Tôi chẳng có lời nào để nói về cảm giác của chính mình lúc ấy.
Ấn tượng của tôi là cú sốc giáng xuống đã hoàn toàn tước đoạt khả năng suy nghĩ và cảm nhận của tôi. Chắc chắn tôi chẳng hề ý thức được mình đang làm gì khi Betteredge bước đến bên tôi—vì theo lời kể của ông, tôi đã cười khi ông hỏi chuyện gì đang xảy ra, rồi nhét chiếc áo ngủ vào tay ông và bảo ông tự tìm lấy lời giải cho câu đố đó.
Về những gì chúng tôi đã nói với nhau trên bờ biển, tôi không còn nhớ mảy may chút nào. Nơi đầu tiên mà tôi có thể hình dung lại rõ ràng trong tâm trí lúc này là rừng thông. Betteredge và tôi đang cùng nhau quay trở lại căn nhà; và Betteredge bảo rằng tôi sẽ đủ sức đối mặt với chuyện này, và ông cũng sẽ đủ sức đối mặt với nó, sau khi chúng tôi làm một ly rượu mạnh pha loãng.
Cảnh tượng chuyển từ rừng thông sang phòng khách nhỏ của Betteredge. Sự quyết tâm không bao giờ bước chân vào ngôi nhà của Rachel của tôi đã trôi vào quên lãng. Tôi cảm nhận một cách đầy biết ơn sự mát mẻ, bóng râm và sự yên tĩnh của căn phòng. Tôi uống ly rượu mạnh (một thứ xa xỉ hoàn toàn mới mẻ đối với tôi vào thời điểm ấy trong ngày), được người bạn già tốt bụng của tôi pha với nước đá lạnh ngắt lấy từ dưới giếng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khác, thức uống ấy chắc chắn sẽ khiến tôi mê mệt. Nhưng ngặt nỗi, nó lại làm các dây thần kinh trong tôi căng lên. Tôi bắt đầu "đối mặt", như Betteredge đã dự đoán. Và về phần mình, Betteredge cũng bắt đầu "đối mặt".
Hình ảnh mà tôi đang thể hiện về bản thân mình lúc này, tôi đoán rằng, sẽ bị coi là một hình ảnh rất kỳ quặc, nếu không muốn nói là kỳ cục nhất. Đặt mình vào một hoàn cảnh mà tôi nghĩ có thể mô tả là hoàn toàn có một không hai, thì hành động đầu tiên tôi làm là gì? Liệu tôi có tự tách mình ra khỏi mọi mối quan hệ xã hội không? Liệu tôi có vắt óc phân tích cái điều vô lý tột cùng nhưng lại đang hiện diện trước mắt như một sự thật không thể chối cãi ấy không? Liệu tôi có vội vã quay về London chuyến tàu đầu tiên để tham vấn những chuyên gia cao cấp nhất và lập tức mở cuộc điều tra kỹ lưỡng không? Không. Tôi chấp nhận nương náu trong một ngôi nhà mà tôi từng thề không bao giờ hạ mình bước chân vào nữa; và tôi ngồi nhâm nhi rượu pha nước cùng một lão gia nhân vào lúc mười giờ sáng. Đó có phải là cách cư xử mà người ta có thể mong đợi ở một kẻ đang ở vào cái vị trí khủng khiếp của tôi không? Tôi chỉ có thể trả lời rằng việc nhìn thấy gương mặt quen thuộc của lão Betteredge là một niềm an ủi không sao tả xiết đối với tôi, và việc uống ly rượu mạnh của lão Betteredge đã giúp tôi—như tôi tin là không gì khác có thể giúp được—trong tình trạng suy sụp hoàn toàn cả về thể xác lẫn tinh thần mà tôi đang mắc phải. Tôi chỉ có thể đưa ra lời bào chữa ấy cho mình; và tôi chỉ có thể ngưỡng mộ cái sự giữ gìn phẩm giá trước sau như một, cùng sự nhất quán đến mức rạch ròi trong nguyên tắc ứng xử của mọi người đàn ông và đàn bà đang đọc những dòng này, trong mọi tình huống khẩn cấp của cuộc đời họ từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.
“Này cậu Franklin, dù thế nào đi nữa thì có một điều chắc chắn,” Betteredge vừa nói, vừa vứt chiếc áo ngủ xuống chiếc bàn giữa chúng tôi và chỉ tay về phía nó như thể đó là một sinh vật sống có thể nghe hiểu lời mình. “Trước hết, hắn là một kẻ nói dối.”
Quan điểm an ủi này về vấn đề không phải là cách nhìn nhận xuất hiện trong tâm trí tôi.
“Tôi hoàn toàn không hay biết gì về việc mình đã lấy chiếc Kim Cương, cũng như anh vậy,” tôi nói. “Nhưng bằng chứng đang chống lại tôi kìa! Vết sơn trên áo ngủ và cái tên trên áo ngủ là những sự thật rành rành.”
Betteredge nhấc ly nước của tôi lên và đầy vẻ thuyết phục đặt nó vào tay tôi.
“Sự thật ư?” ông lặp lại. “Cạn thêm một ngụm rượu đi cậu Franklin, và cậu sẽ vượt qua cái sự yếu đuối là đi tin vào mấy cái sự thật ấy! Có trò bẩn thỉu ở đây, thưa cậu!” ông tiếp tục, hạ giọng đầy vẻ tâm tình. “Đó mới là cách tôi giải mã câu đố này. Đang có mưu mô mờ ám nào đó ở đâu đây—và cậu với tôi phải tìm ra cho bằng được. Khi cậu thò tay vào chiếc hộp thiếc, không còn thứ gì khác trong đó sao?”
Câu hỏi lập tức gợi cho tôi nhớ đến bức thư nằm trong túi áo. Tôi lấy nó ra và mở ra. Đó là một bức thư dài nhiều trang, chữ viết chi chít. Tôi sốt sắng tìm chữ ký ở cuối thư. “Rosanna Spearman.”
Khi đọc đến cái tên ấy, một ký ức bất chợt bừng sáng trong tâm trí tôi, và một mối nghi ngờ bất ngờ nảy sinh từ luồng ánh sáng mới mẻ đó.
“Khoan đã!” tôi kêu lên. “Rosanna Spearman từng được đưa từ một trại giáo dưỡng đến chỗ dì tôi ư? Rosanna Spearman từng là một kẻ trộm sao?”
“Chuyện đó thì không thể chối cãi được rồi, thưa cậu Franklin. Giờ thì sao nào, nếu cậu muốn hỏi tiếp?”
“Giờ thì sao ư? Làm sao chúng ta biết được rốt cuộc chính cô ta mới là kẻ đã lấy cắp chiếc Kim Cương? Làm sao chúng ta biết được chính cô ta đã không cố ý bôi bẩn chiếc áo ngủ của tôi bằng vết sơn?”
Betteredge đặt tay lên cánh tay tôi, ngăn tôi lại trước khi tôi kịp nói thêm điều gì.
“Cậu sẽ được minh oan trong chuyện này, thưa cậu Franklin, điều đó là chắc chắn vượt ngoài mọi nghi ngờ. Nhưng tôi hy vọng cậu sẽ không được minh oan theo cái cách đó. Hãy xem bức thư viết gì đi cậu. Vì sự công bằng đối với ký ức của cô tội nghiệp ấy, hãy xem nó viết gì đi.”
Tôi cảm nhận được sự khẩn khoản trong giọng nói của ông—cảm nhận nó như một lời quở trách đầy thiện ý dành cho tôi. “Anh sẽ tự đưa ra phán quyết về bức thư của cô ta,” tôi nói. “Tôi sẽ đọc to nó lên.”
Tôi bắt đầu đọc những dòng sau đây:
“Thưa ngài—tôi có chuyện này muốn thú nhận với ngài. Một lời thú tội mang theo biết bao cay đắng đôi khi chỉ có thể được bày tỏ bằng rất ít từ. Lời thú tội này có thể gói gọn trong ba từ. Tôi yêu ngài.”
Bức thư tuột khỏi tay tôi. Tôi nhìn Betteredge. “Nhân danh Chúa,” tôi nói, “điều này có nghĩa là gì?”
Ông có vẻ chần chừ không muốn trả lời câu hỏi đó.
“Sáng nay cậu và Lucy Chẹo đã ở một mình với nhau, thưa cậu,” ông nói. “Cô ta không nói gì về Rosanna Spearman sao?”
“Cô ta thậm chí còn chẳng nhắc đến tên Rosanna Spearman.”
“Xin cậu hãy đọc tiếp bức thư đi, thưa cậu Franklin. Tôi nói thẳng cho cậu biết, tôi không đành lòng nào làm cậu đau lòng thêm nữa, sau những gì cậu đã phải gánh chịu từ nãy đến giờ. Hãy để chính cô ta lên tiếng đi cậu. Và tiếp tục uống ly rượu mạnh của vì chính bản thân cậu đi. Vì lợi ích của chính cậu, hãy uống tiếp đi.”
Tôi tiếp tục đọc bức thư.
“Thật là một nỗi nhục nhã ê chề cho tôi khi phải thú nhận điều này với ngài, nếu tôi vẫn còn sống vào lúc ngài đọc nó. Tôi đã chết và đi khuất rồi, thưa ngài, khi ngài tìm thấy bức thư của tôi. Chính điều đó đã tiếp cho tôi sự can đảm. Sẽ chẳng còn lại ngay cả nấm mồ để người đời nhắc đến tôi. Tôi có thể thổ lộ sự thật—với bãi cát lún đang chờ để che giấu tôi ngay khi những dòng chữ này vừa được viết xong.
“Hơn nữa, ngài sẽ tìm thấy chiếc áo ngủ của mình trong chỗ ẩn náu của tôi, vẫn còn vương vết sơn trên đó; và ngài sẽ muốn biết tại sao nó lại được cất giấu bởi tôi ư? Và tại sao khi còn sống tôi lại không hề hé răng nửa lời với ngài về chuyện đó? Tôi chỉ có một lý do duy nhất để giải thích. Tôi đã làm những điều kỳ lạ ấy, chỉ vì tôi yêu ngài.
“Tôi sẽ không làm phiền ngài bằng những chuyện dài dòng về bản thân mình, hay về cuộc đời tôi trước khi ngài bước chân vào dinh cơ của quý bà. Phu nhân Verinder đã đưa tôi ra khỏi một trại giáo dưỡng. Tôi đã vào trại giáo dưỡng từ nhà tù. Tôi bị tống vào tù, bởi vì tôi là một kẻ trộm. Tôi trở thành kẻ trộm, bởi vì mẹ tôi đã dấn thân vào chốn giang sơn đàng điếm khi tôi hãy còn là một cô bé rất nhỏ. Mẹ tôi phải ra đường kiếm sống bằng thân xác, bởi vì người đàn ông là cha tôi đã nhẫn tâm rũ bỏ bà. Chẳng có lý do gì để kể lể dài dòng một câu chuyện quá đỗi tầm thường thế này. Nó vốn dĩ đã được đăng tải quá đủ trên các mặt báo rồi.
“Phu nhân Verinder đã đối xử rất tử tế với tôi, và ông Betteredge cũng rất tử tế với tôi. Hai người đó, cùng với người quản thị ở trại giáo dưỡng, là những con người tốt bụng duy nhất mà tôi từng gặp trong suốt cuộc đời mình. Lẽ ra tôi đã có thể trụ lại được ở chỗ làm của mình—dù chẳng hạnh phúc gì cho cam—nhưng tôi đã có thể thích nghi, nếu ngài không đến viếng thăm. Tôi không trách ngài đâu, thưa ngài. Đó là lỗi của tôi—hoàn toàn là lỗi của tôi.
“Ngài có nhớ sáng hôm đó, khi ngài từ giữa những cồn cát bước ra tìm ông Betteredge không? Ngài trông giống như một vị hoàng tử trong truyện cổ tích. Ngài trông giống như một người tình trong mộng. Ngài là sinh vật đáng yêu nhất mà tròng mắt tôi từng được chiêm ngưỡng. Một cảm giác tựa như cuộc sống hạnh phúc mà tôi chưa từng có được bao giờ, bỗng chùng dâng lên trong ngực tôi ngay khoảnh khắc tôi trông thấy ngài. Xin đừng cười chê điều này nếu ngài có thể kìm nén được. Ồ,á giá tôi có thể làm cho ngài cảm nhận được mọi chuyện nghiêm túc nhường nào đối với tôi!
“Tôi quay trở lại ngôi nhà, rồi viết tên ngài và tên tôi vào chiếc hộp đựng đồ khâu vá của mình, và vẽ một nút thắt tình nhân bên dưới hai cái tên đó. Rồi, một tên ác quỷ nào đó—không, tôi phải nói là một vị thiên thần hộ mệnh nào đó—đã thì thầm vào tai tôi: ‘Hãy đi soi gương xem nào.’ Tấm gương đã bảo tôi rằng—thôi khỏi nhắc lại thì hơn. Tôi đã quá ư ngu ngốc khi phớt lờ lời cảnh báo ấy. Tôi cứ thế lún sâu hơn vào tình yêu dành cho ngài, hệt như thể tôi là một tiểu thư đài các cùng đẳng cấp với ngài, và là sinh vật diễm lệ nhất mà ánh mắt ngài từng dừng lại. Tôi đã cố gắng—ôi trời ơi, tôi đã cố gắng xiết bao—để làm sao cho ngài thèm liếc nhìn tôi lấy một bận. Nếu ngài biết được tôi từng khóc thét lên thế nào vào ban đêm vì sự khốn khổ và nỗi nhục nhã khi bị ngài hoàn toàn phớt lờ, thì có lẽ ngài đã rủ lòng thương hại tôi, và thỉnh thoảng ban cho tôi một ánh nhìn để tôi có thể vịnh vào đó mà sống tiếp.
“Đó có lẽ chẳng phải là một ánh nhìn mấy gì tử tế đâu, nếu ngài biết được tôi đã căm ghét cô Rachel đến nhường nào. Tôi tin rằng mình đã phát hiện ra ngài đang thầm yêu trộm nhớ cô ta, từ trước khi chính ngài nhận ra điều đó. Cô ta hay cho ngài những đóa hồng để cài lên khuy áo. À, cậu Franklin, ngài đã cài những bông hồng của tôi thường xuyên hơn cả ngài và cô ta tưởng đấy! Niềm an ủi duy nhất của tôi lúc bấy giờ, là lén lút thả bông hồng của tôi vào ly nước của ngài, thay vào chỗ bông hồng của cô ta—rồi vứt phăng bông hồng của cô ta đi.
“Giá như cô ta thực sự xinh đẹp như ngài tưởng tượng, thì có lẽ tôi đã dễ dàng chịu đựng hơn một chút. Không; tôi tin là tôi sẽ càng căm ghét cô ta cay đắng hơn ấy chứ. Giả sử ngài bắt cô Rachel mặc trang phục của người hầu và lột bỏ hết trang sức trên người cô ta xem? Tôi chẳng biết mình viết những điều này để làm gì nữa. Không thể chối cãi là dáng vóc cô ta chẳng đẹp gì cho cam; cô ta quá gầy. Nhưng ai mà đoán được đàn ông thích kiểu gì cơ chứ? Và các tiểu thư khuê các đôi khi lại có những cách hành xử mà nếu là người hầu thì đã bị tus việc từ lâu rồi. Đó chẳng phải là chuyện của tôi. Tôi không thể mong ngài đọc bức thư của mình, nếu tôi cứ viết theo cái giọng điệu này. Nhưng quả thật người ta cứ thấy bực bội làm sao khi nghe người ta gọi cô Rachel là xinh đẹp, trong khi suốt ngày mình cứ đinh ninh rằng chính y phục và sự tự tin thái quá mới làm nên vẻ đẹp đó của cô ta.
“Xin ngài hãy cố gắng đừng mất kiên nhẫn với tôi. Tôi sẽ nhanh chóng viết tiếp đến quãng thời gian chắc chắn sẽ làm ngài quan tâm—khoảng thời gian chiếc Kim Cương bị mất cắp.
“Nhưng có một điều này cứ canh cánh trong lòng mà tôi muốn kể cho ngài nghe trước tiên.
“Cuộc đời tôi vốn dĩ chẳng phải là một quãng đời quá ư cay đắng khó nhọc khi tôi còn làm kẻ trộm. Chỉ đến khi tôi được dạy dỗ trong trại giáo dưỡng để nhận thức về sự đê tiện của chính mình, và bắt đầu phấn đấu vì những điều tốt đẹp hơn, thì những ngày tháng mới trở nên đằng đẵng và mệt mỏi. Những hoài bão về tương lai cứ thế ép buộc tôi phải suy nghĩ. Tôi cảm nhận được sự quở trách đầy cay đắng mà những người lương thiện—ngay cả những người lương thiện tử tế nhất—mang lại cho tôi chỉ bằng sự tồn tại của họ. Một cảm giác cô đơn xé lòng cứ đeo bám tôi mãi, dù tôi có đi đến đâu, làm bất cứ việc gì, hay gặp gỡ bất kỳ ai đi nữa. Tôi biết rằng bổn phận của mình là phải cố gắng hòa thuận với các đồng sự ở chỗ làm mới. Không hiểu sao, tôi chẳng thể nào kết bạn nổi với họ. Trông họ cứ như thể (hoặc tôi tưởng là họ đang) nghi ngờ về quá khứ từng làm kẻ trộm của tôi vậy. Tôi không hề hối tiếc—còn lâu mới thế—về việc mình đã được đánh thức để nỗ lực trở thành một người phụ nữ hướng thiện, nhưng quả thật, quả thật đó là một cuộc đời vô cùng mệt mỏi. Ban đầu, ngài lướt qua cuộc đời tôi tựa như một tia nắng ấm áp—rồi ngài cũng quay lưng với tôi. Tôi đã phát điên lên vì yêu ngài; thế mà tôi còn chẳng tài nào thu hút nổi sự chú ý của ngài nữa là. Đã có một nỗi đau khổ tột cùng—thực sự là có một nỗi đau khổ tột cùng trong chuyện đó.
“Giờ thì tôi xin quay lại điều mà tôi muốn thổ lộ với ngài. Trong những ngày tháng cay đắng ấy, đã hai hay ba lần, vào ngày đến lượt được nghỉ ra ngoài, tôi đã đến chốn quen thuộc của mình—bãi cát phía trên vùng Cát Lún Sợ Hãi. Và tôi tự nhủ với bản thân rằng, ‘Tôi nghĩ mọi chuyện sẽ chấm dứt ở đây thôi. Khi nào không thể chịu đựng nổi nữa, tôi nghĩ mọi chuyện sẽ kết thúc ở đây.’ Ngài sẽ hiểu thôi, thưa ngài, rằng nơi chốn ấy đã phủ lên tôi một thứ bùa chú nào đó từ trước khi ngài đến. Tôi vẫn luôn có linh tính rằng sẽ có một tai họa gì đó giáng xuống đời mình tại bãi cát lún này. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn nó với ý nghĩ rằng nó sẽ là phương tiện để tôi tự kết liễu đời mình, cho đến tận khoảng thời gian mà tôi đang viết ra đây. Khi ấy, tôi thực sự đã nghĩ rằng đây chính là nơi sẽ chấm dứt mọi muộn phiền của tôi chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi—và giấu tiệt tôi đi vĩnh viễn về sau.
“Đó là tất cả những gì tôi muốn nói về bản thân mình, tính từ buổi sáng khi tôi lần đầu tiên nhìn thấy ngài, cho đến buổi sáng khi cả ngôi nhà náo động vì tin chiếc Kim Cương đã bị mất.
“Tôi cảm thấy vô cùng bực bội trước những lời bàn tán ngốc nghếch của đám nữ gia nhân, ai nấy đều xôn xao đoán già đoán non xem ai là kẻ đáng ngờ đầu tiên; và tôi cũng vô cùng tức giận với ngài (vì lúc đó chẳng biết gì hơn) vì sự nhọc công của ngài trong việc lùng sục viên ngọc quý và phái người đi gọi cảnh sát, nên tôi đã cố tình lánh mặt đi một mình hết mức có thể, cho đến tận muộn ngày hôm đó, khi viên thanh tra từ Frizinghall đến nhà.
“Như ngài còn nhớ, ông Seegrave bắt đầu công việc bằng cách cho lính canh gác các phòng ngủ của phụ nữ; và đám nữ nhân liền đùng đùng nổi giận kéo cả lên lầu để chất vấn xem ý ông ta là gì khi dám lăng mạ họ như vậy. Tôi cũng đi theo họ, bởi vì nếu tôi làm điều gì đó khác biệt với số đông, thì ông Seegrave chính là kiểu người sẽ lập tức hoài nghi tôi. Chúng tôi tìm thấy ông ta trong phòng của cô Rachel. Ông ta bảo rằng ông ta không muốn có một đám đông đàn bà huyên náo ở đây; rồi ông ta chỉ vào vết bẩn trên cánh cửa được sơn và bảo rằng chính tà áo của một vài người trong số chúng tôi đã gây ra chuyện đó, rồi lùa tất cả chúng tôi xuống lầu lại.
“Sau khi rời khỏi phòng cô Rachel, tôi dừng lại một lát ở chiếu nghỉ cầu thang một mình, để xem liệu cái vết sơn ấy có vô tình dính vào váy của mình không. Penelope Betteredge (người hầu gái duy nhất mà tôi có quan hệ thân thiết) đi ngang qua và nhận ra tôi đang làm gì.
‘Cậu chẳng cần phải bận tâm đâu, Rosanna,’ cô ấy nói. ‘Vết sơn trên cửa phòng cô Rachel đã khô từ mấy tiếng trước rồi. Nếu ông Seegrave không cắt cử người canh gác phòng ngủ của chúng ta, thì tôi đã nói thẳng cho ông ta biết điều đó rồi. Tôi chẳng biết cậu nghĩ thế nào—chứ đời nào tôi lại bị lăng mạ nhục nhã như thế này bao giờ!’
‘Penelope là một cô nàng nóng tính. Tôi liền dỗ dành cô ấy bình tĩnh lại, rồi dẫn dắt cô ấy quay trở lại câu chuyện về việc sơn cửa đã khô từ mấy tiếng trước.
‘Làm sao cậu biết được điều đó?’ tôi hỏi.
‘Tôi ở cùng cô Rachel và cậu Franklin suốt cả buổi sáng hôm qua,’ Penelope nói, ‘để pha màu trong lúc họ hoàn thiện nốt cánh cửa. Tôi nghe cô Rachel hỏi xem liệu đến tối cánh cửa đã khô kịp để đám khách dự tiệc sinh nhật ngắm nghía chưa. Và cậu Franklin đã lắc đầu, bảo rằng phải mất ít nhất mười hai tiếng nó mới khô hẳn. Lúc đó đã qua giờ ăn trưa lâu rồi—phải đến ba giờ chiều họ mới làm xong. Phép tính của cậu nói thế nào hở Rosanna? Còn phép tính của tôi thì bảo rằng cánh cửa đã khô ráo vào lúc ba giờ sáng nay rồi.’
‘Có vị phu nhân nào lên lầu vào tối hôm qua để ngắm nó không?’ tôi hỏi. ‘Tôi tưởng mình nghe thấy cô Rachel cảnh báo họ tránh xa cánh cửa ra cơ mà.’
‘Chẳng có vị phu nhân nào làm bôi bẩn cánh cửa cả,’ Penelope đáp. ‘Tôi để cô Rachel ở trên giường lúc mười hai giờ đêm qua. Và tôi có để ý kỹ cánh cửa, lúc đó chẳng có vấn đề gì sai sót với nó cả.’
‘Cậu không định nhắc chuyện này với ông Seegrave sao, Penelope?’
‘Dù có ai dâng hiến bất cứ thứ gì tôi cũng nhất quyết không hé răng nửa lời để giúp ích cho ông Seegrave đâu!’
“Cô ấy quay lại với công việc của mình, còn tôi cũng đi làm việc của tôi.
“Công việc của tôi, thưa ngài, là dọn giường và thu dọn phòng ốc ngăn nắp cho ngài. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của tôi trong suốt cả ngày. Tôi thường hôn lên chiếc gối mà đầu ngài đã gối suốt cả đêm. Dù ai là người làm việc đó sau này đi chăng nữa, ngài cũng sẽ chẳng bao giờ có được những bộ quần áo được gấp gọn gàng đẹp đẽ như cách tôi đã gấp cho ngài. Trong số tất cả những món đồ lặt vặt trong hộp đựng đồ trang điểm của ngài, thậm chí chẳng có lấy một hạt bụi nhỏ bám vào. Ngài chẳng hề mảy may chú ý đến điều đó, cũng giống như ngài chẳng bao giờ chú ý đến tôi vậy. Xin ngài tha lỗi; tôi lại đang quên mất thân phận mình rồi. Tôi sẽ mau chóng viết tiếp đây.
“Vâng, sáng hôm ấy tôi bước vào phòng ngài để làm việc của mình. Chiếc áo ngủ của ngài bị vứt vắt vẻo trên giường, y như lúc ngài vừa cởi ra vứt đi vậy. Tôi cầm nó lên để gấp lại—và tôi nhìn thấy vết sơn dính từ cửa phòng cô Rachel!
“Tôi bàng hoàng đến mức cầm chiếc áo ngủ chạy thốc tháo ra ngoài, lao về phía cầu thang phía sau, rồi tự khóa trái cửa phòng mình lại để ngắm nghía nó ở một nơi không ai có thể xông vào làm phiền hay ngắt quãng.
“Ngay khi lấy lại được hơi thở, tôi nhớ lại cuộc trò chuyện với Penelope, và tự nhủ: ‘Đây chính là bằng chứng cho thấy anh ấy đã có mặt trong phòng khách của cô Rachel trong khoảng thời gian từ mười hai giờ đêm qua cho đến ba giờ sáng nay!’
“Tôi sẽ không dùng những từ ngữ trần trụi để kể cho ngài nghe mối nghi ngờ đầu tiên đã xẹt qua tâm trí tôi khi phát hiện ra điều đó là gì đâu. Ngài sẽ chỉ nổi giận mà thôi—và nếu giận dữ, ngài có thể sẽ xé nát bức thư của tôi ra và không thèm đọc thêm dòng nào nữa.
“Xin hãy chỉ dừng lại ở điều này thôi. Sau khi suy tính kỹ càng hết sức có thể, tôi nhận ra rằng điều đó có vẻ không hợp lý lắm, vì một lý do mà tôi sẽ kể cho ngài nghe. Nếu ngài thực sự có mặt trong phòng khách của cô Rachel vào giờ đó trong đêm, với sự hay biết của cô ấy (và nếu ngài lại quá ư ngốc nghếch đến mức quên mất việc phải cẩn thận với cánh cửa còn ướt sơn) thì cô ta đã nhắc nhở ngài rồi—cô ta đời nào lại để ngài mang đi một vật chứng chống lại mình rõ mồn một như vật chứng mà tôi đang ngắm nghía lúc bấy giờ! Song song đó, tôi cũng thừa nhận rằng trong thâm tâm mình tôi vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn là mình đã chứng minh được mối nghi ngờ của bản thân là sai. Chắc ngài vẫn chưa quên rằng tôi từng thú nhận là mình rất căm ghét cô Rachel chứ. Xin hãy thử nghĩ xem, nếu có thể, rằng đã có một chút lòng thù hận đó trong toàn bộ sự việc này. Và kết cục là tôi đã quyết định giữ lại chiếc áo ngủ đó, rồi chờ đợi, rình mò xem mình có thể lợi dụng nó ra sao. Xin ngài hãy nhớ cho rằng, vào thời điểm đó, trong đầu tôi tuyệt đối chưa hề có dù chỉ là một bóng dáng ý nghĩ nào cho rằng chính ngài đã lấy cắp chiếc Kim Cương.”
Đến đó, tôi dừng việc đọc thư lại lần thứ hai.
Tôi đã đọc những phần trong lời thú tội của người đàn bà khốn khổ ấy liên quan đến bản thân mình với sự kinh ngạc không chút giả trân, và, tôi có thể thành thật nói thêm, với nỗi đau buồn chân thành. Tôi thực sự hối tiếc, vô cùng hối tiếc vì những lời lẽ vu khống mà tôi đã vô tâm trút lên ký ức của cô ta, trước khi tôi đọc được dù chỉ một dòng trong bức thư của cô ta. Nhưng khi tôi đọc tiến đến đoạn được trích dẫn ở trên, tôi thú nhận rằng mình cảm thấy tâm trí ngày càng trở nên cay nghiệt hơn đối với Rosanna Spearman khi tiếp tục đọc xuống dưới. “Anh tự đọc phần còn lại đi,” tôi nói, đoạn đưa bức thư qua bàn cho Betteredge. “Nếu có điều gì trong đó mà tôi buộc phải xem qua, anh cứ việc nói cho tôi biết trong lúc đọc.”
“Tôi hiểu cậu mà, cậu Franklin,” ông đáp. “Đó là điều hiển nhiên thôi, thưa cậu. Và, lạy Chúa xin Chúa phù hộ cho tất cả chúng ta!” ông nói thêm với giọng trầm hơn, “điều đó cũng chẳng có gì là ít tự nhiên hơn ở cô ta cả.”
Tôi xin tiếp tục sao chép phần tiếp theo của bức thư từ bản gốc đang nằm trong tay tôi:—
“Sau khi quyết định giữ lại chiếc áo ngủ và xem xem tình yêu hay lòng thù hận của tôi (tôi khó lòng phân định được cái nào hơn) có thể tận dụng nó vào việc gì trong tương lai, thì điều tiếp theo cần phải tìm cách giải quyết chính là làm sao để giấu nó mà không đối mặt với rủi ro bị phát hiện.
“Chỉ có duy nhất một cách—đó là làm ra một chiếc áo ngủ khác y hệt như vậy, trước khi ngày Thứ Bảy đến mang theo bà chủ tiệm giặt ủi cùng bản kiểm kê của mụ đến ngôi nhà.
“Tôi sợ rằng nếu chần chừ để sang ngày hôm sau (ngày Thứ Sáu) thì nhỡ đâu lại xảy ra tai nạn bất ngờ nào đó trong khoảng thời gian trống ấy. Tôi quyết định phải làm chiếc áo ngủ mới ngay trong ngày hôm đó (ngày Thứ Sáu), trong khi tôi hoàn toàn có thể tính toán để có thời gian riêng cho mình nếu đi đứng khôn ngoan. Việc đầu tiên cần phải làm (sau khi đã khóa kỹ chiếc áo ngủ của ngài vào ngăn kéo của tôi) là quay trở lại phòng ngủ của ngài—không hẳn là để dọn dẹp lại căn phòng cho ngăn nắp (Penelope sẵn lòng làm hộ tôi việc đó nếu tôi nhờ) mà là để tìm xem liệu ngài có vô tình quệt dính chút vết sơn nào từ chiếc áo ngủ của mình lên giường hay lên bất kỳ món đồ nội thất nào trong phòng hay không.
“Tôi đã kiểm tra mọi ngóc ngách thật kỹ lưỡng, và cuối cùng, tôi tìm thấy một vài vệt sơn ở mặt trong chiếc áo choàng ngủ của ngài—không phải chiếc áo choàng bằng vải lanh mà ngài thường mặc vào mùa hè đó, mà là chiếc áo choàng bằng vải nỉ mà ngài cũng mang theo bên mình. Tôi đoán là ngài cảm thấy lạnh người sau khi đi qua đi lại chỉ với mỗi chiếc áo ngủ trên người, nên đã mặc thêm món đồ ấm áp nhất mà ngài tìm thấy. Dù thế nào đi nữa, những vết bẩn vẫn nằm ở đó, vừa vặn có thể nhìn thấy được ở mặt trong chiếc áo choàng ngủ. Tôi dễ dàng tống khứ chúng đi bằng cách dùng dao cạo bỏ phần vải nỉ dính bẩn đó đi. Làm xong việc này, bằng chứng duy nhất còn sót lại chống lại ngài chỉ còn là thứ đang bị khóa kín trong ngăn kéo của tôi.
“Tôi vừa dọn dẹp xong phòng của ngài thì được gọi đến để chịu sự thẩm vấn của ông Seegrave, cùng với tất cả những người hầu khác. Tiếp theo là cuộc kiểm tra tất cả các hòm xiểng của chúng tôi. Và rồi sự kiện kỳ lạ nhất trong ngày đã diễn ra—đối với tôi—kể từ lúc tôi phát hiện ra vết sơn trên chiếc áo ngủ của ngài. Sự kiện này bắt nguồn từ cuộc thẩm vấn lần thứ hai đối với Penelope Betteredge do Giám thị Seegrave tiến hành.
“Penelope quay lại với chúng tôi trong trạng thái giận dữ mất cả khôn hồn trước cách đối xử của ông Seegrave với cô ấy. Ông ta đã bóng gió ám chỉ, không còn chút nghi ngờ nào nữa, rằng ông ta nghi ngờ cô ấy chính là kẻ trộm. Tất cả chúng tôi đều vô cùng kinh ngạc khi nghe điều đó, và đồng thanh hỏi tại sao.
‘Bởi vì chiếc Kim Cương nằm trong phòng khách của cô Rachel,’ Penelope đáp. ‘Và bởi vì tôi là người cuối cùng có mặt trong phòng khách vào ban đêm!’
“Gần như ngay khi những lời đó vừa thốt ra khỏi đôi môi cô ấy, tôi sực nhớ ra rằng có một người khác đã lui tới phòng khách muộn hơn cả Penelope. Người đó chính là ngài. Đầu óc tôi quay cuồng và suy nghĩ rối bời trong một sự hỗn độn khủng khiếp. Giữa lúc ấy, một tiếng nói thầm trong tâm trí mách bảo tôi rằng vết bẩn trên áo ngủ của ngài có thể mang một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt với ý nghĩa mà tôi từng gán cho nó cho đến lúc đó. ‘Nếu người cuối cùng có mặt trong phòng chính là kẻ đáng ngờ,’ tôi tự nhủ, ‘thì kẻ trộm không phải là Penelope, mà chính là cậu Franklin Blake!’
“Trong trường hợp của bất kỳ quý ông nào khác, tôi tin rằng mình sẽ phải hổ thẹn vì đã nghi ngờ ông ta ăn trộm, gần như ngay khi ý nghĩ đó vừa xẹt qua trong tâm trí.
“Nhưng chính cái ý nghĩ trần trụi rằng ngài đã tự hạ thấp mình xuống ngang hàng với tôi, và việc tôi giữ chiếc áo ngủ của ngài trong tay cũng đồng nghĩa với việc tôi đang nắm giữ phương tiện để bảo vệ ngài khỏi bị phát hiện và hủy hoại danh dự suốt đời—tôi xin nói thật, thưa ngài, chính cái ý nghĩ trần trụi ấy dường như đã mở ra trước mắt tôi một cơ hội lớn lao để chiếm được cảm tình của ngài, đến mức tôi đã nhắm mắt đưa chân, có thể nói là thế, chuyển từ sự nghi ngờ sang niềm tin tưởng hoàn toàn. Tôi đã quyết định ngay tại chỗ rằng ngài đã tỏ ra là kẻ hăng hái nhất trong việc đi gọi cảnh sát, chỉ nhằm mục đích đánh lạc hướng tất cả chúng ta; và rằng bàn tay đã cuỗm đi viên ngọc quý của cô Rachel chắc chắn không thể là bàn tay nào khác ngoài bàn tay của ngài.
“Sự kích động trước phát hiện mới mẻ này chắc hẳn đã làm tôi mụ mẫm cả đầu óc trong một lúc. Tôi cảm thấy một khao khát cháy bỏng muốn được nhìn thấy ngài—được thử dò la ngài bằng một vài câu về chiếc Kim Cương, và muốn được ngài nhìn tôi, nói chuyện với tôi bằng cái cách đó—đến mức tôi chải chuốt lại mái tóc, diện mạo thật chỉnh tề nhất có thể rồi mạnh dạn bước vào thư phòng nơi tôi biết chắc ngài đang ngồi viết lách.
“Ngài đã để quên một chiếc nhẫn của mình trên lầu, và đó chính là cái cớ hoàn hảo nhất cho việc xông vào của tôi mà tôi hằng mong đợi. Nhưng, ôi trời ơi, thưa ngài! Nếu ngài đã từng yêu, ngài sẽ hiểu tại sao mọi sự can đảm trong tôi lại tan biến đi đâu hết khi tôi bước chân vào căn phòng và thấy mình đang hiện diện trước mặt ngài. Thế rồi, ngài ngước lên nhìn tôi lạnh lùng làm sao, và ngài cất lời cảm ơn tôi vì đã tìm thấy chiếc nhẫn với một thái độ dửng dưng đến mức đôi chân tôi run lẩy bẩy, và tôi có cảm giác như thể mình sắp ngã quỵ xuống sàn ngay dưới chân ngài vậy. Khi ngài đã cảm ơn xong, ngài lại quay đầu nhìn vào đống giấy tờ đang viết dở, nếu ngài còn nhớ. Tôi cảm thấy bị tổn thương sâu sắc vì đối xử như vậy, nên đã dồn hết can đảm để cất tiếng. Tôi nói, ‘Đúng là một chuyện kỳ lạ về viên Kim Cương phải không thưa ngài.’ Và ngài lại ngước lên, nói, ‘Đúng vậy, kỳ lạ thật!’ Ngài nói năng lịch sự (tôi không thể chối cãi điều đó); nhưng ngài vẫn duy trì một khoảng cách—một khoảng cách tàn nhẫn giữa chúng ta. Lúc bấy giờ, khi tôi đang đinh ninh rằng ngài đang giấu viên Kim Cương bị mất trong người trong lúc nói chuyện với tôi, thái độ dửng dưng của ngài đã khiêu khích tôi đến mức trong lúc nóng giận, tôi đã trở nên cả gan thả một câu bóng gió. Tôi nói, ‘Họ sẽ không bao giờ tìm thấy viên Kim Cương đâu thưa ngài, phải không nào? Không! Cả kẻ đã lấy nó nữa—tôi dám đảm bảo điều đó.’ Tôi gật đầu, mỉm cười với ngài, ra điều ngụ ý rằng: ‘Tôi biết thừa nhé!’ Lần này, ngài ngước nhìn tôi với một vẻ gì đó giống như sự hứng thú hiện lên trong ánh mắt; và tôi cảm thấy rằng chỉ cần cả ngài và tôi nói thêm vài câu nữa thì sự thật có lẽ đã phơi bày. Đúng vào khoảnh khắc ấy, ông Betteredge đã phá hỏng tất cả khi bước ra cửa. Tôi nhận ra tiếng bước chân của ông ấy, và tôi cũng biết rằng việc tôi có mặt ở thư phòng vào thời điểm đó trong ngày là trái với quy tắc của ông ấy—chứ chưa nói đến việc lại đứng kè kè ở đó cùng với ngài. Tôi chỉ vừa kịp lủi ra ngoài theo ý muốn của mình trước khi ông ấy kịp bước vào và ra lệnh cho tôi cút đi. Tôi vô cùng tức giận và thất vọng; nhưng dẫu vậy tôi vẫn chưa đến nỗi tuyệt vọng hoàn toàn. Tảng băng giữa chúng ta, ngài thấy đấy, đã bị đập vỡ—và tôi tự nhủ lần tới mình sẽ phải cẩn thận canh chừng để ông Betteredge không vướng chân vướng tay nữa.
“Khi tôi quay trở lại phòng ăn của người hầu, tiếng chuông điểm giờ ăn trưa đã vang lên. Buổi chiều mất rồi! trong khi nguyên liệu để làm chiếc áo ngủ mới vẫn chưa kiếm được! Chỉ có duy nhất một cơ hội để kiếm được chúng. Tôi đã giả vờ đổ bệnh vào giờ ăn trưa; và nhờ thế tôi đã thâu tóm toàn bộ khoảng thời gian từ lúc đó cho đến giờ uống trà để làm việc riêng của mình.
“Tôi đã làm những gì trong lúc cả nhà đang đinh ninh rằng tôi đang nằm nghỉ trong phòng của mình; và tôi đã trải qua đêm hôm đó như thế nào, sau khi lại giả vờ bệnh một vố nữa vào giờ uống trà và bị bắt lên lầu đi ngủ sớm, thì chẳng cần phải kể cho ngài nghe làm gì. Thanh tra Cuff đã khám phá ra ngần ấy thứ, nếu như ông ta không phát hiện ra thêm điều gì khác. Và tôi có thể đoán được bằng cách nào. Tôi đã bị bắt quả tang (dù tôi vẫn kéo sụp mạng che mặt xuống) ngay tại cửa hàng vải ở Frizinghall. Có một chiếc gương soi đặt ngay trước mặt tôi, ở cái quầy nơi tôi đang mua vải dài lanh; và—trong tấm gương đó—tôi thấy một gã nhân viên cửa hàng chỉ vào vai tôi và thì thầm với gã khác. Đêm đến, trong lúc tôi đang lén lút làm việc, khóa trái cửa phòng lại, tôi còn nghe thấy tiếng thở của đám nữ gia nhân đang hoài nghi tôi đứng ngay ngoài cửa phòng mình.
“Lúc đó thì chẳng hề gì; bây giờ thì cũng chẳng sao cả. Vào sáng thứ Sáu, từ nhiều tiếng đồng hồ trước khi Thanh tra Cuff bước chân vào ngôi nhà, chiếc áo ngủ mới đã hoàn thành—để bù vào số lượng chiếc áo ngủ của ngài thay cho cái mà tôi đã giữ lại—nó đã được may xong, vắt khô, phơi khô, ủi phẳng, đánh dấu và gấp gọn gàng y hệt như cách bà chủ tiệm giặt ủi gấp tất cả những chiếc khác, nằm an toàn trong ngăn kéo của ngài. Sẽ chẳng có chút sợ hãi nào (nếu toàn bộ đồ vải trong nhà bị đem ra kiểm tra) về việc chiếc áo ngủ mới tinh sẽ tố cáo tôi. Toàn bộ đồ lót của ngài đã được sắm mới hoàn toàn khi ngài đến nhà chúng tôi—tôi cho là vào thời điểm ngài vừa trở về nhà từ những vùng đất phương xa.
“Tiếp theo là sự xuất hiện của Thanh tra Cuff; và bất ngờ lớn tiếp theo chính là thông báo về những gì ông ta suy luận được về vết bẩn trên cánh cửa.
“Tôi từng đinh ninh ngài là kẻ có tội (như tôi đã thú nhận), phần lớn là vì tôi muốn ngài phải có tội hơn là vì bất kỳ lý do nào khác. Và giờ đây, Thanh tra Cuff đã đi một con đường hoàn toàn khác để đi đến cùng một kết luận (liên quan đến chiếc áo ngủ) giống hệt như tôi! Và tôi thì đang nắm giữ món đồ chính là vật chứng duy nhất chống lại ngài! Và không một sinh vật sống nào trên đời này biết được điều đó—tính cả ngài nữa đấy! Tôi không dám kể cho ngài nghe cảm giác của mình lúc nhớ lại những chuyện ấy đâu—ngài sẽ căm ghét ký ức về tôi đến hết phần đời còn lại mất.”
Đến đoạn đó, Betteredge ngẩng đầu lên khỏi bức thư.
“Chẳng có lấy một tia sáng nào cho đến lúc này cả, cậu Franklin,” ông già vừa nói vừa tháo chiếc kính gọng đồi mồi dày cộp ra, rồi đẩy lời thú nhận của Rosanna Spearman ra xa mình một chút. “Cậu đã đi đến kết luận nào chưa, thưa cậu, trong tâm trí mình trong lúc tôi đang đọc thế này?”
“Hãy đọc nốt bức thư đi đã, Betteredge; biết đâu có điều gì đó sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện ở phần cuối của nó. Tôi sẽ có đôi lời muốn nói với anh sau khi đọc xong.”
“Rất sẵn lòng, thưa cậu. Tôi chỉ nhắm mắt nghỉ ngơi một lát rồi sẽ đọc tiếp ngay đây. Nhân tiện đây, cậu Franklin—tôi không có ý giục giã gì đâu—nhưng cậu có phiền không nếu nói cho tôi biết, chỉ trong một từ thôi, là cậu đã thấy lối thoát khỏi cái rắc rối khủng khiếp này chưa?”
“Tôi thấy con đường quay lại London,” tôi nói, “để tham vấn ông Bruff. Nếu ông ấy không thể giúp tôi——”
“Vâng, thưa cậu?”
“Và nếu Thanh tra không chịu rời khỏi nơi chốn ẩn dật của ông ấy ở Dorking——”
“Ông ấy sẽ không đời nào rời đi đâu, cậu Franklin ạ!”
“Thế thì, Betteredge—theo như những gì tôi thấy lúc này—tôi đã cạn sạch mọi nguồn lực rồi. Sau ông Bruff và Thanh tra ra, tôi chẳng còn biết đến một sinh vật sống nào có thể giúp ích dù chỉ là một chút cho tôi nữa.”
Khi những lời đó vừa thốt ra khỏi miệng tôi, có tiếng ai đó ở bên ngoài gõ cửa phòng.
Betteredge tỏ ra ngạc nhiên lẫn bực bội trước tiếng gõ cửa ngắt quãng.
“Vào đi,” ông cất tiếng gọi, đầy vẻ cáu kỉnh, “dù cậu là bất cứ ai đi nữa!”
Cánh cửa mở ra, và bước vào phòng chúng tôi, một cách lặng lẽ, là người đàn ông có vẻ ngoài kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy. Đánh giá qua vóc dáng và cử động của hắn, hắn vẫn còn trẻ tuổi. Đánh giá qua gương mặt, và khi đặt lên bàn cân so sánh với Betteredge, trông hắn có vẻ lớn tuổi hơn cả ông già. Làn da của hắn ngăm đen như dân du mục; đôi má hóp sâu hoắm khiến phần xương gò má nhô lên trông giống như một mái hiên nhô ra. Sống mũi của hắn mang đường nét thanh tú và cấu trúc tinh xảo thường thấy ở những dân tộc cổ xưa ở phương Đông, nhưng lại cực kỳ hiếm gặp ở các chủng tộc mới nổi ở phương Tây. Trán hắn cao và phẳng lì từ chân mày trở lên. Những vết hằn và nếp nhăn trên mặt hắn thì vô kể. Từ khuôn mặt kỳ lạ ấy, đôi mắt còn kỳ lạ hơn nữa, mang sắc nâu mềm mại nhất—đôi mắt mơ màng, u sầu và chìm sâu trong hốc mắt—nhìn đăm đăm về phía bạn và (ít nhất là trong trường hợp của tôi) hoàn toàn chiếm trọn sự chú ý của bạn theo ý muốn của chúng. Thêm vào đó là một mái tóc dày xoăn tít, mà do một sự trêu ngươi nào đó của Hóa công, đã mất đi màu sắc theo một cách vô cùng bất ngờ và đầy ngẫu hứng. Ở phần chóp đầu, nó vẫn giữ nguyên sắc đen tuyền vốn là màu tự nhiên của nó. Vòng quanh hai bên đầu—mà không hề có lấy một chút chuyển biến màu xám nào để làm dịu đi sự tương phản kỳ lạ ấy—nó đã bạc trắng hoàn toàn. Ranh giới giữa hai sắc màu không tuân theo bất kỳ trật tự quy củ nào. Chỗ này, mảng tóc trắng lẹm ngược lên phần tóc đen; chỗ kia, mảng tóc đen lại tràn xuống phần tóc trắng. Tôi nhìn người đàn ông ấy với một sự tò mò mà, tôi lấy làm hổ thẹn khi phải thừa nhận, tôi hoàn toàn không tài nào kìm chế nổi. Đôi mắt nâu dịu dàng của hắn nhìn lại tôi, và hắn đã đáp lại sự bất lịch sự vô ý thức của tôi khi cứ trân trân nhìn chằm chằm vào hắn bằng một lời xin lỗi mà tôi thừa biết là mình chẳng đáng được nhận.
“Tôi thành thật xin lỗi,” hắn nói. “Tôi không hề hay biết là ông Betteredge đang có khách.” Hắn lấy một mảnh giấy nhỏ từ trong túi ra và trao nó cho Betteredge. “Danh sách cho tuần tới đây,” hắn nói. Ánh mắt hắn lại khẽ dừng lại trên người tôi một lần nữa—rồi hắn lặng lẽ rời khỏi phòng y như lúc hắn bước vào.
“Đó là ai vậy?” tôi hỏi.
“Trợ lý của bác sĩ Candy,” Betteredge đáp. “Nhân tiện đây, cậu Franklin, có lẽ cậu sẽ thấy tiếc khi nghe tin vị bác sĩ nhỏ bé ấy chưa bao giờ hồi phục hoàn toàn sau trận ốm mà ông ấy mắc phải trên đường đi tiệc sinh nhật về. Sức khỏe của ông ấy thì bình thường; nhưng ông ấy đã mất đi trí nhớ trong trận sốt đó, và từ bấy đến nay ông ấy chưa bao giờ lấy lại được quá một phần tàn tạ của nó cả. Toàn bộ công việc đều đổ dồn lên vai người trợ lý. Dạo này thì cũng chẳng có mấy việc đâu, ngoại trừ việc khám chữa cho đám người nghèo khổ. Họ thì đâu còn sự lựa chọn nào khác cơ chứ. Họ buộc phải chịu đựng gã đàn ông có mái tóc đốm loang lổ và làn da ngăm đen như dân du mục đó—nếu không thì họ sẽ chẳng thể kiếm được bất kỳ sự chăm sóc y tế nào khác.”
“Trông anh có vẻ không ưa gì hắn ta lắm nhỉ, Betteredge?”
“Chẳng ai ưa nổi hắn ta đâu, thưa cậu.”
“Tại sao hắn lại mất cảm tình đến vậy?”
“Vâng, thưa cậu Franklin, ngoại hình của hắn đã là một điểm trừ lớn ngay từ đầu rồi. Và rồi lại có lời đồn rằng bác sĩ Candy đã nhận hắn về làm việc với một lai lịch vô cùng mập mờ đáng ngờ. Chẳng ai biết hắn ta là ai—và hắn chẳng có lấy một người bạn nào ở chốn này cả. Cậu có thể mong đợi người ta ưa nổi hắn ta sau chừng ấy chuyện thế nào được cơ chứ?”
“Đương nhiên là điều bất khả thi rồi! Cho phép tôi hỏi hắn muốn gì ở anh khi đưa mẩu giấy đó vậy?”
“Chỉ là mang đến cho tôi danh sách hàng tuần những bệnh nhân nghèo ở quanh đây, thưa cậu, những người đang cần được giúp đỡ một ít rượu vang. Phu nhân nhà chúng tôi vẫn luôn có lệ phát chẩn đều đặn những loại rượu port và sherry hảo hạng chất lượng cho những người nghèo yếu đau bệnh tật; và cô Rachel muốn duy trì thói quen đó. Thời thế đổi thay rồi! Thời thế đổi thay rồi! Tôi nhớ có những lúc chính bác sĩ Candy mang danh sách đến tận tay mụ chủ của tôi cơ đấy. Giờ thì chính trợ lý của bác sĩ Candy mang danh sách đến cho tôi. Tôi xin phép được đọc tiếp bức thư nhé, nếu cậu cho phép, thưa cậu,” Betteredge nói, kéo lời thú nhận của Rosanna Spearman về lại phía mình. “Đó không phải là một bài đọc sinh động gì cho cam, tôi thừa nhận thế. Nhưng mà! Nó giúp tôi khỏi bị chua chát khi cứ phải hoài niệm về quá khứ.” Ông đeo kính vào và lắc đầu đầy ủ rũ. “Có một cốt lõi vô cùng thực tế, thưa cậu Franklin, trong cách ứng xử của chúng ta đối với những người mẹ khi họ lần đầu đưa chúng ta dấn thân vào hành trình cuộc đời. Tất cả chúng ta ít nhiều đều không đành lòng khi bị đưa đến thế giới này. Và tất cả chúng ta đều hoàn toàn đúng.”
Trợ lý của bác sĩ Candy đã tạo ra một ấn tượng quá mạnh mẽ trong tôi để có thể dễ dàng gạt phắt ra khỏi tâm trí ngay lập tức. Tôi bỏ qua lời triết lý không thể chối cãi cuối cùng đó của Betteredge; và quay trở lại với chủ đề về gã đàn ông có mái tóc đốm loang lổ.
“Tên hắn là gì vậy?” tôi hỏi.
“Cái tên nghe khó ưa hết chỗ nói,” Betteredge đáp gỏng gỏng. “Ezra Jennings.”