Nguyệt Thạch

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Tôi bước ra ga tàu, và như điều hiển nhiên, có Gabriel Betteredge đi cùng. Tôi đút lá thư vào túi, còn chiếc váy ngủ được gói gọn gàng trong một chiếc túi xách nhỏ — cả hai thứ sẽ được đưa ra để ông Bruff soi xét trước khi tôi chợp mắt vào đêm hôm đó.

Chúng tôi rời khỏi nhà trong sự im lặng. Lần đầu tiên trong quãng thời gian tôi biết ông, lão Betteredge đi cạnh tôi mà chẳng thốt nổi một lời. Vì bản thân cũng có chuyện muốn nói, tôi bèn mở lời ngay khi chúng tôi vừa đi qua cổng nhà trọ.

“Trước khi tôi đến Luân Đôn,” tôi bắt đầu, “tôi có hai câu hỏi muốn dành cho bác. Chúng liên quan đến cá nhân tôi, và tôi tin là chúng sẽ khiến bác khá bất ngờ đấy.”

“Nếu chúng có thể xua đuổi lá thư của tội nghiệp con mồ côi kia ra khỏi đầu tôi, thưa ngài Franklin, ngài muốn làm gì với tôi nữa cũng được. Xin ngài cứ việc làm tôi bất ngờ đi, thưa ngài, càng sớm càng tốt.”

“Câu hỏi đầu tiên của tôi, Betteredge, là thế này. Tôi có say rượu vào đêm sinh nhật của Rachel không?”

“Ngài mà say ư!” lão già thốt lên. “Đó chẳng phải là điểm lớn nhất trong tính cách của ngài sao, thưa ngài Franklin, là ngài chỉ uống rượu trong bữa tối, và chẳng bao giờ chạm một giọt nào sau đó nữa!”

“Nhưng ngày sinh nhật là một dịp đặc biệt. Có lẽ tôi đã phá bỏ thói quen thường ngày của mình vào chính đêm hôm đó.”

Betteredge trầm ngâm suy nghĩ một lát.

“Ngài có phá lệ thật đấy, thưa ngài,” lão đáp. “Và tôi sẽ nói cho ngài biết tại sao. Trông ngài mệt mỏi đến thảm hại — và chúng tôi đã phải gặng khuyên ngài uống một chút rượu mạnh pha nước cho lại sức.”

“Tôi vốn không quen uống rượu mạnh pha nước. Hoàn toàn có khả năng là ——”

“Đợi một chút đã, thưa ngài Franklin. Tôi thừa biết ngài không quen rồi. Chính tay tôi đã rót cho ngài nửa ly rượu Cognac loại năm mươi năm tuổi của chúng ta; và (thật hổ thẹn cho tôi làm sao!) tôi đã dìm chết giọt rượu quý giá ấy trong gần một cốc đầy nước lạnh. Một đứa trẻ cũng chẳng thể say vì nó — chứ đừng nói đến một người trưởng thành!”

Tôi thừa biết mình có thể tin tưởng vào trí nhớ của lão trong những chuyện thế này. Rõ ràng là tôi không thể nào say xỉn được. Tôi chuyển sang câu hỏi thứ hai.

“Trước khi tôi được gửi đi nước ngoài, Betteredge, bác đã ở bên tôi rất nhiều khi tôi còn là một đứa trẻ? Giờ hãy nói cho tôi nghe rõ ràng xem, bác có nhớ điều gì kỳ lạ ở tôi sau khi tôi đã lên giường đi ngủ vào ban đêm không? Bác có từng phát hiện ra tôi mộng du bao giờ chưa?”

Betteredge khựng lại, nhìn tôi một lát, gật đầu, rồi lại tiếp tục bước đi.

“Giờ thì tôi hiểu ý ngài rồi, thưa ngài Franklin!” lão nói. “Ngài đang cố tìm cách giải thích vì sao lại có vết sơn trên váy ngủ của mình mà chính ngài cũng không hay biết chứ gì. Không ổn đâu, thưa ngài. Ngài hãy còn cách chân lý hàng dặm đấy. Mộng du ư? Ngài chưa từng làm chuyện đó lấy một lần trong đời!”

Đến đây, tôi lại cảm thấy Betteredge chắc chắn đã đúng. Dù là ở trong nước hay ở nước ngoài, cuộc sống của tôi chưa bao giờ là kiểu sống cô độc một mình. Nếu tôi thực sự là kẻ mộng du, hẳn đã có hàng trăm hàng ngàn người phát hiện ra tôi, và vì sự an toàn của chính tôi, họ đã cảnh báo tôi về thói quen đó cũng như tìm cách ngăn chặn nó rồi.

Thế nhưng, dẫu thừa nhận tất cả những điều đó, tôi vẫn bấu víu — với một sự bướng bỉnh mà trong hoàn cảnh ấy hẳn là rất tự nhiên và có thể tha thứ được — vào một trong hai lời giải thích duy nhất mà tôi có thể nghĩ ra để lý giải cho cái vị thế không thể nào chịu nổi mà tôi đang vướng phải lúc bấy giờ. Nhận thấy tôi vẫn chưa thỏa mãn, Betteredge một cách tinh anh liền nhắc đến một số sự kiện diễn ra sau đó trong lịch sử của viên đá Mặt Trăng; và thổi bay cả hai giả thuyết của tôi chỉ trong chớp mắt, một đi không trở lại.

“Hãy thử theo hướng khác xem nào, thưa ngài,” lão nói. “Cứ giữ lấy quan điểm của ngài đi, rồi xem nó đưa ngài đi được đến đâu trong công cuộc tìm kiếm sự thật. Nếu chúng ta tin vào chiếc váy ngủ ấy — mà tôi thì dứt khoát là không — thì ngài không những đã vô tình quẹt phắt vết sơn trên cửa, mà ngài còn vô tình lấy luôn cả viên Kim cương nữa. Đến đây thì đúng chứ ạ?”

“Hoàn toàn đúng. Cứ nói tiếp đi.”

“Rất tốt, thưa ngài. Giả sử ngài say rượu, hoặc bị mộng du khi ngài lấy viên ngọc đi. Điều đó giải thích cho đêm hôm đó và buổi sáng sau ngày sinh nhật. Nhưng sao nó lại giải thích được cho những chuyện đã xảy ra kể từ bấy giờ? Viên Kim cương đã được đem đến Luân Đôn kể từ dạo ấy. Viên Kim cương đã được đem đi cầm cố cho ông Luker kể từ dạo ấy. Chẳng lẽ ngài cũng thực hiện cả hai việc đó mà không hề hay biết nốt hay sao? Hồi tôi tiễn ngài lên chiếc xe ngựa con vào chiều thứ Bảy đó, ngài có say không? Và khi chuyến tàu đưa ngài đến điểm cuối của cuộc hành trình, ngài có mộng du đi thẳng đến nhà ông Luker không? Xin lỗi ngài vì đã phải nói thế này, thưa ngài Franklin, nhưng sự việc này đã làm ngài suy sụp đến mức ngài chẳng còn đủ tỉnh táo để tự phán xét nữa rồi. Càng sớm đem đầu mình đặt cạnh đầu ông Bruff chừng nào, ngài càng sớm tìm ra lối thoát khỏi cái ngõ cụt đang giam giữ ngài chừng đó.”

Chúng tôi đã đến nhà ga, chỉ còn vỏn vẹn một hoặc hai phút ngắn ngủi.

Tôi vội vã đọc địa chỉ của mình ở Luân Đôn cho Betteredge, để nếu cần, lão có thể viết thư cho tôi; đồng thời tôi cũng hứa sẽ thông báo cho lão bất kỳ tin tức nào tôi thu thập được. Xong xuôi, và ngay lúc tôi đang cúi đầu chào từ biệt lão, tình cờ tôi đảo mắt nhìn về phía quầy bán sách báo. Lại là gã trợ lý có ngoại hình kỳ lạ của ông Candy, đang đứng nói chuyện với người gác quầy! Ánh mắt chúng tôi chạm nhau đúng vào khoảnh khắc đó. Ezra Jennings ngả mũ chào tôi. Tôi đáp lễ, rồi bước lên một toa tàu ngay khi tiếng còi tàu vừa cất lên. Chắc là một sự giải tỏa cho tâm trí tôi khi được bám lấy bất kỳ đề tài nào mà thoạt nhìn dường như chẳng có chút tầm quan trọng cá nhân nào đối với tôi. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng bắt đầu chuyến hành trình trọng đại quay trở lại để gặp ông Bruff, với một nỗi băn khoăn — thú thật là ngớ ngẩn hết chỗ nói — rằng tại sao tôi lại gặp cái gã có mái tóc loang lổ hai màu ấy tới hai lần trong cùng một ngày!

Thời điểm tôi đặt chân đến Luân Đôn đã dập tắt mọi hy vọng tìm thấy ông Bruff tại nơi làm việc của ông. Tôi đi thẳng từ ga tàu đến tư dinh của ông ở Hampstead, và làm gián đoạn vị luật sư già đang thiu thiu ngủ một mình trong phòng ăn, với chú chó cưng giống pug nằm gọn trên đùi và chai rượu vang để ngay bên khuỷu tay.

Cách tốt nhất để tôi miêu tả tác động mà câu chuyện của tôi tạo ra trong tâm trí ông Bruff chính là thuật lại những việc ông đã làm sau khi nghe nó từ đầu đến cuối. Ông ra lệnh mang đèn và trà đặc vào phòng làm việc của mình; đồng thời sai người chuyển lời đến những phụ nữ trong gia đình, cấm họ không được làm phiền chúng tôi dưới bất kỳ lý do gì. Sau khi dẹp xong những thủ tục mở đầu ấy, trước tiên ông mang chiếc váy ngủ ra xem xét, rồi mới dành toàn bộ tâm trí để đọc bức thư của Rosanna Spearman.

Đọc xong, ông Bruff mới cất lời nói với tôi lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi đóng cửa giam mình trong không gian riêng tư ở phòng ông.

“Franklin Blake,” vị lão ông cất tiếng, “đây là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng, xét trên nhiều phương diện. Theo ý kiến của tôi, nó liên quan đến Rachel chặt chẽ chẳng kém gì liên quan đến cậu. Hành vi kỳ lạ của con bé giờ đây không còn là bí nó nữa. Nó tin rằng cậu đã đánh cắp viên Kim cương.”

Tôi từng né tránh việc tự suy luận đến cái kết luận đầy ghê tởm ấy. Thế nhưng nó vẫn cứ bủa vây lấy tôi. Quyết tâm diện kiến Rachel cho bằng được của tôi thực chất hoàn toàn bắt nguồn từ nguyên nhân mà ông Bruff vừa nêu ra.

“Bước đầu tiên phải làm trong cuộc điều tra này,” vị luật sư nói tiếp, “là khơi gợi từ Rachel. Con bé đã giữ im lặng suốt từng ấy thời gian, xuất phát từ những động cơ mà tôi (kẻ hiểu rõ tính nết nó) có thể dễ dàng thấu hiểu. Sau những chuyện đã xảy ra, chúng ta không thể tiếp tục dung thứ cho sự im lặng đó nữa. Phải thuyết phục con bé nói ra, hoặc buộc nó phải nói ra, đâu là căn cứ khiến nó đinh ninh rằng cậu đã lấy viên đá Mặt Trăng. Khả năng cao là, toàn bộ vụ việc này, dù trông có vẻ nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, cũng sẽ sụp đổ tan tành nếu chúng ta phá vỡ được lớp vỏ bọc khép kín lâu đời của Rachel và thuyết phục được nó mở miệng.”

“Đó quả là một nhận định đầy an ủi đối với tôi,” tôi nói. “Tôi thú thực là mình rất muốn biết ——”

“Cậu muốn biết tôi có thể biện minh cho điều đó như thế nào chứ gì,” ông Bruff ngắt lời. “Tôi có thể nói cho cậu biết chỉ trong hai phút. Trước hết, hãy hiểu cho rằng tôi nhìn nhận vấn đề này từ góc độ của một luật sư. Đối với tôi, đây là vấn đề bằng chứng. Rất tốt. Bằng chứng ấy đã sụp đổ ngay từ vạch xuất phát ở một điểm vô cùng quan trọng.”

“Ở điểm nào vậy ạ?”

“Cậu sẽ được nghe đây. Tôi thừa nhận ký hiệu tên trên chiếc váy chứng tỏ đó là của cậu. Tôi thừa nhận vết sơn chứng tỏ chiếc váy ngủ ấy đã tạo ra vệt bẩn trên cửa phòng Rachel. Nhưng có bằng chứng nào chứng tỏ cậu chính là kẻ đã mặc nó vào đêm viên Kim cương bị đánh cắp hay không?”

Lời phản bác ấy đập vào tâm trí tôi càng mạnh mẽ hơn bởi nó phản chiếu chính nỗi hoài nghi mà bản thân tôi từng cảm thấy.

“Còn về phần này,” vị luật sư tiếp tục khi cầm bức thú tội của Rosanna Spearman lên, “tôi có thể hiểu rằng bức thư này là một đả kích nặng nề đối với cậu. Tôi có thể hiểu rằng cậu có thể ngần ngại khi phải phân tích nó từ một góc độ hoàn toàn khách quan. Nhưng tôi thì không ở vị trí của cậu. Tôi có thể đem kinh nghiệm nghề nghiệp của mình ra áp dụng cho tài liệu này, giống như cách tôi áp dụng cho bất kỳ văn bản nào khác. Mà không cần đả động gì đến quá khứ trộm cắp của ả ta, tôi chỉ xin nhận xét rằng bức thư của ả đã chứng minh bản thân ả vốn là một tay cao thủ trong việc lừa đảo, dựa theo chính những gì ả tự khai; và từ đó, tôi có quyền nghi ngờ rằng ả đã không khai ra toàn bộ sự thật. Hiện tại tôi sẽ không đưa ra bất kỳ giả thuyết nào về những việc ả có thể đã làm hoặc chưa làm. Tôi chỉ muốn nói rằng, nếu Rachel nghi ngờ cậu chỉ dựa trên bằng chứng là chiếc váy ngủ, thì khả năng cao đến chín mươi chín phần trăm Rosanna Spearman chính là kẻ đã mang nó ra cho con bé xem. Nếu vậy, ở đây ta có bức thư của ả ta, thừa nhận rằng ả ghen tị với Rachel, thừa nhận rằng ả đã tráo đổi những bông hồng, thừa nhận rằng ả nhìn thấy chút hy vọng cho bản thân trước viễn cảnh một trận cãi vã giữa Rachel và cậu. Tôi không dừng lại để hỏi xem ai đã lấy viên đá Mặt Trăng (để đạt được mục đích của mình, Rosanna Spearman sẵn sàng chôm lấy năm mươi viên đá Mặt Trăng ấy chứ chẳng chơi) — tôi chỉ nói rằng sự biến mất của viên ngọc đã trao cho ả nữ đạo tặc hoàn lương từng đem lòng yêu cậu này một cơ hội để chia rẽ cậu và Rachel đến hết phần đời còn lại. Nên nhớ rằng lúc đó ả vẫn chưa quyết định tự sát; và khi có trong tay cơ hội đó, tôi khẳng định chắc nịch rằng với bản chất và hoàn cảnh của ả lúc bấy giờ, ả nhất định sẽ nắm lấy nó. Cậu nghĩ sao về điều đó?”

“Một mối nghi ngờ na ná như thế,” tôi đáp, “đã lướt qua tâm trí tôi ngay khi tôi vừa mở bức thư ra.”

“Chính xác! Và khi cậu đọc xong bức thư, cậu đã thương hại tội nghiệp cho con mồ côi ấy, và không nỡ lòng nào để nghi ngờ ả nữa. Điều đó rất đáng khen ngợi ở cậu, bạn tôi ơi — rất đáng khen ngợi đấy!”

“Nhưng giả sử kết quả chứng minh rằng chính tôi đã mặc chiếc váy ngủ thì sao? Lúc đó thì thế nào?”

“Tôi không thấy sự thật đó có thể được chứng minh bằng cách nào,” ông Bruff nói. “Nhưng giả định rằng việc chứng minh là khả thi đi chăng nữa, thì việc minh oan cho sự vô tội của cậu cũng chẳng phải chuyện dễ dàng gì. Chúng ta sẽ không bàn sâu về điều đó lúc này. Hãy cứ chờ xem có đúng là Rachel đã nghi ngờ cậu chỉ dựa trên bằng chứng từ chiếc váy ngủ hay không đã.”

“Lạy Chúa, sao ông lại có thể thản nhiên bàn về việc Rachel nghi ngờ tôi như vậy chứ!” tôi bùng nổ. “Con bé có quyền gì mà lại đi nghi ngờ Tôi là một kẻ trộm, dựa trên bất kỳ bằng chứng nào cơ chứ?”

“Một câu hỏi rất thực tế, bạn của tôi ơi. Có hơi nóng nảy một chút — nhưng dẫu sao thì cũng rất đáng để suy ngẫm. Điều làm cậu thấy khó hiểu, thì tôi cũng thấy khó hiểu y như vậy. Hãy lục lọi lại trí nhớ của cậu xem nào và trả lời cho tôi điều này. Đã có chuyện gì xảy ra trong khoảng thời gian cậu lưu lại căn nhà đó hay không — tất nhiên là không phải chuyện làm lung lay niềm tin của Rachel vào danh dự của cậu rồi — mà là, hãy nói là làm lung lay niềm tin của con bé (dù với lý do cỏn con đi chăng nữa) vào nguyên tắc sống nói chung của cậu?”

Tôi giật nảy mình đứng phắt dậy với một sự kích động không thể kìm nén. Câu hỏi của vị luật sư đã nhắc nhở tôi, lần đầu tiên kể từ khi rời khỏi nước Anh, rằng đã từng có một chuyện như thế xảy ra.

Trong chương thứ tám của bản Tường thuật của Betteredge, người ta sẽ tìm thấy một đoạn nhắc đến sự xuất hiện của một người ngoại quốc, một kẻ xa lạ tại nhà dì tôi, kẻ đã đến gặp tôi vì có việc riêng. Bản chất công việc của hắn ta thế này đây.

Tôi từng dại dột (vì lúc bấy giờ, như thường lệ, tôi đang túng quẫn tiền nong) chấp nhận một khoản vay từ người quản lý một tiệm ăn nhỏ ở Paris, nơi tôi vốn là một khách hàng quen thuộc. Chúng tôi đã ấn định một thời hạn để trả lại số tiền đó; và khi thời hạn đến, tôi lại thấy (hàng ngàn người lương thiện khác cũng từng rơi vào hoàn cảnh tương tự) việc giữ đúng lời hứa là điều bất khả thi. Tôièn gửi cho gã đó một tờ hối phiếu. Khốn nỗi tên tuổi của tôi lại quá nổi tiếng đối với những loại giấy tờ kiểu đó: hắn ta không tài nào chiết khấu được nó. Tình hình tài chính của hắn đã rơi vào cảnh hỗn loạn kể từ khoảng thời gian tôi vay tiền; sự phá sản đang kề cận trước mắt; và một người họ hàng của hắn, một luật sư người Pháp, đã lặn lội sang tận nước Anh để tìm tôi và nằng nặc đòi thanh toán khoản nợ. Ông ta là một kẻ có tính khí bạo mạn; và cách hành xử của ông ta đối với tôi lại hoàn toàn sai lầm. Lời qua tiếng lại nảy lửa từ cả hai phía; và ngặt một nỗi là dì tôi cùng Rachel lại đang ở căn phòng bên cạnh và nghe thấy hết. Phu nhân Verinder bước vào và khăng khăng đòi biết chuyện gì đang xảy ra. Người đàn ông Pháp liền chìa ra các giấy tờ chứng thực và lớn tiếng tuyên bố rằng tôi chính là thủ phạm gây ra sự khốn cùng của một người tội nghiệp đã đặt trọn niềm tin vào danh dự của tôi. Dì tôi liền tức tốc trả tiền cho ông ta và tống cổ ông đi. Dĩ nhiên là dì hiểu rõ con người tôi nên chẳng đời nào lại hùa theo cái góc nhìn của gã người Pháp về vụ giao dịch đó. Nhưng bà vẫn cảm thấy bàng hoàng trước sự bất cẩn của tôi, và vô cùng tức giận vì tôi lại đẩy bản thân vào một hoàn cảnh mà nếu không có sự can thiệp của bà, nó đã có thể biến thành một vết nhơ tai hại. Hoặc là mẹ con bé đã kể lại, hoặc là Rachel đã nghe được những gì diễn ra — tôi không rõ là bên nào. Con bé liền ôm lấy cái nhìn lãng mạn, hão huyền của riêng nó về vụ việc. Nào là tôi “vô tâm”; nào là tôi “vô ơn bội nghĩa”; nào là tôi “chẳng có nguyên tắc nào cả”; nào là “chẳng thể biết được tiếp theo tôi sẽ làm ra trò trống gì nữa” — tóm lại, con bé đã tuôn ra với tôi những lời cay nghiệt nhất mà tôi từng được nghe từ cửa miệng của một tiểu thư khuê cát. Sự rạn nứt giữa chúng tôi kéo dài suốt cả ngày hôm sau. Đến ngày tiếp theo, tôi đã thành công trong việc giảng hòa, và từ đó chẳng màng nghĩ tới nó nữa. Liệu Rachel có nhắc lại tai nạn đen đủi này vào đúng thời khắc cốt tử khi vị trí của tôi trong lòng con bé một lần nữa bị công kích, và thậm chí còn nghiêm trọng hơn trước? Khi tôi đem toàn bộ hoàn cảnh đó kể lại, ông Bruff đã lập tức trả lời khẳng định ngay câu hỏi ấy.

“Nó chắc chắn đã gây ra ảnh hưởng lên tâm trí con bé,” ông nói với giọng trầm ngâm. “Và vì lợi ích của cậu, tôi ước gì chuyện đó đã không xảy ra. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng đã phát hiện ra rằng từng có một sức ảnh hưởng ngấm ngầm chống lại cậu — và dẫu thế nào thì cũng có một sự bất định đã được gạt bỏ khỏi con đường của chúng ta. Tôi thấy chúng ta chẳng thể làm gì khác lúc này nữa. Bước tiếp theo trong cuộc điều tra này buộc phải là bước đưa chúng ta đến gặp Rachel.”

Ông đứng dậy, bắt đầu trầm ngâm bước qua bước lại trong phòng. Đã có tới hai lần, tôi định nói cho ông hay rằng tôi đã hạ quyết tâm sẽ gặp trực tiếp Rachel; nhưng rồi cả hai lần đó, nghĩ đến tuổi tác và tính cách của ông, tôi lại chần chừ không dám đánh úp ông vào một thời điểm bất lợi.

“Khó khăn lớn nhất,” ông lại tiếp tục, “làm sao để ép con bé phơi bày toàn bộ tâm can trong chuyện này mà không hề giấu giếm. Cậu có gợi ý nào không?”

“Tôi đã quyết định rồi, thưa ông Bruff, tôi sẽ tự mình nói chuyện với Rachel.”

“Cậu ư!” Ông đột ngột dừng bước, nhìn tôi cứ như thể ông nghĩ tôi đã mất trí rồi vậy. “Cậu, trong số tất cả mọi người trên thế giới này!” Ông sực tỉnh, rồi lại bước đi một vòng khác trong phòng. “Đợi một chút đã,” ông nói. “Trong những trường hợp kỳ quái thế này, cách liều lĩnh đôi khi lại là cách tốt nhất.” Ông cân nhắc vấn đề một hoặc hai phút dưới lăng kính hoàn toàn mới ấy, và cuối cùng dứt khoát đưa ra quyết định ủng hộ tôi. “Có liều mới có ăn,” vị lão ông tiếp lời. “Cậu đang có một lợi thế mà tôi không có — và cậu sẽ là kẻ tiên phong thử nghiệm canh bạc này.”

“Một lợi thế về phần tôi ư?” tôi lặp lại, kinh ngạc tột cùng.

Khuôn mặt ông Bruff lần đầu tiên dịu lại, nở một nụ cười.

“Cơ sự là thế này,” ông nói. “Tôi nói thẳng cho cậu nghe nhé, tôi không tin tưởng vào sự kín đáo của cậu, và tôi cũng chẳng tin nổi cái tính khí nóng nảy của cậu. Nhưng tôi tin vào việc Rachel vẫn còn lưu giữ, đâu đó ở một góc khuất xa xôi trong trái tim nó, một chút yếu mềm ngập ngừng dành cho cậu. Hãy chạm vào điểm đó — và hãy tin vào hậu quả là những lời tâm sự trọn vẹn nhất có thể thốt ra từ đôi môi của một người phụ nữ! Vấn đề là — làm sao để cậu gặp được con bé đây?”

“Con bé từng là khách của ông tại ngôi nhà này mà,” tôi đáp. “Liệu tôi có mạo muội đề xuất — nếu không có ai hé lộ gì về tôi trước — rằng tôi có thể gặp con bé ở đây không?”

“Ghê gớm thật đấy!” ông Bruff thốt lên. Với đúng một từ bình phẩm ngắn ngủi ấy đáp lại câu nói của tôi, ông lại sải bước qua lại trong phòng.

“Nói một cách huỵch tẹt ra bằng tiếng Anh,” ông nói, “nhà của tôi sắp bị biến thành một cái bẫy để tóm gọn Rachel; với một miếng mồi nhử nó, dưới hình thức là một lời mời từ vợ và các con gái tôi. Nếu cậu không phải là Franklin Blake, và nếu vụ việc này không nghiêm trọng hơn thực tế dù chỉ một chút thôi, tôi đã từ chối thẳng thừng rồi. Đã thế này rồi, tôi thực lòng tin rằng có ngày Rachel sẽ phải sống để mà cảm ơn tôi vì tuổi già sức yếu lại đi phản bội nó. Cứ coi tôi là đồng phạm của cậu đi. Rachel sẽ được mời đến đây chơi cả ngày; và cậu sẽ nhận được thông báo đàng hoàng.”

“Khi nào ạ? Ngày mai ư?”

“Ngày mai thì chúng ta không đủ thời gian để nhận hồi âm từ con bé đâu. Cứ cho là ngày kia đi.”

“Làm sao tôi nhận được tin từ ông đây?”

“Cứ ở yên trong nhà suốt cả buổi sáng và chờ tôi ghé qua.”

Tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ vô giá mà ông đang dành cho mình bằng tất cả sự chân thành sâu sắc; từ chối lời mời ở lại ngủ qua đêm tại Hampstead, tôi quay trở lại căn hộ thuê của mình ở Luân Đôn.

Về ngày hôm sau, tôi chỉ có thể nói rằng đó là ngày dài nhất trong cuộc đời tôi. Dù thừa biết bản thân vô tội, dù chắc chắn rằng cái tiếng ác kinh tởm đang đeo bám lấy mình sớm muộn gì cũng sẽ được gột rửa, thì trong tâm trí tôi vẫn nảy sinh một nỗi tự ti bản năng khiến tôi chẳng buồn tò mò hay muốn gặp bất kỳ người bạn nào. Ta vẫn thường nghe nói (hầu như không ngoại lệ, tuy nhiên, đều từ những kẻ quan sát hời hợt) rằng kẻ có tội thường ra điều thanh bạch. Tôi tin rằng có một chân lý đúng đắn hơn gấp bội phần, đó là sự vô tội hoàn toàn có thể trông hệt như kẻ có tội. Tôi sai người từ chối tiếp khách suốt cả ngày trời đối với mọi vị khách ghé thăm; và tôi chỉ dám liều mình bước ra ngoài dưới lớp màn che của đêm tối.

Sáng hôm sau, ông Bruff gây bất ngờ cho tôi ngay tại bàn ăn sáng. Ông trao cho tôi một chiếc chìa khóa lớn, và tuyên bố rằng ông cảm thấy hổ thẹn về bản thân lần đầu tiên trong đời.

“Con bé sắp đến chứ ạ?”

“Hôm nay nó sẽ đến, dùng bữa trưa và dành cả buổi chiều với vợ cùng mấy cô con gái của tôi.”

“Vợ và các con gái của ông có tham gia vào kế hoạch này không ạ?”

“Tất nhiên là có rồi. Nhưng đàn bà ấy mà, như cậu có lẽ đã nhận ra, chẳng có cái nguyên tắc nào sất. Gia đình tôi chẳng mảy may cảm thấy cắn rứt lương tâm như tôi đâu. Với mục đích cuối cùng là đưa cậu và Rachel tái hợp, vợ và các con tôi phớt lờ những thủ đoạn được dùng để đạt được mục đích đó, thản nhiên hệt như thể họ là những tu sĩ Dòng Tên vậy.”

“Tôi vô cùng mang ơn họ. Chiếc chìa khóa này là gì vậy ạ?”

“Chìa khóa cánh cổng ở bức tường vườn phía sau nhà tôi đó. Hãy có mặt ở đấy vào lúc ba giờ chiều nay. Tự mở cổng vào vườn, rồi đi vào bằng cửa nhà kính. Băng qua phòng khách nhỏ, và mở cánh cửa ngay trước mặt dẫn thẳng vào phòng âm nhạc. Ở đó, cậu sẽ tìm thấy Rachel — và tìm thấy con bé lúc đang ở một mình.”

“Sao tôi có thể cảm ơn ông cho hết đây!”

“Tôi sẽ chỉ cho cậu cách. Đừng có mà trách móc tôi về những chuyện xảy ra sau đó đấy nhé.”

Nói đoạn, ông bước ra ngoài.

Tôi vẫn còn phải trải qua vô vàn giờ phút chờ đợi lê thê mệt mỏi. Để giết thời gian, tôi xem lại mấy bức thư của mình. Trong số đó có một lá thư từ Betteredge.

Tôi hào hứng bóc ra. Trái ngược với sự ngạc nhiên và thất vọng của tôi, mở đầu thư lại là lời xin lỗi, cảnh báo trước rằng đừng mong đợi có bất kỳ tin tức quan trọng nào. Sang câu tiếp theo, cái gương mặt dai như đỉa đói của Ezra Jennings lại xuất hiện! Hắn ta đã chặn Betteredge lại trên đường ra khỏi ga tàu và hỏi xem tôi là ai. Khi biết được điều đó, hắn liền nhắc đến chuyện từng nhìn thấy tôi với chủ nhân của hắn là ông Candy. Nghe được chuyện này, chính bản thân ông Candy đã lái xe đến gặp Betteredge để bày tỏ sự tiếc nuối vì chúng tôi đã lỡ hẹn với nhau. Ông ta có một lý do muốn đặc biệt trò chuyện với tôi; và lần tới khi tôi có dịp ghé qua vùng Frizinghall, ông khát khao tôi hãy báo cho ông biết. Ngoài một vài phát ngôn mang đậm chất triết lý Betteredge ra, đó chính là toàn bộ cốt lõi trong lá thư của người gửi. Lão già tốt bụng, trung thành thừa nhận rằng lão viết thư này “chủ yếu vì niềm vui được viết cho ngài mà thôi.”

Tôi vo tròn bức thư nhét vào túi áo, rồi quên bẵng nó đi ngay khoảnh khắc tiếp theo bởi sức hút mãnh liệt lấn át của cuộc gặp gỡ sắp diễn ra với Rachel.

Khi chiếc đồng hồ nhà thờ ở Hampstead điểm ba giờ, tôi đút chìa khóa của ông Bruff vào ổ khóa cửa ở bức tường vườn. Khi tôi vừa bước chân vào khu vườn, và trong lúc tôi đang khóa chặt cánh cửa lại từ phía bên trong, tôi thú nhận rằng mình đã cảm thấy một chút ngờ vực tội lỗi về những chuyện sắp sửa xảy ra tiếp theo. Tôi liếc mắt dò xét xung quanh sang hai bên; đầy nghi kỵ sự hiện diện của một nhân chứng bất ngờ nào đó ở một góc khuất nào đó trong khu vườn. Chẳng có gì xuất hiện để biện minh cho những âu lo của tôi cả. Tất cả các lối đi đều vắng lặng như tờ, và chỉ có lũ chim chóc cùng bầy ong là những nhân chứng duy nhất.

Tôi băng qua khu vườn; bước vào nhà kính; và đi qua phòng khách nhỏ. Khi tôi đặt tay lên cánh cửa đối diện, tôi nghe thấy những hợp âm u sầu vang lên từ chiếc đàn piano ở căn phòng bên trong. Con bé thường hay thẫn thờ gảy đàn kiểu ấy mỗi khi tôi lưu lại nhà mẹ nó. Tôi buộc phải dừng lại một lát để lấy lại bình tĩnh. Quá khứ và hiện tại trỗi dậy song song, ngay tại thời điểm tột đỉnh ấy — và sự đối lập đã làm tôi chao đảo.

Sau chừng một phút, tôi xốc lại bản lĩnh đàn ông của mình và đẩy cửa bước vào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.