Nguyệt Thạch

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Tôi thực sự xin lỗi vì đã giữ quý vị lại để bàn về tôi và chiếc ghế bành bằng mây của mình. Một lão già buồn ngủ dưới khoảng sân sau ngập nắng chẳng có gì là thú vị cả, tôi thừa nhận điều đó. Nhưng sự việc thì phải được ghi lại đúng nơi đúng chỗ, như những gì thực sự đã diễn ra—và xin quý vị hãy kiên nhẫn bước cùng tôi thêm chút nữa, để chờ đợi sự xuất hiện của ngài Franklin Blake vào cuối ngày hôm nay.

Trước khi tôi kịp thiu thẩu chợp mắt lần nữa, sau khi con gái tôi là Penelope đã rời đi, tôi lại bị làm phiền bởi tiếng dao dĩa khua lất chất trong phòng ăn của người hầu, có nghĩa là bữa trưa đã sẵn sàng. Dùng bữa ngay tại phòng riêng của mình, tôi chẳng dính dáng gì đến bữa ăn của đám gia nhân, ngoại trừ việc chúc tất cả bọn họ ăn ngon miệng trước khi lại yên vị trên chiếc ghế của mình. Tôi vừa mới duỗi chân ra thì lại có một người phụ nữ nữa lao bổ vào tôi. Không phải con gái tôi đâu; lần này chỉ là Nancy, cô phụ bếp. Tôi chắn ngay lối ra của con bé; và tôi nhận thấy, khi nó xin phép đi qua, rằng mặt mày nó đang xầm xì khó chịu—một điều mà với tư cách là quản gia, theo nguyên tắc, tôi không bao giờ cho qua mà không gặng hỏi.

“Sao cô lại quay lưng với bữa trưa của mình thế?” tôi hỏi.

“Lại có chuyện gì nữa thế, Nancy?”

Nancy cố lách qua mà không trả lời; thế là tôi đứng dậy, tóm lấy tai nó. Con bé là một thiếu nữ bầu bĩnh, dễ thương, và tôi vẫn có thói quen làm thế để tỏ ý cá nhân tôi quý mến một cô gái.

“Lại có chuyện gì thế?” tôi hỏi lại lần nữa.

“Rosanna lại đến muộn bữa trưa,” Nancy đáp. “Và tôi bị sai đi gọi con bé về. Mọi việc nặng nhọc đều đổ lên đầu tôi trong cái nhà này cả. Xin hãy buông tôi ra, bác Betteredge!”

Người vừa được nhắc đến với cái tên Rosanna là cô hầu phòng thứ hai của chúng tôi. Vốn có lòng thương cảm đối với cô hầu phòng thứ hai (vì sao thế, lát nữa quý vị sẽ rõ), và nhìn nét mặt của Nancy, tôi thừa biết con bé sẽ lôi đồng nghiệp của mình về bằng những lời lẽ cay nghiệt hơn mức cần thiết trong hoàn cảnh này, tôi chợt thấy mình chẳng có việc gì bận rộn đặc biệt, nên thà tự thân đi gọi Rosanna còn hơn; đồng thời nhắc khéo con bé lần sau nên đúng giờ, mà tôi biết chắc nó sẽ vui vẻ đón nhận lời khuyên từ tôi.

“Rosanna đang ở đâu?” tôi gặng hỏi.

“Ở bãi cát chứ đâu!” Nancy đáp, hất đầu một cái. “Sáng nay con bé lại lên cơn ngất xỉu, rồi xin phép ra ngoài hít thở chút không khí trong lành. Tôi hết chịu nổi nó rồi!”

“Về ăn trưa đi cháu,” tôi nói. “Ta chịu nổi nó, để ta đi gọi về cho.”

Nancy (vốn có một cái bụng rất tốt) liền tỏ ra hớn hở. Khi tỏ ra hớn hở, trông con bé khá xinh xắn. Khi trông con bé xinh xắn, tôi lại khẽ véo cằm nó. Chẳng có gì là đồi phong bại tục cả—đó chỉ là thói quen thôi.

Thế là tôi cầm gậy, lên đường ra bãi cát.

Không! Chưa thể lên đường ngay được. Tôi lại phải xin lỗi vì giữ chân quý vị; nhưng quả thực quý vị phải nghe câu chuyện về bãi cát, và câu chuyện về Rosanna—bởi vì lý do thế này, chuyện về viên Kim Cương có liên quan mật thiết đến cả hai điều đó. Sao mà tôi cứ cố gắng kể tiếp câu chuyện của mình cho xong mà cứ bị ngắt quãng hoài, và sao mà tôi vụ vụ thế không biết! Thôi nào!—Con Người và Sự Vật cứ xuất hiện làm ta phiền phức làm sao trong cõi đời này, và bằng cách nào đó cứ khăng khăng đòi người ta phải để ý tới. Chúng ta cứ thong thả, và cứ tóm tắt ngắn gọn thôi; chẳng mấy chốc chúng ta sẽ lao vào giữa tâm điểm của bí ẩn cho mà xem, tôi hứa đấy!

Rosanna (để đặt Con Người lên trước Sự Vật, đó mới là phép lịch sự thông thường) là người hầu mới duy nhất trong nhà chúng tôi. Khoảng bốn tháng trước thời điểm tôi đang viết đây, phu nhân đã ở Luân Đôn, và có ghé thăm một Trại Giáo Dưỡng, nơi chuyên giúp những người phụ nữ lỡ bước không sa ngã trở lại con đường tội lỗi sau khi mãn hạn tù. Bà quản trại, thấy phu nhân tỏ ra quan tâm đến nơi này, liền chỉ cho bà một cô gái tên là Rosanna Spearman, và kể cho nghe một câu chuyện vô cùng bi đát mà tôi không nỡ nhắc lại ở đây; bởi vì tôi chẳng thích làm cho người ta đau khổ vô ích, và quý vị cũng vậy. Kết cục là, Rosanna Spearman từng là một kẻ trộm, và vì không thuộc thể loại chuyên lập Công ty ở Khu Tài Chính rồi cướp tiền của hàng ngàn người thay vì chỉ ăn cắp của một người, nên pháp luật đã tóm cổ cô ta, và nhà tù cùng trại giáo dưỡng lần lượt nối tiếp theo pháp luật. Nhận xét của bà quản trại về Rosanna là (bất chấp những gì cô ta đã làm) cô gái ấy là một người hiếm có khó tìm trong hàng ngàn người, và chỉ cần một cơ hội để chứng minh bản thân xứng đáng với sự quan tâm của bất kỳ người phụ nữ theo đạo Thiên Chúa nào dành cho mình. Phu nhân (vốn là một người phụ nữ đạo đức nếu trên đời này từng có một người như thế) nghe vậy liền nói với bà quản trại rằng: “Rosanna Spearman sẽ có cơ hội của nó, ngay trong phủ của ta.” Chỉ một tuần sau đó, Rosanna Spearman đã bước chân vào cơ ngơi này với tư cách là cô hầu phòng thứ hai của chúng tôi.

Không một bóng người nào được nghe câu chuyện của cô gái, ngoại trừ tiểu thư Rachel và tôi. Phu nhân, vì ban ân huệ tham khảo ý kiến của tôi trong hầu hết mọi việc, đã bàn bạc với tôi về Rosanna. Vốn đã quen hùa theo lối sống của cố ngài John là luôn đồng tình với phu nhân trong thời gian gần đây, tôi nhiệt tình đồng thuận với bà về trường hợp của Rosanna Spearman.

Một cơ hội công bằng hơn thế thì chẳng cô gái nào có thể mong đợi hơn cái mà chúng ta đã dành cho tội nghiệp cô gái nhà mình. Chẳng có người hầu nào có thể chì trích quá khứ của cô ta, bởi vì chẳng ai trong số họ biết quá khứ ấy ra sao. Cô ta nhận lương và các đặc quyền giống như những người khác; và thỉnh thoảng lại nhận được một lời ân cần riêng tư từ phu nhân để khích lệ tinh thần. Đổi lại, tôi phải thừa nhận rằng cô ta tỏ ra vô cùng xứng đáng với sự đối xử tử tế dành cho mình. Dù sức khỏe chẳng lấy gì làm cường tráng, lại thỉnh thoảng bị những cơn ngất xỉu vừa nhắc tới làm phiền, cô ta vẫn âm thầm không một tiếng thở than làm công việc của mình, làm một cách cẩn thận và chu đáo. Nhưng ngặt nỗi, cô ta lại chẳng thể kết thân với những nữ gia nhân khác, ngoại trừ con gái tôi là Penelope, người vẫn luôn tử tế với Rosanna nhưng không bao giờ quá ư thân mật.

Tôi hầu như chẳng rõ con bé đã làm gì để khiến họ mỏi mặt. Chắc chắn chẳng có chút nhan sắc nào ở cô ta để khiến những người khác phải ghen tị cả; cô ta là người phụ nữ kém sắc nhất trong nhà, lại thêm cái bất hạnh là một bên vai to hơn bên kia. Điều mà đám gia nhân tỏ ra khó chịu nhất, theo tôi nghĩ, chính là cái miệng ngậm chặt và lối sống thui thủi một mình của cô ta. Cô ta đọc sách hoặc làm thêu thùa trong những giờ rảnh rỗi khi người khác buôn chuyện. Và khi đến phiên được ra ngoài, mười lần như một, cô ta lẳng lặng đội chiếc mũ bonnet và đi dạo một mình. Cô ta không bao giờ cãi cọ, không bao giờ tỏ ra hờn dỗi; cô ta chỉ giữ một khoảng cách nhất định, một cách đầy bướng bỉnh nhưng lịch sự, giữa mình và những người còn lại. Thêm vào đó, dẫu bề ngoài có phần thô kệch, phảng phất ở cô ta lại có chút gì đó không giống một cô hầu phòng, mà giống một tiểu thư đài các hơn. Có thể nó nằm trong giọng nói, hoặc có thể ẩn hiện trên khuôn mặt cô ta. Tất cả những gì tôi có thể nói là, những người phụ nữ khác đã chộp lấy điều đó nhanh như chớp ngay ngày đầu tiên cô ta bước chân vào nhà, và phán rằng (điều này vô cùng bất công) Rosanna Spearman đang làm giá và ra điều kiện.

Giờ đây, khi đã kể xong câu chuyện về Rosanna, tôi chỉ cần nói đến một trong những thói quen kỳ quặc của cô gái kỳ lạ này để chuyển sang câu chuyện về bãi cát.

Nhà chúng tôi nằm trên cao dọc theo bờ biển Yorkshire, và sát ngay cạnh biển. Xung quanh chúng tôi có những lối đi đẹp tuyệt vời ở mọi hướng, trừ một hướng. Hướng đó thì tôi phải công nhận là một lối đi vô cùng ảm đạm và đáng sợ. Nó dẫn qua một khu rừng thông buồn tẻ dài đến một phần tư dặm, rồi đưa bạn bước ra giữa những vách đá thấp ở một vịnh nhỏ cô lập và xấu xí nhất trên toàn bộ bờ biển của chúng tôi.

Những cồn cát ở đây kéo dài ra tận biển, và kết thúc bằng hai dải đá nhô ra đối diện nhau cho đến khi khuất hút vào làn nước. Một dải gọi là Mũi Bắc, và dải kia là Mũi Nam. Nằm giữa hai dải đá ấy, dịch chuyển qua lại vào những mùa nhất định trong năm, chính là bãi cát lún khủng khiếp nhất trên bờ biển Yorkshire. Vào thời điểm đổi thủy triều, có một hiện tượng kỳ lạ diễn ra ở những tầng sâu thẳm vô định bên dưới, khiến toàn bộ bề mặt bãi cát rung lên và run rẩy theo một cách vô cùng đáng sợ khi nhìn vào, và chính điều này đã khiến người dân vùng chúng tôi gọi nó là Cát Run. Một khoảng bãi cạn rộng lớn, cách nửa dặm khơi, gần cửa vịnh, giúp cản bớt sức mạnh của đại dương cuồn cuộn đổ vào từ ngoài khơi xa. Dù là đông hay hè, khi thủy triều dâng ngập bãi cát, biển cả dường như để lại những con sóng phía sau trên bãi cạn, rồi êm đềm cuộn những dòng nước vào với một nhịp trướng phình, lặng lẽ phủ lấp lên bãi cát. Quả là một nơi ẩn náu cô tịch và rợn ngợp, tôi xin thưa với quý vị như vậy! Chẳng có chiếc thuyền nào dám bén mảng vào vịnh này. Chẳng có đứa trẻ nào từ ngôi làng chài của chúng tôi, mang tên Cobb’s Hole, dám mò ra đây chơi đùa. Ngay cả những loài chim trời, theo tôi thấy, cũng tránh xa cái vùng Cát Run này một quãng dài. Việc một cô gái trẻ, với hàng tá lối đi xinh đẹp để lựa chọn, cùng bầu bạn đi cùng nếu cô ta chỉ cần cất tiếng “Đi nào!”, lại thích nơi này hơn, và cứ ngồi thui thủi một mình làm việc hay đọc sách ở đây mỗi khi được nghỉ ngơi, thú thực với quý vị là vượt quá sức tưởng tượng. Dù vậy, đó vẫn là sự thật, dù quý vị có giải thích thế nào đi nữa, rằng đây là lối đi yêu thích của Rosanna Spearman, ngoại trừ những lần cô ta ghé qua Cobb’s Hole một hai lần để thăm người bạn duy nhất của mình ở vùng này, chuyện về người đó sẽ được nhắc đến sau. Cũng là sự thật khi lúc này tôi đang lên đường tới chính nơi này để gọi cô gái về ăn trưa, điều này đưa chúng ta quay trở lại điểm xuất phát một cách tốt đẹp và đưa chúng ta bước tiếp một cách suôn sẻ trên con đường ra bãi cát.

Tôi chẳng thấy bóng dáng cô gái nào trong khu rừng thông. Khi tôi vượt qua các cồn cát để ra đến bãi biển, kìa cô ta đang ở đó, đội chiếc mũ rơm nhỏ và khoác chiếc áo choàng màu xám giản dị mà cô ta vẫn thường mặc để che giấu phần nào cái vai lệch của mình—cô ta ở đó, một mình một bóng, đang thẫn thờ nhìn ra bãi cát lún và biển cả.

Cô ta giật bắn mình khi tôi đến gần, và quay phắt đầu đi chỗ khác. Việc không dám nhìn thẳng vào mặt người khác lại là một trong những thói quen mà, với tư cách là người đứng đầu đám gia nhân, tôi theo nguyên tắc không bao giờ bỏ qua mà không gặng hỏi—tôi quay người cô ta lại phía mình, và nhận thấy cô ta đang khóc. Chiếc khăn tay thổ cẩm của tôi—một trong sáu chiếc đẹp tuyệt vời do phu nhân ban tặng—đang nằm sẵn trong túi. Tôi lấy nó ra, và bảo Rosanna rằng: “Lại đây ngồi xuống, cháu yêu, ngồi lên sườn bãi biển cùng với ta nào. Trước tiên ta sẽ lau nước mắt cho cháu, rồi ta mới dám mạo muội hỏi xem cháu đang khóc vì chuyện gì.”

Đến tuổi như tôi rồi, quý vị sẽ thấy việc ngồi xuống sườn bãi biển mất nhiều thời gian hơn quý vị tưởng đấy. Đến lúc tôi kịp ngồi yên vị thì Rosanna đã tự lau sạch nước mắt bằng một chiếc khăn tay kém chất lượng hơn của tôi rất nhiều—loại vải cambric rẻ tiền. Trông cô ta rất điềm tĩnh và vô cùng khốn khổ; nhưng cô ta vẫn ngoan ngoãn ngồi xuống bên cạnh tôi khi tôi bảo. Khi quý vị muốn dỗ dành một người phụ nữ theo cách nhanh nhất, hãy đặt cô ấy lên đùi mình. Tôi đã nghĩ đến quy tắc vàng này. Nhưng ngặt nỗi! Rosanna đâu phải là Nancy, sự thật là thế đấy!

“Nào, kể cho ta nghe đi cháu,” tôi nói, “cháu đang khóc vì chuyện gì thế?”

“Vì những năm tháng đã qua, thưa bác Betteredge,” Rosanna đáp khẽ. “Quá khứ của cháu thỉnh thoảng vẫn quay về ám ảnh cháu.”

“Thôi nào, thôi nào cháu gái,” tôi nói, “quá khứ của cháu đã được xóa sạch sành sanh rồi cơ mà. Sao cháu cứ phải bận lòng quên nó đi làm gì?”

Cô ta níu lấy một vạt áo của tôi. Tôi là một lão già luộm thuộm, và phần lớn thức ăn đồ uống thường bị văng vãi lên quần áo. Thỉnh thoảng cô này, lúc khác cô kia lại phải giúp tôi chùi sạch vết dầu mỡ. Hôm trước, Rosanna đã giúp tôi tẩy sạch một vết bẩn trên vạt áo bằng một loại hợp chất mới, được bảo đảm có thể đánh bay mọi thứ. Vết dầu mỡ đã biến mất, nhưng để lại một vết mờ nhạt trên bề mặt vải nơi từng dính dầu. Cô gái chỉ tay vào chỗ đó và lắc đầu.

“Vết bẩn đã được tẩy đi rồi ạ,” cô ta nói. “Nhưng vẫn còn để lại dấu vết, thưa bác Betteredge—vẫn còn thấy rõ vết tích!”

Một lời nhận xét khiến người ta ngớ người ra bằng chính chiếc áo khoác của họ quả là không dễ gì đáp lời. Thêm vào đó, có cái gì đó ở chính cô gái khiến tôi cảm thấy vô cùng thương cảm cho cô ta vào lúc ấy. Cô ta sở hữu đôi mắt nâu đẹp đẽ, dẫu bề ngoài có phần thô kệch—và cô ta nhìn tôi với một vẻ kính trọng đối với tuổi già an nhàn và phẩm giá tốt đẹp của tôi, xem đó là những thứ vĩnh viễn nằm ngoài tầm với của bản thân, điều đó khiến lòng tôi cảm thấy nặng trĩu vì cô hầu phòng thứ hai của mình. Cảm thấy bản thân chẳng tài nào an ủi nổi cô ta, chỉ còn một việc duy nhất phải làm. Đó là—đưa cô ta về ăn trưa.

“Đỡ ta đứng dậy nào,” tôi nói. “Cháu đến bữa trưa muộn rồi đấy, Rosanna—và ta cất công ra đây để lôi cháu về đây.”

“Cả bác nữa ư, thưa bác Betteredge!” cô ta thốt lên.

“Họ sai Nancy ra gọi cháu cơ,” tôi nói. “Nhưng ta nghĩ cháu có lẽ sẽ thích nghe mắng hơn, cháu yêu ạ, nếu trận đòn roi ngôn từ ấy xuất phát từ ta.”

Thay vì đỡ tôi đứng dậy, tội nghiệp cô gái lén luồn bàn tay mình vào tay tôi, và khẽ bóp nhẹ một cái. Cô ta cố hết sức để kìm nén không khóc nữa, và đã thành công—điều đó khiến tôi vô cùng tôn trọng cô ta. “Bác tốt với cháu lắm, thưa bác Betteredge,” cô ta nói. “Cháu không muốn ăn trưa gì đâu hôm nay—xin hãy để cháu ở lại đây thêm một lát nữa.”

“Điều gì khiến cháu thích ở lại đây thế?” tôi hỏi. “Thứ gì cứ lôi kéo cháu đến cái nơi khốn khổ này mãi thế?”

“Có cái gì đó cứ kéo cháu đến đây,” cô gái đáp, dùng ngón tay vẽ những hình thù trên cát. “Cháu đã cố tránh xa nó, nhưng không tài nào làm được. Thỉnh thoảng,” cô nói với giọng nhỏ thều thào, như thể đang sợ hãi chính trí tưởng tượng của mình, “thỉnh thoảng, thưa bác Betteredge, cháu cứ nghĩ rằng nấm mồ của cháu đang chờ sẵn ở chốn này.”

“Có cừu quay và bánh pudding mỡ đang chờ cháu ở nhà đấy!” tôi bảo. “Về ăn trưa ngay lập tức đi. Đây là hậu quả của việc suy nghĩ vẩn vơ khi bụng đói rỗng đấy, Rosanna ạ!” Tôi nói với giọng nghiêm khắc, vì vốn dĩ cảm thấy bất bình (ở độ tuổi của tôi) khi nghe một thiếu nữ mới hai mươi lăm tuổi mở miệng ra là nói về chuyện mồ mả cuối đời!

Cô ta có vẻ chẳng mảy may nghe thấy lời tôi: cô đặt tay lên vai tôi, giữ tôi ngồi lại bên cạnh mình.

“Cháu nghĩ nơi này đã yểm bùa vào cháu rồi,” cô ta nói. “Cháu mơ về nó hết đêm này đến đêm khác; cháu nghĩ về nó ngay cả khi ngồi cặm cụi may vá. Cháu biết cháu rất biết ơn, thưa bác Betteredge—cháu biết cháu luôn cố gắng để xứng đáng với sự tử tế của bác, và lòng tin của phu nhân dành cho cháu. Nhưng thỉnh thoảng cháu tự hỏi liệu cuộc sống ở đây có quá yên bình và quá tốt đẹp đối với một người như cháu hay không, sau tất cả những gì cháu đã trải qua, thưa bác Betteredge—sau tất cả những gì cháu đã trải qua. Sống giữa đám gia nhân khác còn khiến cháu cảm thấy cô độc hơn, khi biết rằng mình chẳng giống họ, còn hơn là ở đây. Phu nhân không biết, bà quản trại giáo dưỡng cũng chẳng hay, sự phán xét câm lặng từ những người lương thiện quả là một sự dằn vặt khủng khiếp cỡ nào đối với một người đàn bà như cháu. Xin đừng mắng cháu, bác là người tốt mà. Cháu vẫn làm việc chăm chỉ cơ mà, phải không? Xin đừng kể với phu nhân rằng cháu đang bất mãn—cháu không hề như thế. Chỉ là tâm trí cháu đôi khi cứ bấn loạn lên thôi, thế thôi ạ.” Cô ta giật phăng tay khỏi vai tôi, rồi bất ngờ chỉ xuống bãi cát lún. “Nhìn kìa!” cô nói. “Chẳng phải nó kỳ diệu lắm sao? Chẳng phải nó khủng khiếp lắm sao? Cháu đã nhìn thấy nó hàng chục lần rồi, nhưng lần nào nó cũng mới mẻ đối với cháu như thể chưa từng thấy bao giờ!”

Tôi nhìn theo hướng tay cô ta chỉ. Thủy triều đang chuyển hướng, và bãi cát đáng sợ bắt đầu run rẩy. Bề mặt rộng lớn và nâu sẫm của nó chầm chậm phồng lên, rồi lúm đồng tiền và rung lên bần bật khắp nơi. “Bác có biết trông nó giống cái gì đối với cháu không?” Rosanna nói, lại tóm lấy vai tôi. “Trông nó giống như có hàng trăm con người đang bị ngạt thở bên dưới—tất cả đều đang giãy giụa để ngoi lên mặt nước, và tất cả cứ chìm sâu mãi, sâu mãi xuống những tầng sâu thẳm hãi hùng! Ném một viên đá xuống đi, thưa bác Betteredge! Ném một viên đá xuống xem bãi cát hút trọn nó thế nào đi!”

Thật là những lời lẽ không lành mạnh làm sao! Lại cái trò bụng đói hành hạ một tâm trí u uất đây mà! Câu trả lời của tôi—một câu trả lời khá sắc sảo vì lợi ích chính đáng của tội nghiệp cô gái, tôi hứa với quý vị đấy!—đã chực sẵn ở đầu lưỡi, thì bỗng bị ngắt ngang đột ngột bởi một tiếng gọi tên tôi vang lên giữa những cồn cát. “Betteredge!” tiếng hét vọng lại, “ông đâu rồi?” “Ở đây!” tôi hét lên đáp trả, mà chẳng màng phỏng đoán trong đầu xem đó là ai. Rosanna giật nảy mình đứng phắt dậy, trân trân nhìn về hướng phát ra tiếng gọi. Tôi đang toan nhổm dậy thì bỗng khựng lại trước sự thay đổi đột ngột trên khuôn mặt cô gái.

Nước da cô ta bỗng chuyển sang một sắc đỏ đẹp đến lạ lùng, thứ mà tôi chưa từng thấy trước đó; toàn thân cô ta bừng sáng lên bởi một vẻ ngạc nhiên không nói nên lời và nghẹt thở. “Ai thế nhỉ?” tôi hỏi. Rosanna liền ném lại câu hỏi ấy cho tôi. “ Ồ! Ai thế nhỉ?” cô ta lẩm bẩm khẽ khàng, như nói với chính mình nhiều hơn là với tôi. Tôi xoay phắt người trên cát và nhìn ra phía sau. Kìa, đang bước ra từ giữa các cồn cát là một chàng thanh niên mắt sáng ngời, diện một bộ ,“suit” màu vàng hươu tuyệt đẹp, với găng tay và mũ đồng bộ, cài một bông hoa hồng trên khuyết áo, cùng một nụ cười trên môi có lẽ đủ sức khiến chính bãi Cát Run cũng phải mỉm cười đáp lễ lại anh ta. Chưa kịp để tôi đứng dậy, cậu ta đã sà ngay xuống bãi cát bên cạnh tôi, vòng tay ôm lấy cổ tôi theo kiểu người nước ngoài, và siết chặt một cái khiến tôi gần như cạn kiệt cả hơi thở trong lồng ngực. “Bác Betteredge kính yêu!” cậu ta kêu lên. “Cháu vẫn nợ bác bảy rưỡi đấy nhé. Giờ thì bác có biết cháu là ai không?”

Lạy chúa trên cao phù hộ chúng con! Kìa—trước tận bốn tiếng so với dự kiến—chính là ngài Franklin Blake!

Chưa kịp thốt lên lời nào, tôi đã thấy ngài Franklin, có vẻ hơi ngạc nhiên, chuyển ánh nhìn từ tôi sang Rosanna. Nhìn theo hướng của cậu ấy, tôi cũng quay sang nhìn cô gái. Cô ta đang đỏ mặt tía tai hơn bao giờ hết, dường như vì bắt gặp ánh mắt của ngài Franklin; và cô ta liền quay lưng bỏ đi đột ngột, với một vẻ bối rối hoàn toàn khó hiểu đối với tôi, chẳng buồn nhún gối chào vị quý tộc hay thốt lấy một lời với tôi. Thật khác xa với dáng vẻ thường ngày của cô ta: một người hầu vốn dĩ cư xử nhã nhặn và có giáo dục bậc nhất mà quý vị khó lòng tìm thấy ở đâu khác.

“Cô gái đó lạ thật đấy,” ngài Franklin nói. “Không biết cô ta thấy ở mình điều gì mà phải ngạc nhiên thế nhỉ?”

“Thưa ngài,” tôi đáp, mỉa mai nền giáo dục phương Tây của cậu chủ trẻ nhà chúng ta, “chắc là vì lớp nước sơn từ trời Tây bám trên người ngài đấy ạ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.