mất một khoảng thời gian kha khá. Từ đầu đến cuối, cô ấy chẳng buồn quay đầu nhìn lấy tôi một lần, và cũng không thốt ra nửa lời.

Tôi vẫn kìm chế được cơn giận. Toàn bộ tương lai của tôi, xét theo mọi xác suất, đều đang phó mặc cho việc tôi không được để mất đi sự tỉnh táo vào lúc này. Thời điểm để mang lý thuyết của ông Bruff ra thử nghiệm đã đến. Giữa lúc sự tò mò đang thúc bách đến nghẹt thở ấy, tôi bước vòng ra phía trước để đứng đối diện với cô ấy.

“Anh có một câu hỏi muốn đặt ra cho em,” tôi nói. “Nó buộc anh phải nhắc lại một chủ đề đau lòng. Rosanna Spearman có đưa cho em xem chiếc áo ngủ đó không? Trả lời Có hoặc Không?”

Cô ấy bậtmình đứng phắt dậy, tự chủ động bước sát lại gần tôi. Ánh mắt Rachel xoáy sâu vào mặt tôi như thể muốn đọc được một điều gì đó chưa từng xuất hiện ở đó trước kia.

“Anh điên rồi sao?” cô ấy hỏi.

Tôi vẫn cố nén giận. Tôi điềm tĩnh đáp: “Rachel, em có chịu trả lời câu hỏi của anh không?”

Cô ấy tiếp tục nói, chẳng mảy may đếm xỉa đến tôi.

“Anh đang mưu tính điều gì mà tôi không tài nào hiểu nổi ư? Một nỗi sợ hãi hèn mát nào đó cho tương lai, có liên quan đến tôi chăng? Người ta đồn rằng cái chết của cha anh đã biến anh thành một kẻ giàu có. Bộ anh đến đây để đền bù cho sự mất mát viên Kim cương của tôi đấy à? Và anh vẫn còn đủ liêm sỉ để cảm thấy hổ thẹn vì mục đích chuyến đi này sao? Đó là bí mật đằng sau cái vỏ bọc ngây thơ và câu chuyện bị đặt về Rosanna Spearman của anh đấy à? Lại có một động cơ hổ thẹn nào đó ẩn giấu đằng sau tất cả những lời dối trá này nữa phải không?”

Tôi chặn ngang lời cô ấy. Bản thân không thể kìm chế được nữa.

“Em đã đối xử với anh một cách vô cùng bất công và tàn nhẫn!” tôi phẫn nộ quát lên. “Em nghi ngờ anh trộm viên Kim cương của em. Anh có quyền được biết, và anh kiên quyết phải biết lý do tại sao!”

“Nghi ngờ anh ư!” cô ấy thét lên, cơn giận dữ dâng trào cùng nhịp với tôi. “Đồ đê tiện, chính mắt tôi đã nhìn thấy anh lấy viên Kim cương!”

Sự thật phơi bày trong những từ ngữ đó, cú giáng sấm sét làm sụp đổ hoàn toàn mọi phỏng đoán mà ông Bruff từng đặt trọn niềm tin, đã khiến tôi chết sững. Dù hoàn toàn vô tội, tôi vẫn đứng lặng người trước mặt cô ấy. Dưới cái nhìn của cô ấy, hay của bất kỳ ai đi nữa, chắc chắn trông tôi chẳng khác nào một kẻ đang suy sụp vì sự thật trần trụi về tội ác của chính mình bị vén màn.

Rachel lùi lại trước bộ dạng nhục nhã của tôi và sự đắc thắng của chính cô ấy. Sự tĩnh lặng đột ngột bao trùm lấy tôi dường như lại khiến nàng hoảng sợ. “Lúc đó tôi đã tha cho anh,” cô ấy nói. “Lẽ ra tôi vẫn sẽ tha cho anh bây giờ, nếu anh không ép tôi phải mở miệng.” Cô ấy quay người bỏ đi như muốn rời khỏi phòng — nhưng rồi lại chần chừ trước khi bước tới cửa. “Sao anh lại còn mò đến đây để tự chuốc lấy nhục nhã làm gì?” cô ấy hỏi. “Sao anh lại đến đây để sỉ nhục tôi?” Rachel bước tiếp vài bước rồi lại khựng lại lần nữa. “Vì Chúa, nói gì đi chứ!” cô ấy phẫn uất kêu lên. “Nếu anh vẫn còn chút lòng trắc ẩn, đừng ép tôi phải tự hạ thấp bản thân thế này nữa! Nói gì đi — và tống cổ tôi ra khỏi căn phòng này đi!”

Tôi bước về phía cô ấy, gần như chẳng mảy may ý thức được mình đang làm gì. Có lẽ trong đầu tôi thoáng qua một ý nghĩ mơ hồ là phải giữ chân cô ấy lại cho đến khi nàng chịu kể nhiều hơn. Kể từ giây phút tôi biết được rằng bằng chứng kết tội tôi trong tâm trí Rachel chính là chứng cứ từ đôi mắt của cô ấy, thì chẳng còn gì — ngay cả niềm tin vững chắc vào sự vô tội của bản thân — còn giữ được sự minh mẫn nữa. Tôi cầm lấy tay cô ấy; cố gắng cất lời thật kiên quyết và đúng trọng tâm. Tất cả những gì tôi thốt ra được chỉ là: “Rachel, xưa kia em từng yêu anh.”

Cô ấy rùng mình, quay mặt đi chỗ khác. Bàn tay mềm oặt và run rẩy nằm gọn trong tay tôi. “Buông tay ra,” cô ấy thều thào.

Cái chạm của tôi dường như tạo ra đúng hiệu ứng mà âm thanh giọng nói của tôi từng gây ra khi tôi mới bước chân vào phòng. Sau khi cô ấy thốt ra lời mắng mỏi tôi là kẻ hèn nhát, sau khi cô ấy đưa ra lời thú nhận đóng đinh tôi vào cái danh kẻ trộm — thì khi bàn tay ấy còn nằm trong tay tôi, tôi vẫn là chủ nhân của nàng!

Tôi dịu dàng kéo cô ấy trở lại giữa căn phòng. Tôi đỡ cô ấy ngồi xuống bên cạnh mình. “Rachel,” tôi nói, “anh không thể giải thích nổi sự mâu thuẫn trong những điều anh sắp kể với em. Anh chỉ có thể nói ra sự thật hệt như cách em đã nói. Em đã thấy anh — chính đôi mắt em đã nhìn thấy anh lấy viên Kim cương. Trước Chúa Trời đang lắng nghe chúng ta đây, anh xin tuyên thệ rằng bây giờ anh mới biết mình chính là kẻ đã lấy nó! Em vẫn còn hoài nghi anh sao?”

Cô ấy chẳng buồn bận tâm hay lắng nghe tôi. “Buông tay tôi ra,” cô ấy lặp lại bằng giọng yếu ớt. Đó là câu trả lời duy nhất. Đầu Rachel gục lên vai tôi; và bàn tay cô ấy vô thức xiết chặt lấy tay tôi ngay đúng khoảnh khắc nàng vừa yêu cầu tôi buông ra.

Tôi kìm chế không ép buộc thêm. Nhưng sự khoan dung của tôi cũng chỉ dừng lại ở đó. Cơ hội duy nhất để tôi có thể ngẩng mặt nhìn đời giữa những con người lương thiện phụ thuộc hoàn toàn vào việc tôi liệu có thể thuyết phục cô ấy đưa ra lời khai đầy đủ hay không. Niềm hy vọng duy nhất sót lại cho tôi lúc này là việc Rachel có thể đã bỏ sót điều gì đó trong chuỗi bằng chứng — có lẽ chỉ là một chi tiết vụn vặt nào đó, nhưng nếu được điều tra cẩn trọng, vẫn có thể trở thành phương tiện minh oan cho tôi đến cùng. Tôi thú nhận rằng mình vẫn tiếp tục nắm lấy tay cô ấy. Tôi thú nhận rằng mình đã nói chuyện với nàng bằng tất cả sự đồng cảm và tin cậy từ những ngày tháng xưa cũ mà tôi có thể vắt kiệt để tìm lại.

“Anh muốn hỏi em một việc,” tôi nói. “Anh muốn em kể lại tường tận mọi chuyện, từ lúc chúng ta chúc nhau ngủ ngon, cho đến khoảnh khắc em tận mắt thấy anh lấy viên Kim cương.”

Cô ấy ngẩng đầu rời khỏi vai tôi, nỗ lực giật lại bàn tay đang bị nắm giữ. “Ồ, sao lại cứ phải đào bới lại quá khứ làm gì!” cô ấy thốt lên. “Sao cứ phải nhắc lại làm gì cơ chứ!”

“Anh sẽ nói cho em lý do, Rachel. Cả em và anh đều là nạn nhân của một ảo tưởng quái ác mang chiếc mặt nạ của sự thật. Nếu chúng ta cùng nhau nhìn lại những gì đã diễn ra trong đêm sinh nhật của em, biết đâu cuối cùng chúng ta lại có thể thấu hiểu lẫn nhau.”

Đầu cô ấy lại gục trở lại vai tôi. Nước mắt đọng đầy trong khóe mắt, chầm chậm lăn dài trên gò má. “Ồ!” cô ấy nghẹn ngào, “chẳng lẽ tôi chưa từng nuôi hy vọng đó hay sao? Chẳng lẽ tôi chưa từng cố gắng nhìn nhận nó như cách anh đang cố gắng lúc này ư?”

“Em chỉ cố gắng một mình,” tôi đáp. “Em đã không cùng cố gắng với anh để có người giúp đỡ.”

Những lời đó dường như đã thắp lên trong lòng cô ấy một phần niềm tin mà chính tôi cũng cảm nhận được khi thốt ra chúng. Cô ấy đáp lại những câu hỏi của tôi với thái độ vượt lên cả sự ngoan ngoãn — cô ấy vận dụng tư duy; sẵn sàng rộng mở tâm can để chia sẻ với tôi.

“Chúng ta hãy bắt đầu,” tôi nói, “với những gì xảy ra sau khi chúng ta chúc nhau ngủ ngon nhé. Em đã đi ngủ chưa? Hay em vẫn thức?”

“Tôi đã đi ngủ.”

“Em có để ý thời gian lúc đó không? Đã muộn lắm chưa?”

“Không hẳn. Chắc khoảng mười hai giờ, tôi nghĩ vậy.”

“Em có chợp mắt được không?”

“Không. Đêm đó tôi không tài nào ngủ được.”

“Em trằn trọc không ngủ?”

“Tôi mải nghĩ về anh.”

Câu trả lời gần như khiến tôi suy sụp. Có cái gì đó trong ngữ điệu ấy, thậm chí còn hơn cả ý nghĩa từ ngữ, đã đâm thẳng vào tim tôi. Phải mất một hồi lặng thầm nén cảm xúc, tôi mới có thể tiếp tục câu chuyện.

“Trong phòng em có bật đèn không?” tôi hỏi.

“Không có ngọn đèn nào — cho đến khi tôi đứng dậy lần nữa và thắp nến.”

“Khoảng thời gian đó cách lúc em lên giường bao lâu?”

“Khoảng một tiếng sau, tôi nghĩ thế. Khoảng một giờ đêm.”

“Em có rời khỏi phòng ngủ của mình không?”

“Tôi định rời đi. Tôi đã khoác áo choàng tắm lên người; và định bước sang phòng khách để tìm một cuốn sách——”

“Em đã mở cửa phòng ngủ ra chưa?”

“Tôi vừa mới hé mở nó.”

“Nhưng em chưa bước sang phòng khách?”

“Chưa — tôi bị ngăn lại trước khi kịp bước sang.”

“Cái gì đã ngăn em lại?”

“Tôi nhìn thấy một vầng ánh sáng hắt ra từ khe cửa; và nghe thấy tiếng bước chân đang tiến lại gần.”

“Em có sợ hãi không?”

“Lúc đó thì chưa. Tôi biết người mẹ đáng thương của mình thường khó ngủ, và tôi sực nhớ ra rằng tối hôm ấy bà đã cố gắng nài nỉ thế nào để tôi giao viên Kim cương cho bà giữ hộ. Bà tỏ ra lo lắng một cách bất thường về nó, theo suy nghĩ của tôi lúc đó; và tôi cứ đinh ninh rằng bà đang sang kiểm tra xem tôi đã ngủ chưa, để rồi lại lải nhải bàn về viên Kim cương nếu thấy tôi hãy còn thức.”

“Em đã làm gì?”

“Tôi thổi tắt cây nến đi, để bà tưởng rằng tôi đã ngủ. Về phần mình, tôi cũng bướng bỉnh chẳng kém — tôi nhất quyết phải giữ viên Kim cương ở nơi do chính mình lựa chọn.”

“Sau khi thổi tắt nến, em có quay lại giường không?”

“Tôi nào có thời gian mà quay lại. Ngay khoảnh khắc tôi vừa thổi tắt ngọn nến, cửa phòng khách bật mở, và tôi nhìn thấy——”

“Em nhìn thấy gì?”

“Là anh.”

“Vẫn mặc trang phục thường ngày chứ?”

“Không.”

“Mặc áo ngủ của anh sao?”

“Mặc chiếc áo ngủ của anh — trên tay cầm theo cây nến phòng ngủ.”

“Chỉ có một mình?”

“Một mình.”

“Em có nhìn rõ mặt anh không?”

“Có.”

“Rõ chứ?”

“Hoàn toàn rõ. Ngọn nến trên tay anh đã soi rọi điều đó cho tôi thấy.”

“Mắt anh có mở không?”

“Có.”

“Em có nhận thấy điều gì kỳ lạ trong ánh mắt đó không? Giống như một biểu cảm đờ đẫn, trống rỗng chẳng hạn?”

“Không có biểu hiện nào như thế cả. Mắt anh rất sáng — sáng hơn bình thường. Anh đảo mắt nhìn quanh phòng, cứ như thể thừa biết mình đang đặt chân đến nơi không nên đến, và như thể đang nơm nớp sợ bị phát hiện.”

“Em có quan sát thấy một điều khi anh bước vào phòng không — em có để ý cách anh đi đứng thế nào không?”

“Anh đi lại như mọi khi. Anh bước thẳng vào tận giữa căn phòng — rồi đứng khựng lại và đảo mắt nhìn quanh.”

“Em đã làm gì khi lần đầu tiên nhìn thấy anh?”

“Tôi chẳng thể làm gì cả. Tôi chết sững người. Không thể cất lời, không thể kêu lên, thậm chí không thể nhúc nhích nổi để khép cửa lại.”

“Anh có thể nhìn thấy em ở chỗ em đứng không?”

“Chắc chắn anh có thể nhìn thấy tôi. Nhưng anh chưa từng liếc mắt về phía tôi lần nào. Có hỏi nữa cũng vô ích. Tôi chắc chắn là anh chưa từng trông thấy tôi.”

“Sao em lại chắc chắn thế?”

“Liệu anh có lấy viên Kim cương không? Liệu anh có hành động như thế sau đó không? Liệu anh có đang đứng ở đây lúc này không — nếu anh nhận ra là tôi đang thức và nhìn chằm chằm vào mình? Đừng bắt tôi phải nhắc lại phần đó nữa! Tôi muốn trả lời anh một cách bình tĩnh. Hãy giúp tôi giữ được sự bình thản nhất có thể. Chuyển sang chuyện khác đi.”

Cô ấy nói đúng — hoàn toàn đúng về mọi mặt. Tôi chuyển sang những vấn đề khác.

“Anh đã làm gì sau khi đi đến giữa phòng và dừng lại ở đó?”

“Anh quay người đi thẳng đến góc phòng gần cửa sổ — nơi đặt chiếc tủ đựng đồ bằng ngà voi phong cách Ấn Độ của tôi.”

“Lúc anh đứng ở tủ, chắc chắn lưng anh quay về phía em. Làm sao em thấy được anh đang làm gì?”

“Khi anh chuyển động, tôi cũng chuyển động theo.”

“Để xem tay anh đang táy máy những gì à?”

“Trong phòng khách của tôi có ba chiếc gương. Khi anh đứng ở đó, tôi nhìn thấy toàn bộ những gì anh làm phản chiếu qua một chiếc gương trong số đó.”

“Em đã thấy gì?”

“Anh đặt cây nến lên nóc tủ. Mở rồi lại đóng từng ngăn kéo một, cho đến khi đến cái ngăn mà tôi cất viên Kim cương. Anh đứng ngắm nghèo cái ngăn kéo đang mở trong chốc lát. Rồi anh thò tay vào và nhấc viên Kim cương ra.”

“Làm sao em biết là anh đã lấy viên Kim cương ra?”

“Tôi thấy tay anh thọc vào ngăn kéo. Và tôi thấy ánh lấp lánh của viên đá quý lóe lên giữa ngón tay cái và ngón trỏ của anh khi anh rút tay ra.”

“Tay anh có đưa lại gần ngăn kéo lần nữa không — chẳng hạn như để đóng nó lại ấy chứ?”

“Không. Anh cầm viên Kim cương ở tay phải; còn tay trái thì nhấc cây nến từ nóc tủ xuống.”

“Sau đó anh có đảo mắt nhìn quanh lần nào nữa không?”

“Không.”

“Anh rời khỏi phòng ngay sau đó chứ?”

“Không. Anh đứng sững ở đó trong khoảng thời gian có vẻ như khá dài. Tôi nhìn thấy góc nghiêng khuôn mặt anh trong gương. Trông anh chẳng khác nào một kẻ đang trầm ngâm suy nghĩ và bất mãn với chính những suy nghĩ của mình.”

“Điều gì xảy ra tiếp theo?”

“Đột nhiên anh bừng tỉnh và bước thẳng ra khỏi phòng.”

“Anh có khép cửa lại sau khi đi không?”

“Không. Anh rảo bước đi thẳng ra hành lang và để mặc cửa mở toang.”

“Rồi sao nữa?”

“Rồi ánh sáng từ ngọn nến của anh khuất hẳn, tiếng bước chân chìm dần vào thinh không, và tôi bị bỏ lại một mình trong bóng tối.”

“Không có chuyện gì xảy ra nữa sao — từ lúc đó cho đến khi cả nhà phát hiện ra viên Kim cương đã mất?”

“Không có gì cả.”

“Em chắc chắn chứ? Bộ có lúc nào em đã ngủ quên trong khoảng thời gian đó không?”

“Tôi chưa từng chợp mắt. Cũng không hề quay lại giường ngủ. Chẳng có gì xảy ra cho đến khi Penelope bước vào theo giờ giấc thông thường vào buổi sáng.”

Tôi buông tay cô ấy ra, đứng dậy và đi lại vài bước trong phòng. Mọi câu hỏi mà tôi có thể đặt ra đều đã được giải đáp. Mọi chi tiết mà tôi mong muốn được biết đều đã được bày biện tường tận trước mắt. Thậm chí tôi đã quay lại với giả thuyết về chứng mộng du, hay giả thuyết về việc say xỉn; và một lần nữa, sự vô giá trị của cả hai giả thuyết ấy lại được chứng minh — lần này là dựa trên lời khai chính đáng từ nhân chứng đã tận mắt nhìn thấy tôi. Còn gì để nói nữa đây? Còn gì để làm tiếp đây? Nổi bật lên trên hết là sự thật kinh hoàng về Vụ trộm — thứ hiện hữu rõ mồn một, sờ sờ trước mắt tôi giữa màn đêm đen đặc bao trùm tất cả mọi thứ xung quanh! Chẳng một tia sáng nào dẫn đường khi tôi vừa nắm giữ được bí mật của Rosanna Spearman tại bãi cát lún Shivering Sand. Và cũng chẳng có lấy một tia hy vọng nào lúc này, khi tôi đã cất công tìm đến tận Rachel và nghe câu chuyện đáng nguyền rủa về đêm hôm đó phát ra từ chính đôi môi của nàng.

Lần này, cô ấy lại là người phá vỡ sự im lặng trước.

“Sao nào?” cô ấy lên tiếng, “anh đã hỏi, và tôi đã trả lời. Anh từng hy vọng điều gì đó từ tất cả những chuyện này, bởi anh nghĩ nó sẽ mang lại chút lối thoát. Giờ thì anh còn muốn nói gì nữa đây?”

Giọng điệu cô ấy cất lên đã cảnh báo tôi rằng tầm ảnh hưởng của tôi đối với nàng một lần nữa lại tan thành mây khói.

“Chúng ta định cùng nhau nhìn lại những gì đã xảy ra trong đêm sinh nhật tôi cơ mà,” cô ấy tiếp tục; “và rồi chúng ta sẽ thấu hiểu lẫn nhau. Giờ thì chúng ta đã làm được điều đó chưa?”

Rachel nhẫn tâm chờ đợi câu trả lời từ tôi. Khi đáp lời cô ấy, tôi đã mắc phải một sai lầm chí mạng — tôi để cho sự bất lực đến phát điên của hoàn cảnh lấn át cả khả năng tự chủ. Một cách liều lĩnh và vô ích, tôi trách cứ việc giữ im lặng của cô ấy đã khiến tôi bị che mờ mắt trước sự thật cho đến tận phút chót.

“Lẽ ra em nên lên tiếng vào thời điểm em cần phải lên tiếng,” tôi bắt đầu; “lẽ ra em nên đối xử công bằng với anh bằng cách giải thích rõ mọi chuyện——”

Cô ấy cắt ngang lời tôi bằng một tiếng thét đầy thị nộ. Vài từ ngắn ngủi tôi vừa thốt ra dường như đã quất roi vào nỗi giận dữ, đẩy nàng lên đỉnh điểm của sự cuồng nộ ngay lập tức.

“Giải thích rõ mọi chuyện ư!” cô ấy lặp lại. “Ồ! Trên đời này còn có kẻ thứ hai trơ trẽn như thế này nữa sao? Tôi bao che cho anh ta trong lúc trái tim tôi đang tan nát; tôi che giấu cho anh ta khi danh dự của chính tôi đang ngàn cân treo sợi tóc; thế mà anh ta — trong số tất cả mọi con người trên thế gian này, chính anh ta — lại quay sang chất vấn tôi và bảo rằng lẽ ra tôi phải tự giải thích mọi chuyện rõ ràng sao! Sau khi tin tưởng anh ta đến vậy, sau khi yêu thương anh ta đến thế, sau khi nghĩ về anh ta ban ngày và mộng mị về anh ta trong những giấc mơ đêm — thế mà anh ta lại ngạc nhiên vì tôi đã không vạch mặt tội ác của hắn ngay trong lần gặp đầu tiên: ‘Cục cưng của đời tôi ơi, anh là một tên trộm đấy! Người hùng mà tôi hết lòng yêu quý và kính trọng ơi, anh đã lén lút bò vào phòng tôi trong đêm tối và cuỗm đi viên Kim cương rồi đấy!’ Đó mới là những gì tôi phải thốt ra chắc. Đồ đê tiện, đồ khốn nạn, khốn nạn, khốn nạn đến cùng cực, thà tôi mất đi năm mươi viên kim cương còn hơn phải chứng kiến cái bộ mặt của anh đang trơ trẽn dối trá trước mặt tôi hệt như lúc này đây!”

Tôi với lấy chiếc mũ. Vì lòng thương hại đối với cô ấy — vâng! Tôi có thể thành thật khẳng định điều đó — vì thương hại nàng, tôi lặng lẽ quay lưng không nói một lời và đẩy mở cánh cửa mà tôi đã dùng để bước vào phòng.

Rachel lao theo, giật phắt cánh cửa khỏi tay tôi; cô ấy sập cửa lại và chỉ tay về phía chiếc ghế tôi vừa rời đi.

“Không!” cô ấy nói. “Chưa đâu! Xem ra tôi vẫn còn nợ anh một lời giải thích về hành vi của mình nhỉ. Anh cứ ở đây mà nghe cho thủng tai đi. Hoặc không thì hãy cúi đầu nhận lấy sự nhục nhã bỉ ổi nhất và tự tìm đường mà cút xéo ra ngoài.”

Nhin thấy cô ấy lúc này khiến tim tôi như thắt lại; nghe tiếng nàng oán trách làm gan ruột tôi quặn đau. Tôi chỉ biết đáp lại bằng một cử chỉ — đó là tất cả những gì tôi có thể làm lúc bấy giờ — thể hiện rằng tôi hoàn toàn khuất phục trước ý muốn của nàng.

Sắc đỏ bừng vì giận dữ trên mặt cô ấy bắt đầu dịu xuống khi tôi lững thững quay về chỗ cũ và lủi thủi ngồi xuống chiếc ghế trong bầu không khí lặng thinh. Cô ấy đứng thừ người một lúc để lấy lại bình tĩnh. Khi tiếp tục câu chuyện, chỉ còn sót lại duy nhất một biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt Rachel. Cô ấy nói mà chẳng thèm liếc nhìn tôi lấy một lần. Hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trước đùi, và đôi mắt dán chặt xuống mặt đất.

“Lẽ ra tôi phải đối xử công bằng với anh bằng cách tự giải thích rõ ràng,” cô ấy nói lại đúng câu nói của tôi khi nãy. “Anh sẽ thấy liệu tôi đã thực sự cố gắng công bằng với anh hay chưa. Vừa rồi tôi đã nói với anh rằng tôi chưa từng chợp mắt, và cũng chẳng bao giờ đặt lưng xuống giường kể từ sau khi anh rời khỏi phòng khách của tôi. Thật vô ích nếu cứ cố kể lể những gì tôi đã suy nghĩ lúc đó — anh có bao giờ hiểu được suy nghĩ của tôi đâu — tôi sẽ chỉ kể cho anh nghe những việc tôi đã làm, khi thời gian trôi qua đủ lâu để giúp tôi vực dậy tinh thần. Tôi đã kìm nén không làm ầm lên để tố cáo với cả nhà chuyện gì vừa xảy ra — điều mà lẽ ra tôi phải làm. Bất chấp những gì tận mắt chứng kiến, tôi vẫn dành cho anh thứ tình cảm đủ lớn để tin tưởng — dù cho có chuyện gì xảy ra đi nữa! — tin vào bất kỳ điều phi lý nào còn hơn là thừa nhận với chính tâm can rằng anh đích thị là một kẻ trộm có chủ đích. Tôi đã suy đi tính lại — và cuối cùng quyết định viết thư cho anh.”

“Anh chưa bao giờ nhận được bức thư đó.”

“Tôi biết anh chưa bao giờ nhận được nó. Đợi một chút, rồi anh sẽ hiểu lý do tại sao. Bức thư của tôi sẽ không phơi bày bất cứ điều gì tường tận. Nó sẽ không hủy hoại cuộc đời anh nếu chẳng may lọt vào tay kẻ khác. Nó sẽ chỉ viết — theo một cách mà chính anh cũng không thể nào hiểu nhầm được — rằng tôi có cơ sở để biết anh đang ngập trong nợ nần, và dựa trên trải nghiệm của chính tôi cũng như của mẹ tôi về anh, anh chẳng phải là kẻ kín kẽ hay tử tế gì cho cam trong cách kiếm tiền mỗi khi túng thiếu. Anh hẳn sẽ nhớ lại chuyến ghé thăm của vị luật sư người Pháp đó, và sẽ thừa hiểu tôi đang ám chỉ điều gì. Nếu anh tiếp tục đọc với chút ít sự quan tâm sau đó, anh sẽ bắt gặp lời đề nghị mà tôi dành cho anh — lời đề nghị riêng tư (hãy nhớ là không một lời bàn tán công khai nào về chuyện này giữa chúng ta nhé!), sẵn sàng cho anh vay một khoản tiền lớn hết mức tôi có thể xoay sở. — Và tôi chắc chắn sẽ lo được số tiền đó!” cô ấy thốt lên, sắc mặt bắt đầu ửng hồng trở lại và đôi mắt ngước lên nhìn thẳng vào tôi. “Chính tôi sẽ đem viên Kim cương đi cầm cố, nếu tôi không thể kiếm ra tiền bằng cách nào khác! Tôi đã viết cho anh những dòng đó. Khoan đã! Tôi còn làm nhiều hơn thế nữa. Tôi đã sắp xếp với Penelope để trao tận tay anh bức thư ấy khi không có ai xung quanh. Tôi lên kế hoạch tự giam mình trong phòng ngủ, và để mặc phòng khách trống hoác suốt buổi sáng hôm đó. Và tôi đã hy vọng — với toàn bộ tâm can và linh hồn, tôi đã hy vọng! — rằng anh sẽ chớp lấy cơ hội đó và lén lút đặt trả viên Kim cương vào lại trong ngăn kéo.”

Tôi toan lên tiếng. Cô ấy giơ tay ra hiệu đầy số nóng và chặn ngang lời tôi. Giữa những đợt biến chuyển tâm lý chóng mặt, cơn giận của Rachel lại bắt đầu sục sôi trở lại. Cô ấy vùng dậy khỏi ghế và tiến sát lại phía tôi.

“Tôi thừa biết anh định nói gì rồi,” cô ấy tiếp lời. “Anh lại chuẩn bị nhắc tôi rằng anh chưa bao giờ nhận được bức thư đó phải không. Tôi sẽ nói cho anh biết lý do. Tôi đã xé nát nó rồi.”

“Vì lý do gì cơ chứ?” tôi hỏi.

“Vì lý do chính đáng nhất trên đời! Thà tôi xé nó đi còn hơn vứt bỏ phí phạm vào một kẻ như anh! Tin tức đầu tiên đến tai tôi vào buổi sáng hôm đó là gì chứ? Ngay lúc kế hoạch nhỏ nhoi của tôi vừa hoàn tất, thì tôi nghe được những gì? Tôi nghe tin rằng chính anh — chính cái con người anh đây!!! — lại là kẻ hăng hái nhất nhà trong việc đi gọi cảnh sát. Anh là người xông xáo nhất; anh là kẻ đầu trò; anh làm việc cật lực hơn bất cứ ai để tìm lại viên đá quý! Anh thậm chí còn trơ trẽn đến mức đòi gặp riêng tôi để hỏi han về vụ mất trộm viên Kim cương — viên Kim cương mà chính tay anh đã trộm; viên Kim cương mà suốt khoảng thời gian đó vẫn nằm gọn trong tay anh! Sau bằng chứng rành rành về sự dối trá và xảo quyệt kinh tởm đó của anh, tôi đã xé nát bức thư thành trăm mảnh. Nhưng ngay cả lúc ấy — ngay cả khi tôi đã phát điên bởi những câu hỏi tra khảo từ viên cảnh sát mà anh đã thuê đến — ngay cả khi đó, trong tôi vẫn còn vương vấn một thứ mê muội ngu ngốc không cho phép tôi từ bỏ anh. Tôi tự nhủ: ‘Hắn ta đã diễn vở kịch đê tiện đó trước mặt mọi người trong nhà rồi. Để xem hắn có dám diễn nó trước mặt tôi hay không.’ Ai đó bảo với tôi rằng anh đang ở trên sân thượng. Tôi đã đi ra sân thượng. Tôi ép mình phải nhìn vào mặt anh; tôi ép mình phải cất lời với anh. Anh quên mất những gì tôi nói rồi sao?”

Lẽ ra tôi có thể đáp rằng mình nhớ từng câu từng chữ. Nhưng vào khoảnh khắc đó, câu trả lời ấy sẽ mang lại mục đích gì cơ chứ?

Làm sao tôi có thể nói với cô ấy rằng những lời nàng thốt ra từng khiến tôi kinh ngạc, đau đớn, từng gợi lên trong đầu tôi nghi vấn rằng cô ấy đang trong trạng thái kích động thần kinh nguy hiểm, thậm chí từng làm dấy lên đôi chút hồ nghi trong tôi rằng liệu việc mất đi viên đá quý có phải là một ẩn số đối với nàng hệt như những người khác trong nhà không — nhưng chưa từng có lấy một giây phút nào hé lộ cho tôi dẫu chỉ một tia sáng về sự thật? Khi chẳng có lấy một mảnh bằng chứng trong tay để minh oan cho sự trong sạch của bản thân, làm sao tôi có thể thuyết phục nàng rằng tôi chẳng hề biết gì nhiều hơn một kẻ qua đường xa lạ về những gì thực sự ẩn giấu trong tâm trí nàng khi cô ấy cất lời với tôi ngoài sân thượng?

“Sự tiện lợi của anh là quên đi tất cả; còn sự tiện lợi của tôi là bắt buộc phải ghi nhớ,” cô ấy tiếp tục. “Tôi thừa biết mình đã nói những gì — bởi tôi đã suy tính kỹ càng trước khi thốt ra chúng. Tôi đã trao cho anh hết cơ hội này đến cơ hội khác để tự thú nhận sự thật. Tôi chẳng bỏ sót điều gì có thể nói — trừ việc thực sự phun ra câu rằng tôi biết chắc anh là thủ phạm của vụ trộm. Và tất cả những gì anh đáp lại tôi, chỉ là cái nhìn với vẻ ngạc nhiên giả tạo đê tiện cùng cái mặt nạ ngây thơ dối trá — hệt như cách anh đang nhìn tôi ngày hôm nay; hệt như cách anh đang xoáy sâu vào tôi lúc này đây! Sáng hôm đó, tôi đã rời đi với sự thật phơi bày trọn vẹn về bản chất của anh — rằng anh tồi tệ chẳng khác gì những sinh vật đê hèn nhất từng bước đi trên mặt đất này!”

“Lẽ ra nếu em chịu mở lời vào thời điểm đó, Rachel, thì khi rời đi, em đã phải nhận thức được rằng mình đã đối xử tàn nhẫn và oan uổng cho một người vô tội.”

“Nếu tôi vạch mặt anh trước mặt người khác,” cô ấy đốp chát lại với một đợt phẫn nộ mới bùng phát, “thì anh đã bị tước đoạt danh dự cả đời rồi! Còn nếu tôi nói ra mà chẳng có ai ngoài hai chúng ta nghe thấy, thì anh cũng sẽ chối bay chối biến, hệt như cách anh đang chối đây thôi! Anh nghĩ tôi sẽ tin lời anh chắc? Liệu một kẻ đã dám làm những chuyện tôi tận mắt chứng kiến — và hành xử sau đó đúng như những gì tôi đã thấy — có bao giờ ngượng ngùng khi thốt ra một lời dối trá hay không? Tôi nhắc lại cho anh rõ một lần nữa, tôi sợ hãi đến phát tởm cái cảnh phải nghe anh thốt ra những lời gian dối, tiếp nối sau nỗi kinh hoàng khi chứng kiến anh đi trộm cắp! Anh cứ mở miệng ra là nói chuyện như thể đây chỉ là một sự hiểu lầm cỏn con mà vài câu giải thích là có thể êm xuôi! Được rồi! Sự hiểu lầm ấy giờ đã chấm dứt. Vậy mọi chuyện đã được giải quyết ổn thỏa chưa? Chưa hề! Mọi thứ vẫn y nguyên chỗ cũ. Tôi không đời nào tin anh bây giờ! Tôi không tin chuyện anh tìm thấy chiếc áo ngủ, tôi không tin vào bức thư của Rosanna Spearman, tôi không tin dù chỉ nửa lời từ miệng anh. Anh đã trộm nó — chính mắt tôi đã thấy! Anh làm bộ làm tịch hòng giúp cảnh sát — chính mắt tôi đã thấy! Anh đã đem viên Kim cương đi thế chấp cho bọn cho vay nặng lãi ở London — tôi dám cá là như thế! (Nhờ ơn cái sự im lặng bỉ ổi của tôi đấy!) anh đã trốn sang lục địa cùng món chiến lợi phẩm vào sáng hôm sau! Sau tất cả những hành vi đê tiện đó, anh vẫn còn sót lại đúng một việc duy nhất có thể làm. Đó là mò đến đây mang theo một lời dối trá cuối cùng trên môi — anh đến đây để khẳng định rằng chính tôi mới là kẻ oan uổng cho anh!”

Nếu tôi còn nán lại thêm dù chỉ một tích tắc nữa, chẳng biết thốt ra những lời lẽ gì sẽ tuột khỏi miệng tôi để rồi mang theo niềm ân hận và xót xa vô ích. Tôi lướt qua cô ấy và đẩy mở cánh cửa lần thứ hai. Lần thứ hai — với sự bướng bỉnh cuồng dã của một người phụ nữ đang lên cơn giận dữ — cô ấy túm lấy cánh tay tôi, chặn đứng lối ra.

“Để tôi đi, Rachel,” tôi nói. “Sẽ tốt hơn cho cả đôi bên. Hãy để tôi đi.”

Cơn cuồng nộ kích động dâng nghẹn trong lồng ngực — nhịp thở dồn dập, co giật của cô ấy gần như phả thẳng vào mặt tôi khi nàng cố giữ tôi lại ở cửa.

“Sao anh lại đến đây?” cô ấy vẫn bướng bỉnh truy vấn. “Tôi hỏi anh lại lần nữa — sao anh lại đến đây? Bộ anh sợ tôi sẽ vạch trần bộ mặt thật của anh chắc? Bây giờ anh đã là một kẻ giàu sang, giờ anh đã có địa vị trong xã hội, giờ anh có thể kết hôn với bất kỳ tiểu thư đài các nào trên cõi đời này — anh sợ rằng tôi sẽ thốt ra những lời mà trước nay tôi chưa từng hé lộ với bất kỳ ai ngoài anh sao? Tôi không thốt lên được! Tôi chẳng thể vạch trần anh nổi đâu! Xét cho cùng, tôi còn tệ hại hơn cả anh, nếu còn có thứ gì có thể tồi tệ hơn thế.” Tiếng nức nở và nước mắt bỗng trào ra từ cô ấy. Rachel cuồng hận giãy giụa; đôi bàn tay càng lúc càng xiết chặt lấy tôi chắc hơn. “Ngay cả lúc này, tôi cũng không tài nào dứt bỏ anh ra khỏi trái tim mình!” cô ấy nghẹn ngào. “Anh cứ việc bấu víu lấy cái sự yếu mềm nhục nhã, đáng khinh này — thứ duy nhất chỉ biết chống lại anh theo cái cách bi thảm này thôi!” Cô ấy đột ngột buông thõng tôi ra — tung hai tay lên và quờ quạng đầy tuyệt vọng giữa không trung. “Bất kỳ người phụ nữ bình thường nào trên đời này cũng sẽ phải thấy kinh tởm khi chạm vào cái thứ đê tiện như hắn!” cô ấy thét lên. “Lạy Chúa! Thậm chí tôi còn căm ghét chính bản thân mình hơn cả sự căm phở mà tôi dành cho hắn nữa!”

Nước mắt bất giác trào ra khóe mi tôi mặc cho ý chí chủ quan — sự kinh hoàng của cảnh tượng đó đã vượt quá giới hạn chịu đựng.

“Rồi sẽ có ngày em nhận ra rằng mình đã oan uổng cho anh,” tôi nói. “Hoặc em sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy mặt anh thêm lần nào nữa!”

Dứt lời, tôi quay lưng bỏ đi. Cô ấy chồm dậy khỏi chiếc ghế mà mình vừa ngã quỵ xuống khoảnh khắc trước: cô ấy bật dậy — người phụ nữ cao quý ấy! — và đuổi theo tôi qua căn phòng ngoài, gửi gắm lại một lời xót thương vội vã lúc chia tay.

“Franklin!” cô ấy gọi với theo. “Tôi tha thứ cho anh! Ồ, Franklin, Franklin! Chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa đâu. Hãy nói là anh tha thứ cho tôi đi!”

Tôi quay người lại, cố để khuôn mặt bộc lộ rằng mình đã nghẹn ngào đến mức chẳng thể cất nên lời — tôi quay đi, giơ tay vẫy chào, và thoáng nhìn thấy bóng dáng mờ ảo của cô ấy qua màn nước mắt cuối cùng đã đánh gục tôi hoàn toàn.

Khoảnh khắc tiếp theo, nỗi cay đắng tột cùng ấy cũng đã qua đi. Tôi đã bước ra ngoài khu vườn. Chẳng còn nhìn thấy cô ấy, cũng chẳng còn nghe thấy âm thanh nào nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.