Nguyệt Thạch

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHAPTER XV

❊ ❊ ❊

Viên thanh tra vẫn giữ vẻ lặng thim, chìm đắm trong suy nghĩ riêng, cho đến khi chúng tôi bước vào rặng thông dẫn tới bãi cát lún. Tại đó, ông ta xốc lại tinh thần như một người đã hạ quyết tâm, rồi quay sang nói chuyện với tôi.

— Ông Betteredge, — ông ta cất lời, — vì ông đã rộng lòng giúp một tay với tôi, và tôi thiết nghĩ ông cũng có thể hỗ trợ tôi phần nào trước khi trời tối hẳn, nên tôi thấy chẳng có lý do gì chúng ta phải úp mở với nhau nữa. Tôi muốn nêu gương bằng sự thẳng thắn về phía mình. Ông quyết tâm không cung cấp bất kỳ thông tin nào gây bất lợi cho Rosanna Spearman, bởi vì con bé đó đối xử tốt với ông và bởi ông vô cùng thương xót nó. Những cânز nhắc nhân đạo đó rất đáng ngợi khen, nhưng ngặt một nỗi, trong trường hợp này, chúng lại hoàn toàn hoài công vô ích. Rosanna Spearman chẳng gặp chút nguy hiểm nào về rắc rối pháp lý cả — không đâu, ngay cả khi tôi buộc được tội danh dính líu đến sự biến mất của viên Kim cương lên người nó, bằng những bằng chứng rành rành ra đấy!

— Ý ông là quý bà nhà tôi sẽ không khởi kiện ư? — tôi hỏi.

— Ý tôi là quý bà nhà ông không thể khởi kiện, — viên thanh tra đáp. — Rosanna Spearman chỉ là một quân cờ trong tay kẻ khác, và con bé sẽ được tha bổng vì lợi ích của kẻ khác đó.

Ông ta nói với giọng điệu của một người hoàn toàn nghiêm túc — điều đó là không thể chối cãi. Dù vậy, trong thâm tâm tôi vẫn dấy lên một cảm giác bất an khó tả đối với ông ta.

— Sao ông không nêu đích danh kẻ khác đó ra? — tôi nói.

— Sao ông không nêu đi, thưa ông Betteredge?

— Không.

Thanh tra Cuff đứng sững lại, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt đượm vẻ tò mò đầy u buồn.

— Tôi luôn cảm thấy khoan dung với những sự yếu đuối của con người, — ông ta nói. — Ngay lúc này đây, thưa ông Betteredge, lòng tôi lại càng trắc ẩn hơn đối với ông. Và ông, với cùng một động cơ cao đẹp ấy, cũng đang vô cùng thương xót Rosanna Spearman, phải không nào? Thế ông có vô tình biết dạo này con bé có may sắm được bộ đồ lót nào mới không?

Tôi hoàn toàn không tài nào đoán nổi ý đồ của ông ta đằng sau câu hỏi bất ngờ và kỳ quặc này. Thấy việc nói ra sự thật chẳng thể gây tổn hại gì cho Rosanna, tôi bèn đáp rằng khi mới đến chỗ chúng tôi, con bé có rất ít quần áo, và nhân việc khen ngợi hạnh kiểm tốt của nó (tôi cố nhấn mạnh vào chi tiết hạnh kiểm tốt), quý bà nhà tôi đã ban cho nó một bộ quần áo mới cách đây chưa đầy hai tuần.

— Quả là một thế gian khốn khổ, — viên thanh tra thốt lên. — Cuộc đời con người, thưa ông Betteredge, giống như một tấm bia — bất hạnh lúc nào cũng nhắm vào đó mà bắn, và chưa từng trượt phát nào. Nếu không vì bộ quần áo mới đó, hẳn chúng ta đã phát hiện ra một chiếc áo ngủ hoặc váy lót mới trong đống đồ của Rosanna, và cứ thế mà tóm cổ nó rồi. Ông theo kịp câu hỏi của tôi chứ? Chính tay ông đã tra hỏi đám hầu phòng, và ông thừa biết hai người trong số họ đã phát hiện ra điều gì bên ngoài cửa phòng Rosanna. Chắc hẳn ông biết con bé đã làm gì vào ngày hôm qua, sau khi nó phát sinh cơn bệnh chứ? Ông không đoán ra sao? Trời ạ, mọi chuyện rành rành ra đấy, giống như dải sáng ngoài kia, ở tận cuối rặng cây. Vào lúc mười một giờ sáng thứ Năm, Giám thị Seegrave (một con người đầy rẫy sự yếu đuối) đã chỉ cho tất cả các nữ gia nhân thấy vết nhơ trên cánh cửa. Rosanna có lý do riêng để nghi ngờ đống đồ đạc của chính mình; nó chớp lấy cơ hội đầu tiên để tẻ về phòng, phát hiện ra vết sơn dính trên áo ngủ, váy lót hay thứ gì đại loại thế, bèn giả vờ ốm rồi trốn biến ra thị trấn, mua nguyên liệu để may một chiếc váy lót hoặc áo ngủ mới, tự tay làm lấy trong phòng vào đêm thứ Năm, nhóm lửa (không phải để phi tang; có hai đồng nghiệp đang rình mò ngoài cửa, và nó thừa khôn ngoan để biết rằng không được để lại mùi khét lẹt hay một đống tàn tro dày cộm cần phải giải quyết) — tôi nhắc lại, nó nhóm lửa để sấy và ủi chiếc váy thay thế sau khi đã vắt khô, cất giấu chiếc váy dính bẩn kia đi (có lẽ là giặt giũ hoặc mang theo người), và vào đúng thời điểm này, nó đang bận rộn vứt bỏ tang vật ở một nơi kín đáo nào đó dọc theo đoạn bãi biển vắng vẻ phía trước chúng ta. Tôi đã lần theo dấu vết của nó chiều nay đến tận ngôi làng chài của ông, và ghé vào một căn nhà cụ thể mà rất có thể chúng ta sẽ phải ghé qua trước khi quay về. Nó đã nán lại trong căn nhà đó một khoảng thời gian, và khi bước ra, tôi tin là nó có giấu thứ gì đó dưới lớp áo choàng. Chiếc áo choàng (khoác trên lưng phụ nữ) chính là biểu tượng của lòng bác ái — nó che đậy cả một nỗ lực tội lỗi. Tôi đã thấy nó cất bước hướng về phía bắc dọc theo bờ biển sau khi rời khỏi căn nhà đó. Bờ biển chỗ các ông có được xem là một phong cảnh biển đẹp không, thưa ông Betteredge?

Tôi đáp: — Có, — ngắn gọn nhất có thể.

— Gu thẩm mỹ mỗi người mỗi khác, — thanh tra Cuff nói. — Đứng từ góc độ của tôi, chưa bao giờ tôi thấy cảnh biển nào kém thu hút đến thế. Nếu ông vô tình bám theo ai đó dọc bờ biển này, và người đó quay đầu lại, thì chẳng có lấy một mảnh chỗ nấp nào để giấu mình cho rảnh rội. Tôi buộc phải lựa chọn giữa việc bắt giữ Rosanna vì tình nghi, hay tạm thời để mặc nó tự tung tự tác. Vì những lý do mà tôi không muốn làm phiền ông, tôi đã quyết định đánh đổi mọi thứ chứ nhất định không để lộ động tĩnh vào ngay tối nay với một nhân vật nào đó mà chúng ta tạm thời không nhắc tên. Tôi quay lại dinh cơ để nhờ ông dẫn tôi đến đầu phía bắc của bãi biển theo một lối khác. Cát — với đặc tính lưu lại dấu chân con người — là một trong những cảnh sát điều tra cừ khôi nhất mà tôi biết. Nếu chúng ta không chạm trán Rosanna Spearman bằng cách đón lỏng theo lối này, những vệt cát có lẽ sẽ cho ta biết con bé đã làm những trò gì, miễn là trời còn đủ sáng. Đây là bãi biển đây rồi. Nếu ông không phiền khi tôi đề xuất — hay là ông cứ ngậm miệng lại và để tôi đi trước?

Nếu ở tiệm thuốc có bán một thứ bệnh gọi là "bệnh cuồng điều tra", thì cái căn bệnh ấy giờ đây đã bám chặt lấy cái gã đầy tớ hèn mọn của ông đây rồi. Thanh tra Cuff tiến bước giữa những ụ cát, đi xuống bãi biển. Tôi lủi thủi theo sau ông ta (với trái tim đập thình thịch tận cuống họng) và đứng đợi ở một khoảng cách nhất định xem chuyện gì sắp xảy ra.

Hóa ra, tôi lại đứng gần ngay đúng chỗ mà Rosanna Spearman và tôi từng đứng nói chuyện khi ngài Franklin đột ngột xuất hiện trước mặt chúng tôi lúc vừa từ Luân Đôn đến. Trong khi mắt tôi vẫn dán chặt vào viên thanh tra, tâm trí tôi lại bất giác quay quẩn về những gì đã diễn ra giữa tôi và Rosanna trong quá khứ. Thú thật, tôi tưởng như mình vẫn cảm nhận được bàn tay tội nghiệp ấy khẽ luồn vào tay tôi, siết nhẹ đầy biết ơn để cảm ơn vì tôi đã nói những lời dịu dàng với nó. Tôi tưởng như mình vẫn văng vẳng nghe tiếng con bé bảo rằng cái Vũng Sun Lún ấy cứ như có ma lực hút nó lại gần mỗi khi nó bước chân ra ngoài — tưởng như vẫn thấy gương mặt nó bừng sáng trở lại, rạng rỡ hệt như lần đầu tiên nó trông thấy ngài Franklin bước ra đầy quả quyết từ giữa các mô cát. Tinh thần tôi cứ thế chùng xuống khi nghĩ đến những điều đó — và khung cảnh vịnh nhỏ quạnh hiu khi tôi ngước nhìn xung quanh càng khiến tôi thêm phần bất an.

Ánh chiều tà cuối ngày đang lụi dần; trùm lên cả chốn hoang vu là một sự tĩnh mịch đến rợn ngợp. Những con sóng lớn ngoài khơi xa vỗ vào bãi cát ngầm giữa vịnh, một thứ tiếng động thầm lặng không một tiếng kêu. Vùng nước bên trong phẳng lặng và mờ ảo, không một làn gió gợn. Những vảng bùn nhầy nhụa, ngả màu vàng đục, nổi bồng bềnh trên mặt nước chết chòm chòm. Bọt nước và cặn bẩn lấp lánh thứ ánh sáng yếu ớt tại một số điểm khi tia nắng cuối cùng còn vương lại trên hai mỏm đá lớn nhô ra biển ở hai hướng bắc và nam. Lúc này đang là thời điểm nước triều chuyển dòng; và ngay cả khi tôi đứng đó chờ đợi, bề mặt nâu sẫm rộng lớn của bãi cát lún bắt đầu gợn sóng và run rẩy — thứ duy nhất chuyển động giữa chốn kinh hoàng ấy.

Tôi thấy viên thanh tra giật mình khi ánh mắt bắt gặp cơn rung chuyển của bãi cát. Sau khi đứng nhìn chừng một phút hoặc lâu hơn, ông ta quay người bước lại phía tôi.

— Thật là một chốn hiểm trở, thưa ông Betteredge, — ông ta nói; — và chẳng có lấy một dấu vết nào của Rosanna Spearman trên bãi biển này cả, dù ông có nhìn ngó ở đâu đi nữa.

Ông ta dẫn tôi đi thấp xuống bờ biển, và tự mắt tôi nhìn thấy rằng chỉ có dấu chân của ông ta và tôi là hằn lại trên lớp cát.

— Làng chài nằm hướng nào so với vị trí chúng ta đang đứng đây, thưa ông? — thanh tra Cuff hỏi.

— Cobb’s Hole, — tôi đáp (đó là tên của địa danh ấy), — nằm gần như chính xác về hướng nam.

— Chiều nay tôi thấy con bé đi ngược lên phía bắc dọc theo bờ biển từ Cobb’s Hole, — viên thanh tra nói. — Do đó, hẳn nó phải đi về phía này. Thế Cobb’s Hole có nằm ở phía bên kia mũi đất kia không? Và liệu chúng ta có thể đi bộ dọc theo bãi biển để đến đó lúc nước rút thế này không?

Tôi trả lời: — Có, — cho cả hai câu hỏi ấy.

— Nếu ông không phiền khi tôi đề nghị, chúng ta hãy rảo bước cho nhanh, — viên thanh tra nói. — Tôi muốn tìm ra nơi nó rời khỏi bờ biển trước khi trời tối hẳn.

Chúng tôi vừa bước đi được chừng vài trăm thước về hướng Cobb’s Hole thì thanh tra Cuff đột ngột quụp xuống sọc cả hai đầu gối trên bãi biển, trông hệt như một kẻ đang lên cơn cuồng tín cúi rạp mình cầu nguyện.

— Cuối cùng thì cảnh quan biển chỗ các ông cũng có điểm đáng khen đấy chứ, — viên thanh tra nhận xét. — Dấu chân phụ nữ đây rồi, thưa ông Betteredge! Cứ tạm gọi đây là dấu chân của Rosanna đi, cho đến khi chúng ta tìm thấy bằng chứng phản bác không thể chối cãi. Xin ông hãy quan sát cho kỹ, những dấu chân cực kỳ hỗn loạn — theo phỏng đoán của tôi thì chúng được cố tình làm rối tung lên. À, tội nghiệp con bé, nó cũng am hiểu tường tận những mánh khóe điều tra trên cát chẳng kém gì tôi cả! Nhưng ngặt nỗi có phải nó đã quá vội vã nên không xóa sạch hoàn toàn dấu tích không nhỉ? Tôi thì cho là vậy. Đây là một dấu chân đi từ Cobb’s Hole tới; và kia là một dấu chân khác quay ngược trở lại. Chẳng phải mũi giày của nó đang chĩa thẳng ra mép nước đó sao? Và chẳng phải tôi đang nhìn thấy hai vết gót chân nằm tít phía dưới bãi biển, cũng sát ngay mép nước kia ư? Tôi không có ý làm tổn thương tình cảm của ông, nhưng tôi e là con bé Rosanna này rất ranh mãnh. Trông nó có vẻ như đã hạ quyết tâm bò đến cái nơi mà ông và tôi vừa rời đi, mà không để lại bất kỳ dấu vết nào trên cát để chúng ta lần theo. Hay chúng ta cứ cho rằng nó đã lội nước từ điểm này cho đến tận mỏm đá phía sau chúng ta, rồi đi ngược lại theo lối cũ, sau đó mới đặt chân lên bãi biển ở chỗ hai vết gót chân vẫn còn hằn lại kia nhỉ? Vâng, cứ cho là thế đi. Giả thuyết này khá khớp với suy nghĩ của tôi rằng nó có giấu thứ gì đó dưới lớp áo choàng lúc rời khỏi nhà. Không! Không phải thứ để phi tang — bởi vì nếu thế, hà cớ gì nó phải tốn bao nhiêu công sức che đậy điểm kết thúc cuộc hành trình của mình? Cất giấu một thứ gì đó, tôi nghĩ đó mới là phỏng đoán chính xác hơn trong hai khả năng. Biết đâu, nếu chúng ta tiếp tục đi đến ngôi nhà kia, chúng ta sẽ khám phá ra thứ đó là gì?

Nghe đến đề xuất này, cơn sốt điều tra trong tôi bỗng chốc hạ nhiệt.

— Ông không cần tôi đi cùng đâu, — tôi nói. — Tôi có thể tích sự gì chứ?

— Càng quen biết ông lâu, thưa ông Betteredge, — viên thanh tra đáp, — tôi càng khám phá ra nhiều đức tính quý giá ở ông. Sự khiêm tốn — chà chà, trên đời này sự khiêm tốn mới hiếm hoi làm sao! Và ông lại sở hữu đức tính hiếm có ấy biết bao! Nếu tôi lủi thủi đến ngôi nhà đó một mình, miệng lưỡi thiên hạ sẽ bị khóa chặt ngay từ câu hỏi đầu tiên của tôi. Còn nếu đi cùng ông, tôi sẽ xuất hiện với tư cách được giới thiệu bởi một người hàng xóm đáng kính, và những câu chuyện trò cởi mở sẽ là kết quả tất yếu. Tôi nhìn nhận vấn đề theo hướng đó; còn ông thì sao?

Vì không có sẵn một câu trả lời sắc sảo như mong muốn, tôi đành tìm cách kéo dài thời gian bằng cách hỏi xem ông ta muốn đến ngôi nhà nào.

Khi viên thanh tra miêu tả về ngôi nhà đó, tôi nhận ra ngay đó là nơi sinh sống của một ngư dân tên là Yolland, cùng vợ và hai người con đã trưởng thành, một trai một gái. Nếu ông chịu khó đọc lại phần đầu, ông sẽ thấy rằng khi lần đầu tiên giới thiệu Rosanna Spearman với mọi người, tôi đã miêu tả con bé thỉnh thoảng hay thay đổi lộ trình đến Vũng Sun Lún bằng cách ghé thăm vài người quen ở Cobb’s Hole. Những người quen đó chính là gia đình Yolland — những con người đáng kính, trọng danh dự và là niềm tự hào của chòm xóm. Mối quan hệ giữa Rosanna và họ bắt đầu thông qua cô con gái bị tật nguyền ở chân, người mà dân làng hay gọi bằng cái tên Lucy Khập Khiễng. Hai cô gái có cơ thể bất hạnh ấy chắc hẳn có chút đồng cảm với nhau. Dù thế nào đi nữa, gia đình nhà Yolland và Rosanna vẫn luôn tỏ ra thân thiện, hòa nhã mỗi khi có dịp hiếm hoi gặp gỡ. Việc thanh tra Cuff lần ra dấu vết con bé đến tận ngôi nhà của họ đã đặt việc tôi tiếp tay cho cuộc điều tra dưới một ánh sáng hoàn toàn mới. Rosanna chẳng qua chỉ đến nơi mà nó vẫn thường lui tới; và việc chứng minh nó từng giao du với gia đình ngư dân nọ cũng đồng nghĩa với việc chứng minh nó hoàn toàn vô tội trong chuyện này, ít ra là cho đến lúc đó. Do đó, nếu tôi để bản thân bị thuyết phục bởi logic của thanh tra Cuff, thì hóa ra tôi đang làm ơn cho con bé chứ không phải hại nó. Thế là tôi tuyên bố mình đã bị thuyết phục.

Chúng tôi tiếp tục tiến về Cobb’s Hole, vẫn nhìn thấy những dấu chân trên cát chừng nào trời còn chưa tối hẳn.

Khi đến nơi, hai bố con người ngư dân đang bận đi thuyền đánh cá ngoài khơi, còn Lucy Khập Khiễng vì thể trạng yếu ớt nên đang nằm nghỉ trên gác. Chỉ có bà Yolland tốt bụng tiếp đón chúng tôi ở gian bếp. Khi nghe tin thanh tra Cuff là một nhân vật lừng danh ở Luân Đôn, bà liền đon đả bày lên bàn một chai gin Hà Lan cùng hai chiếc tẩu sạch bong, mắt tròn mắt dẹt ngắm nhìn ông ta như thể chẳng bao giờ thấy chán.

Tôi ngồi lặng lẽ trong góc phòng, chờ xem vị thanh tra sẽ mở lời thế nào để lái câu chuyện sang chủ đề về Rosanna Spearman. Cách thức tiếp cận vòng vo tam quốc quen thuộc của ông ta hóa ra lần này lại còn vòng vo hơn bao giờ hết. Ông ta đã xoay sở thế nào thì đến tôi lúc đó cũng chịu thua, mà giờ đây nghĩ lại vẫn không tài nào hiểu nổi. Nhưng có một điều chắc chắn là: ông ta bắt đầu từ Hoàng gia Anh, giáo phái Giám lý Nguyên thủy, cho đến giá cả của cá; rồi từ đó (theo cái giọng điệu u ám, sâu cay sở trường) lân la sang vụ mất trộm viên Kim cương Moonstone, sự thâm độc của cô hầu phòng cả gan nhất nhà, cho đến thái độ cay nghiệt chung của đám gia nhân đối với Rosanna Spearman. Bằng cách dẫn dắt vòng vèo như thế, khi đã chạm đúng trọng tâm, ông ta khéo léo bày tỏ rằng việc ông đi điều tra viên Kim cương thất lạc một phần là để tìm lại nó, phần khác là để minh oan cho Rosanna khỏi những nghi kỵ bất công từ kẻ thù trong nhà. Chỉ độ mười lăm phút kể từ khi chúng tôi bước chân vào bếp, bà Yolland tốt bụng đã đinh ninh rằng mình đang trò chuyện với người bạn chí cốt của Rosanna, và đang nhiệt tình nài nỉ thanh tra Cuff dùng chai gin Hà Lan để bồi bổ dạ dày cũng như xốc lại tinh thần.

Vốn đinh ninh rằng viên thanh tra đang tốn nước bọt vô ích với bà Yolland, tôi ngồi thưởng thức màn trò chuyện giữa họ chẳng khác nào cách tôi từng ngồi thưởng thức một vở kịch sân khấu trước đây. Viên thanh tra Cuff vĩ đại tỏ ra kiên nhẫn đến kinh ngạc; ông ta cứ kiên trì dò dúng vận may hết đường này đến ngõ khác, nhả ra từng phát đạn thăm dò tưởng chừng như vô định, chỉ cốt sao bắn trúng đích. Mọi điều đều nói lên điểm tốt của Rosanna, chẳng có lấy một lời nào gây bất lợi cho con bé — dẫu ông ta có cố gắng thế nào đi nữa thì kết cục vẫn thế; trong khi bà Yolland thì nói năng lia lịa và đặt trọn vẹn niềm tin tưởng tuyệt đối vào ông ta. Nỗ lực cuối cùng của ông được tung ra khi chúng tôi nhìn đồng hồ và đứng dậy chuẩn bị cáo từ.

— Thôi, tối nay tôi xin phép chào bà, — thanh tra Cuff nói. — Và trước khi chia tay, tôi chỉ muốn nhắn nhủ rằng tôi, người đầy tớ mẫn cán của bà đây, luôn là một người hâm mộ thành tâm của Rosanna Spearman. Nhưng chà chà! Con bé sẽ chẳng bao giờ ngóc đầu lên nổi nếu cứ tiếp tục bám trụ ở chỗ làm hiện tại; và lời khuyên chân thành của tôi dành cho nó là — hãy mau rời đi.

— Trời đánh thánh vật đời tôi chứ! Con bé đúng là sắp sửa dứt áo ra đi đấy! — bà Yolland kêu lên. (Xin chú ý — tôi đã dịch ngôn ngữ của bà Yolland từ tiếng địa phương Yorkshire sang tiếng Anh chuẩn. Khi tôi kể cho các ông nghe rằng ngay cả một bậc cao thủ toàn tài như Cuff thỉnh thoảng vẫn phải bối rối không hiểu nổi bà ta cho đến khi tôi ra tay giải nghĩa, thì các ông có thể tự phỏng đoán xem tâm trạng của mình sẽ ra sao nếu tôi cứ để nguyên lời bà ta bằng tiếng bản địa).

Rosanna Spearman sắp rời bỏ chúng tôi ư? Nghe đến đó, tôi lập tức vểnh tai lên nghe ngóng. Nói gì thì nói, việc con bé dứt áo ra đi mà trước đó không hề đả động một lời cảnh báo nào với quý bà hay với tôi quả là điều kỳ lạ. Một mối hoài nghi bất chợt nảy sinh trong đầu tôi: phải chăng phát súng bắn mò cuối cùng của thanh tra Cuff đã trúng đích rồi sao? Tôi bắt đầu tự vấn xem liệu vai trò của mình trong vụ việc này có thực sự trong sáng vô hại như tôi từng nghĩ hay không. Việc tung màng lưới dối trá để qua mặt một người phụ nữ lương thiện có thể nằm trong nguyên tắc công việc của viên thanh tra, nhưng với tư cách là một tín đồ Tin Lành chân chính, lẽ ra tôi phải nhớ rằng cha đẻ của sự dối trá chính là Quỷ dữ — và rắc rối thì chẳng bao giờ ở xa Quỷ dữ cả. Bắt đầu đánh hơi thấy mùi rắc rối trong không khí, tôi toan lôi thanh tra Cuff ra ngoài. Lập tức, ông ta ngồi phịch xuống ghế và đòi nốc một ngụm rượu ấm từ chai gin Hà Lan. Bà Yolland ngồi đối diện, tự tay rót rượu cho ông. Tôi lủi thủi bước ra cửa, cảm thấy vô cùng bất an, miệng lẩm bẩm rằng có lẽ mình phải chào từ biệt thôi — thế mà chân vẫn không chịu bước đi.

— Vậy là con bé định đi thật sao? — viên thanh tra hỏi. — Thế đi rồi nó sẽ làm gì để mưu sinh? Đau lòng quá, đau lòng quá! Tựa cõi đời này, sinh linh khốn khổ ấy chẳng có lấy một người bạn nào ngoài ông và tôi.

— Ồ, thế mà lại có đấy nhé! — bà Yolland đáp. — Như tôi đã nói với ông, chiều nay nó có ghé qua đây; sau khi ngồi trò chuyện một lúc với con bé Lucy nhà tôi và tôi, nó xin phép lên lầu một mình vào phòng của con Lucy. Đó là căn phòng duy nhất nhà chúng tôi có sẵn bút mực. "Cháu muốn viết thư cho một người bạn," nó bảo thế, "và cháu không thể viết nổi vì đám gia nhân ở dinh cơ cứ tò mò dòm ngó." Thư gửi cho ai thì tôi chịu chết không biết; chắc hẳn phải là một bức thư dài dằng dặc, cứ nhìn khoảng thời gian nó ì ạch trên gác là biết. Lúc nó đi xuống, tôi có ngỏ ý cho nó một con tem thư. Nhưng nó chẳng cầm thư trên tay, và cũng chẳng nhận con tem. Tội nghiệp con bé, tính tình vốn dĩ cứ kín như bưng (như ông biết đấy) về bản thân và mọi việc nó làm. Nhưng quả thật nó có quen một người bạn ở đâu đó, tôi dám đảm bảo với ông là thế; và các ông cứ yên tâm, thể nào nó cũng đến tìm người bạn đó cho mà xem.

— Sớm chứ? — thanh tra Cuff hỏi.

— Sớm chừng nào hay chừng ấy, — bà Yolland đáp.

Đến lúc này, tôi không thể đứng ngoài cửa được nữa mà phải chen vào. Với tư cách là quản gia đứng đầu dinh cơ của quý bà, tôi không thể dung thứ cho thứ ngôn ngữ ba hoa bàn tán về chuyện gia nhân của chúng tôi đi hay ở, lại dám diễn ra ngay trước mặt tôi mà tôi lại làm ngơ cho được.

— Bà nhầm về con Rosanna Spearman rồi, — tôi lên tiếng. — Nếu nó có ý định từ bỏ công việc hiện tại, lẽ ra nó phải báo cáo điều đó với tôi trước tiên chứ.

— Nhầm ư? — bà Yolland cự cãi. — Ơ hay, chính tay nó vừa mới mua một vài thứ cần thiết cho chuyến đi từ tôi cách đây chỉ đúng một tiếng đồng hồ, ngay tại căn phòng này đây, thưa ông Betteredge. A, nhắc mới nhớ, — người đàn bà rườm rà này bỗng bận rộn thọc tay vào túi quần, — tự dưng tôi lại nhớ ra một chuyện cần phải nói về con Rosanna và số tiền của nó. Không biết hai ông có dịp gặp lại nó khi quay về dinh cơ không?

— Tôi sẽ chuyển lời giúp tội nghiệp con bé với tất cả sự hân hạnh, — thanh tra Cuff nhanh nhẩu đáp lời trước khi tôi kịp chèn vào nửa câu.

Bà Yolland lôi từ trong túi ra một nhúm tiền xu gồm vài cắc shilling và sáu xu, rồi tỉ mẩn đếm từng đồng trên lòng bàn tay với một vẻ cẩn trọng đến mức phát bực. Bà chìa tiền ra cho viên thanh tra, nét mặt trông vô cùng tiếc nuối như thể chẳng đành lòng rời xa chúng chút nào.

— Nhờ các ông chuyển lại số tiền này cho Rosanna, kèm theo lời thăm hỏi ân cần và lòng kính trọng của tôi nhé? — bà Yolland nói. — Nó cứ khăng khăng đòi trả tiền cho một hai món đồ mà nó ưng ý tối nay — mà thú thật nhà tôi thì lúc nào cũng túng thiếu, chẳng dại gì chối từ tiền bạc. Dẫu vậy, tôi cứ thấy bứt rứt không yên khi cầm số tiền tiết kiệm ít ỏi của tội nghiệp con bé. Và nói thật với các ông, chồng tôi mà về nhà vào sáng mai sau giờ làm việc mà biết tôi cầm tiền của Rosanna Spearman, chắc ông ấy chẳng vui nổi đâu. Xin các ông hãy nhắn lại rằng những món đồ nó mua của tôi xem như món quà biếu, nó cứ thoải mái giữ lấy mà dùng. Đừng có để tiền lại trên bàn đấy nhé, — bà Yolland vừa nói vừa vội vã dúi phắt số tiền vào tay viên thanh tra như thể chúng đang làm bỏng ngón tay bà, — đừng để đấy, các ông là người tốt mà! Thời buổi khó khăn, xác thịt thì yếu đuối; nhỡ đâu tôi lại nổi lòng tham đút tóe tiền vào túi lại thì khổ.

— Đi thôi nào! — tôi giục giã. — Tôi không chờ được nữa đâu: tôi phải quay về dinh cơ đây.

— Tôi sẽ theo ông ngay đây, — thanh tra Cuff điềm nhiên đáp.

Lần thứ hai, tôi lủi ra cửa; và lần thứ hai, dù đã cố gắng hết sức, tôi vẫn không tài nào bước qua nổi ngưỡng cửa.

— Chuyện hoàn tiền thế này thật tế nhị quá nhỉ, thưa bà, — tôi nghe tiếng viên thanh tra cất lời. — Chắc là bà bán cho nó giá rẻ hều chứ?

— Rẻ á? — bà Yolland la lên. — Lại đây mà tự mắt mục sở thị nhé.

Bà cầm ngọn nến đứng dậy dẫn viên thanh tra đến một góc bếp. Dù có chết tôi cũng không kìm được chân mà phải lếch thếch bước theo họ. Xếp đống ở một xóc nhà là một bợm đồ lượm lặt lỉnh kỉnh (hầu hết là đồ kim loại cũ) mà người ngư dân vớt được từ những con tàu đắm qua nhiều lần ra khơi, nhưng chưa tìm được mối bán ưng ý. Bà Yolland thọc tay vào đống phế liệu đó, lôi ra một chiếc hộp thiếc đã tróc sơn, có nắp đậy hẳn hoi và một cái quai móc để treo — loại dụng cụ mà người ta hay dùng trên tàu thuyền để cất giữ bản đồ, biểu đồ cùng những thứ tương tự tránh bị ẩm ướt.

— Đây nhé! — bà ta nói. — Lúc Rosanna bước vào tối nay, nó đã mua một chiếc y hệt thế này. "Cái này vừa khít để cất cổ tay áo với cổ áo sơ mi của cháu, khỏi bị nhăn nhúm trong rương," nó bảo thế. Một xu chín cẳng, thưa ông Cuff. Thề có Chúa chứng giám, không hơn dù chỉ nửa xu!

— Rẻ như cho! — viên thanh tra thở dài thườn thượt.

Ông ta cân đong chiếc hộp trên tay. Dường như tôi thoáng nghe thấy vài nốt nhạc trong bài "Bông hồng mùa hè cuối cùng" vang lên khi ông ngắm nghía nó. Giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa! Ông ta lại vừa tóm được một phát hiện mới gây bất lợi cho Rosanna Spearman, tại chính cái nơi mà tôi từng đinh ninh rằng danh tiếng của con bé được an toàn nhất, và tất cả đều do một tay tôi dẫn đường mách nước! Cứ tưởng tượng xem tâm trạng tôi lúc đó thế nào, và tôi đã ân hận biết bao vì trót đóng vai kẻ môi giới đưa thanh tra Cuff đến gặp bà Yolland.

— Thế đủ rồi đấy, — tôi giục. — Chúng ta thực sự phải đi thôi.

Phớt lờ hoàn toàn lời tôi, bà Yolland lại thọc tay sâu vào đống phế liệu, và lần này lôi ra một sợi xích sắt dắt chó.

— Ông cầm lấy ngắm nghía trọng lượng xem nào, thưa ông, — bà bảo viên thanh tra. — Nhà tôi có tận ba sợi thế này, thế mà Rosanna hốt béng hai sợi. "Cháu cần hai sợi xích chó để làm gì thế hả con yêu?" tôi hỏi. "Cháu nối chúng lại với nhau là vừa đẹp một vòng quấn quanh rương của cháu," nó đáp. "Dùng thừng thì rẻ chán," tôi bảo. "Xích mới là chắc ăn nhất chứ ạ," nó cãi. "Đời thuở nhà ai lại đi chằng rương bằng xích sắt bao giờ," tôi kêu lên. "Ôi dào, bà Yolland cứ hay vẽ chuyện," nó cười. "Cứ để cháu lấy mấy sợi xích nhé!" Con bé này đúng là lạ đời thật, thưa ông Cuff — tốt tính như vàng, đối xử với con Lucy nhà tôi còn hơn cả chị em ruột — nhưng lúc nào cũng hơi khác người. Thôi đấy! Tôi đành chiều ý nó. Ba xu rưỡi. Xin thề danh dự của một người đàn bà lương thiện, đúng ba xu rưỡi, thưa ông Cuff!

— Tính ra mỗi sợi thế à? — thanh tra hỏi.

— Cả cặp luôn đấy ạ! — bà Yolland đáp. — Ba xu rưỡi cho cả hai sợi.

— Thế có khác nào đem biếu đâu, thưa bà, — viên thanh tra vừa nói vừa lắc đầu nguầy nguậy. — Biếu không còn gì bằng!

— Tiền đây nhé, — bà Yolland vừa lùi bước ngang về phía đống tiền bạc lẻ trên bàn như thể có thứ ma lực nào đó kéo bà lại, vừa lẩm bẩm. — Cái hộp thiếc với mấy sợi xích chó là toàn bộ những gì nó mua và mang đi. Một xu chín cẳng cộng với ba xu rưỡi — tổng cộng là năm xu ba. Xin gửi kèm lời thăm hỏi ân cần và lòng kính trọng của tôi — chứ lương tâm tôi không tài nào nuốt trôi số tiền tiết kiệm ít ỏi của tội nghiệp con bé khi nhỡ đâu có lúc chính nó lại cần đến chúng.

— Lương tâm tôi cũng chẳng cho phép tôi nhận lại số tiền này đâu, thưa bà, — thanh tra Cuff đáp. — Bà coi như đã tặng không nó đống đồ đó rồi còn gì — đúng thế thật mà.

— Đó là suy nghĩ chân thành của ông thật chứ, thưa ông? — bà Yolland phấn khởi hẳn lên, nét mặt bừng sáng.

— Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, — viên thanh tra khẳng định. — Cứ hỏi ông Betteredge thì rõ.

Hỏi tôi thì cũng bằng thừa. Tất cả những gì họ nhận được từ tôi chỉ là câu: "Chúc ngủ ngon."

— Mặc thây cái đống tiền quái quỷ này! — bà Yolland thốt lên. Dứt lời, bà dường như mất hết tự chủ, vội vàng vơ trọn đống tiền xu trên bàn rồi nhét phắt vào túi quần một cục. — Cứ nhìn thấy chúng nằm chình ình ra đấy mà chẳng ai thèm nhặt thì phát bực cả mình, — người đàn bà vô lý ấy làu bàu rồi ngồi phịch xuống ghế, trân trân nhìn thanh tra Cuff như muốn thách thức: "Nằm trong túi tôi cả rồi đấy — giỏi thì lấy ra mà xem!"

Lần này, tôi không chỉ lết ra cửa mà còn bước thẳng ra đường cái để quay về. Giải thích thế nào đi nữa thì lúc đó tôi vẫn có cảm giác một trong hai người họ — hoặc cả hai — đã xúc phạm danh dự của tôi trầm trọng. Tôi chưa đi được ba bước chân khỏi con hẻm làng thì đã nghe tiếng viên thanh tra lúp xúp theo sau.

— Cảm ơn sự dẫn dắt của ông nhé, ông Betteredge, — ông ta cất lời. — Tôi thực sự phải mang ơn người vợ ông chài vì đã ban cho tôi một cảm giác hoàn toàn mới lạ. Bà Yolland vừa làm tôi thấy lú lẫn rồi đấy.

Tôi suýt nữa thì phang ngay cho ông ta một câu trả lời sắc mỏng, chẳng vì lý do gì ngoài việc tôi đang bực mình với ông ta cũng chỉ vì tôi đang bực mình với chính mình. Nhưng khi nghe ông ta thừa nhận là mình đang bối rối, một tia hy vọng dịu êm bỗng lóe lên trong đầu tôi, biết đâu rốt cuộc chẳng có tai họa lớn nào xảy ra cả. Tôi đành im lặng giữ kẽ để nghe ngóng thêm.

— Phải, — viên thanh tra cất lời như thể ông ta đang đọc vị những suy nghĩ trong đầu tôi giữa bóng tối. — Thay vì dẫn đường chỉ lối cho tôi, sự việc này có lẽ sẽ an ủi ông phần nào khi biết rằng, thưa ông Betteredge (với tư cách là kẻ luôn quan tâm đến Rosanna), chính ông lại là người vô tình đánh lạc hướng tôi đấy. Những việc con bé thực hiện tối nay thì quá rõ ràng rồi còn gì. Nó đã nối hai sợi xích lại với nhau, rồi móc chặt vào quai chiếc hộp thiếc. Sau đó, nó nhấn chìm chiếc hộp xuống nước hoặc xuống bãi cát lún. Nó buộc đầu dây xích thả lỏng còn lại vào một chỗ nào đó dưới chân các mỏm đá — nơi chỉ có mình nó biết. Và nó sẽ để yên chiếc hộp nằm cố định ở chỗ neo đậu đó cho đến khi vụ việc hiện tại ngã ngũ; sau đó, nó có thể thong thả tự mình lôi chiếc hộp lên khỏi nơi ẩn nấp một cách kín đáo vào bất cứ lúc nào tiện lợi nhất. Mọi chuyện hoàn toàn rành mạch cho đến lúc này. Thế nhưng, — viên thanh tra bỗng hạ giọng với chút ít sự thiếu kiên nhẫn lần đầu tiên xuất hiện trong giọng nói, — điều bí ẩn ở đây là — quái quỷ thật, rốt cuộc nó đã giấu thứ gì trong chiếc hộp thiếc đó chứ?

Tôi tự nhủ thầm trong đầu: "Viên Kim cương Moonstone!" Nhưng ngoài miệng, tôi chỉ đáp lại thanh tra Cuff: — Thế ông không đoán ra à?

— Không phải viên Kim cương đâu, — viên thanh tra khẳng định. — Toàn bộ kinh nghiệm tích lũy cả đời tôi chắc chắn đã sai bét nhè, nếu như Rosanna Spearman thực sự đang giữ viên Kim cương trong tay.

Nghe đến những lời đó, cái căn bệnh cuồng điều tra chết tiệt kia có lẽ lại bắt đầu bùng phát trong lồng ngực tôi. Dù thế nào đi nữa, sự tò mò muốn giải mã câu đố hóc búa này đã khiến tôi quên hết cả sự đời. Tôi buột miệng nói một cách liều lĩnh:

— Bộ váy dính vết bẩn chứ gì nữa!

Thanh tra Cuff khựng lại ngay giữa bóng tối, đưa tay níu chặt lấy cánh tay tôi.

— Bất cứ thứ gì bị vứt xuống bãi cát lún chỗ các ông, liệu có bao giờ bị sóng đánh dạt lên bề mặt lại không? — ông ta hỏi.

— Không bao giờ, — tôi đáp. — Dù nhẹ hay nặng, bất cứ thứ gì rơi xuống Vũng Sun Lún đều bị hút chìm nghỉm và biến mất vĩnh viễn.

— Rosanna Spearman có biết điều đó không?

— Nó rành rõi chẳng kém gì tôi đâu.

— Vậy thì, — viên thanh tra suy luận, — việc quái gì nó phải nhọc công làm thế, trong khi chỉ cần gói một hòn đá vào bộ váy dính bẩn rồi quẳng tỏm nó xuống bãi cát lún là xong chuyện? Chẳng có lấy một lý do quái quỷ nào giải thích tại sao nó phải cất giấu chiếc váy đó cả — thế mà thế nào nó cũng đã giấu rồi. Câu hỏi đặt ra là, — vừa nói, viên thanh tra vừa tiếp tục cất bước, — bộ váy dính vết sơn ấy là váy lót hay áo ngủ? Hay đó là một thứ gì đó khác mà nó có lý do chính đáng để bảo vệ bằng mọi giá? Thưa ông Betteredge, nếu không có sự cố nào chen ngang, ngày mai tôi buộc phải đến Frizinghall để tìm hiểu xem con bé đã mua những gì ở thị trấn khi nó lén lút chuẩn bị nguyên liệu may bộ đồ thay thế. Việc rời khỏi dinh cơ lúc tình hình đang nhạy cảm thế này là một canh bạc mạo hiểm — nhưng nếu cứ mò mẫm trong bóng tối để bước tiếp bước nữa trong vụ này thì còn nguy hiểm hơn gấp bội. Xin lỗi vì tôi hơi nổi cáu; tôi đang tự hạ thấp giá trị bản thân mất rồi — tôi lại để cho Rosanna Spearman dắt mũi dắt tai cơ chứ.

Khi chúng tôi quay về đến nơi, đám gia nhân đang quây quần ăn tối. Người đầu tiên chúng tôi chạm mặt ở khoảng sân ngoài là viên cảnh sát mà Giám thị Seegrave đã để lại để hỗ trợ thanh tra Cuff. Viên thanh tra hỏi liệu Rosanna Spearman đã về chưa. Rồi. Lúc nào thế? Gần một tiếng trước. Nó đã làm gì? Nó đã lên lầu cởi nón và áo choàng — và hiện đang ngồi ăn tối bình thản cùng mọi người.

Không nói thêm lời nào, thanh tra Cuff lủi thủi đi vòng ra phía sau nhà, cảm giác như giá trị bản thân cứ sụt giảm dần sau mỗi bước chân. Do mải mê trong bóng tối, ông ta đi quá lố lối vào (mặc cho tôi có gọi với theo) cho đến khi bị chặn lại bởi một cánh cổng nhỏ dẫn vào khu vườn. Khi tôi đuổi theo để kéo ông ta đi đúng đường, tôi phát hiện ra ông ta đang ngước nhìn chăm chú lên một ô cửa sổ cụ thể ở tầng lầu phía sau nhà.

Nương theo ánh mắt ông ta ngước nhìn lên, tôi nhận ra đối tượng đang thu hút sự chú ý chính là ô cửa sổ phòng tiểu thư Rachel, và bên trong có những bóng đèn đang di chuyển qua lại liên tục như thể đang có chuyện bất thường xảy ra.

— Chẳng phải đó là phòng của tiểu thư Verinder đấy chứ? — thanh tra Cuff hỏi.

Tôi đáp xác nhận, rồi mời ông ta vào nhà ăn tối cùng tôi. Viên thanh tra vẫn đứng chôn chân tại chỗ, lẩm bẩm vài câu về chuyện tận hưởng hương thơm hoa cỏ trong vườn đêm. Tôi đành mặc kệ ông ta tự do tận hưởng. Đúng lúc tôi quay người bước qua ngưỡng cửa, văng vẳng bên tai tôi giai điệu bài hát "Bông hồng mùa hè cuối cùng" cất lên từ hướng chiếc cổng nhỏ. Thanh tra Cuff lại vừa vớ được một phát hiện mới! Và lần này thì ô cửa sổ của cô chủ nhỏ nhà tôi chính là tâm điểm của vụ việc!

Suy nghĩ đó lập tức kéo chân tôi quay lại phía viên thanh tra, kèm theo lời ngỏ ý lịch thiệp rằng tôi không đành lòng để mặc ông ta đứng lủi thủi một mình.

— Có điều gì trên đó mà ông không hiểu à? — tôi vừa nói vừa chỉ tay lên ô cửa sổ phòng tiểu thư Rachel.

Căn cứ vào giọng điệu lúc ấy, thanh tra Cuff dường như đã lấy lại được vị thế xứng đáng trong lòng chính mình.

— Người dân ở hạt Yorkshire các ông thích cá cược lắm phải không? — ông ta hỏi.

— Hửm? — tôi đáp. — Thì sao nào?

— Nếu tôi là một người gốc Yorkshire, — viên thanh tra tiếp lời, tay luồn vào cánh tay tôi, — tôi sẵn sàng cá với ông một đồng bảng chẵn, thưa ông Betteredge, rằng tiểu thư nhà ông vừa mới đột ngột quyết định rời khỏi dinh cơ này. Nếu tôi thắng độ vụ đó, tôi sẵn sàng cá tiếp thêm một đồng bảng nữa rằng ý định đó vừa mới nảy sinh trong đầu cô ấy trong vòng một tiếng đồng hồ trở lại đây.

Phỏng đoán đầu tiên của viên thanh tra khiến tôi giật mình thon thót. Phỏng đoán thứ hai lại vô tình chắp nối thế nào trong đầu tôi với báo cáo mà chúng tôi vừa nghe từ viên cảnh sát hồi nãy, rằng Rosanna Spearman vừa trở về từ bãi cát cũng chỉ cách đây vỏn vẹn một tiếng đồng hồ. Hai sự kiện ấy kết hợp lại với nhau tạo ra một hiệu ứng kỳ lạ trong tâm trí tôi khi chúng tôi bước vào phòng ăn tối. Tôi hất phăng cánh tay thanh tra Cuff ra, quên bẵng cả phép tắc lịch sự, lách qua người ông ta để xông thẳng vào trong tự mình làm rõ mọi chuyện.

Samuel, gã chân dài phụ việc, là người đầu tiên tôi chạm trán ở hành lang.

— Quý bà đang đợi gặp ông và thanh tra Cuff đấy ạ, — gã nói ngay trước khi tôi kịp há miệng chất vấn.

— Bà đợi lâu chưa? — giọng thanh tra Cuff vang lên ngay sau lưng tôi.

— Dạ, suốt một tiếng đồng hồ nay rồi thưa ông.

Lại cái mốc thời gian đó! Rosanna vừa trở về; tiểu thư Rachel vừa hạ quyết định nào đó ngoài sức tưởng tượng; và quý bà thì đang mỏi mòn chờ gặp thanh tra — tất cả đều diễn ra trong vòng đúng một tiếng đồng hồ trở lại đây! Thật chẳng mấy dễ chịu gì khi thấy những con người và sự việc tưởng chừng chẳng liên quan ấy lại đan cài vào nhau theo cách này. Tôi cứ thế bước thẳng lên lầu, không thèm liếc nhìn thanh tra Cuff hay nói với ông ta nửa lời. Bàn tay tôi bỗng dưng run lẩy bẩy khi đưa lên gõ cửa phòng bà chủ.

— Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên tẹo nào, — viên thanh tra thì thầm sát bên tai tôi, — nếu tối nay lại có một vụ bê bối chấn động nào đó nổ tung trong cái nhà này cho mà xem. Đừng có hoảng hốt! Tôi từng dẹp yên những rắc rối gia đình còn khủng khiếp hơn thế này nhiều trong suốt sự nghiệp của mình đấy.

Dứt lời, tôi nghe thấy tiếng quý bà nhà tôi đang cất giọng gọi chúng tôi bước vào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.