1/ Thế nào là giọng nói người Quảng Nam?

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 555 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1/ Thế nào là giọng nói người Quảng Nam?

❊ ❊ ❊

Vấn đề giọng nói của người Quảng Nam chúng tôi lần đầu nghe giáo sư Trần Quốc Vượng giảng ở trường đại học rằng là: “Đó chính là giọng của các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt! Các mẹ Chàm có chồng Việt phải nói tiếng Việt bằng cái giọng lơ lớ của mình. Cái giọng ấy đã truyền lại cho con cái để thành nên giọng Quảng hôm nay!”. Những cảm nhận ban đầu là “rất có lý” ấy đã khai mở cho chúng tôi hướng tiếp cận và quyết định thử tìm cứ liệu để chứng minh điều “rất có lý” này. Vấn đề tức khắc gặp khó khăn khi chúng ta hôm nay hoàn toàn không thể biết được ngôn ngữ người Chàm thế kỷ XVII về trước ấy ở vùng Quảng Nam có giống với cộng đồng người Chàm ở Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ hiện nay nói hay không? Các bia ký của Vương triều Chămpa xưa còn lại người Chàm ở Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay không đọc được mặc dù họ vẫn có thể đọc được âm. Vấn đề dựa vào phát âm của người Chàm ở Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay để đối chiếu so sánh nhằm truy tìm nguồn gốc giọng nói người Quảng Nam xem như bất khả. Hơn nữa, đã trải qua thời gian trên dưới 500 năm, không lấy gì làm chắc chắn rằng người Chăm hiện nay vẫn dùng đúng thứ ngôn ngữ cha ông họ ngày xưa, và ngay cả người Quảng Nam, giọng nói của họ hiện nay có giống với giọng nói của cha ông họ thời Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558? Những điều không lấy gì làm chắc chắn ấy đã khiến chúng tôi, và cả nhiều người đồng ý tưởng khác, cảm thấy bất lực và phải bỏ cuộc, tạm gác mọi chuyện lại chờ cho đến khi có một cứ liệu hoặc công trình nghiên cứu chuyên ngành mới.

Các bia kí cho biết ngay từ thời lập quốc (thế kỷ II sau công nguyên) Chiêm Thành gồm hai bộ tộc chính, “Bộ tộc Dừa ở phía Bắc và bộ tộc Cau ở phía Nam”(142). Khái niệm này đến nay vẫn hoàn toàn chưa được làm rõ, đó chỉ là tên gọi về hai vùng đất hay là hai cộng đồng người nói hai ngôn ngữ khác nhau? Người Chăm Nam Trung bộ hiện nay thuộc ngữ hệ Nam Đảo thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesienne, chắc chắn thuộc nhóm Bộ tộc Dừa; vậy nhóm phía Bắc, Bộ tộc Cau, trên vùng đất Trung Trung bộ, nơi vốn là chiếc nôi của nền văn minh Sa Huỳnh (thuộc nhóm Môn-Khmer bản địa) cùng với các cộng đồng dân tộc sống lâu năm trên vùng đất này trước khi Chiêm Thành lập quốc như Ca-tu, Mơ-nông, Cor, Ca Dong… cũng đều thuộc nhóm Môn-Khmer bản địa, vậy người Chăm ở phía Bắc dùng ngôn ngữ Nam Đảo hay Môn-Khmer? Nhiều quan điểm cho rằng người Chàm phía Bắc là do chính cộng đồng cư dân Sa Huỳnh, Ca-tu tiếp thu văn hóa Ấn Độ mà thành nhưng cũng có quan điểm cho rằng người Chăm Nam Đảo đã tiêu diệt hoàn toàn người bản địa để lập quốc. Thực sự còn quá nhiều câu hỏi chờ được trả lời để có thể chắc chắn được người Chàm ở Quảng Nam thế kỷ XV về trước có cùng ngữ hệ với người Chăm Ninh Thuận hiện nay hay không. Và điều quan trọng nhất muốn hướng tới đó chính là giọng Quảng Nam là giọng của người Chàm nào nói tiếng Việt?(143).

Cho đến khi đọc được bài viết “Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ ở tỉnh Quảng Nam” của Giáo sư Cao Xuân Hạo in trên tạp chí Ngôn Ngữ số 2/1986 thì chúng tôi bắt đầu hình dung ra một hướng tiếp cận khác. Đó là không làm đối chiếu, so sánh mà chỉ nêu lên nhận xét về các đặc điểm, và khi các đặc điểm này không thể truy nguyên thì chúng ta có quyền giả định hướng có lý nhất, dĩ nhiên, cho đến khi nó bị sụp đổ bởi các chứng cứ hoặc giả định khác có lý hơn.

Trong bài viết này Giáo sư Cao Xuân Hạo đã nêu lên hàng loạt sự chuyển đổi nguyên âm của một làng thuộc xã Cẩm An, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam mà GS. Cao Xuân Hạo bảo rằng đó là giọng nói tiêu biểu cho “tiếng Quảng Nam”, “Nghĩa là nó tập trung được một số lớn những nét khiến cho người ở các tỉnh khác nhận ra người nói là người Quảng Nam, khiến cho họ thấy lạ tai và họ hay bị nhại”(144).

Bằng phương pháp ký âm cũng như so sánh bằng cách yêu cầu hai người vùng khác ghi âm tả để xem sự sai lệch ra sao. Sau đây là một vài kết quả (cột bên trái là danh sách ghi sẵn cho người bản ngữ đọc, cột bên phải là cách ghi lại của người nghe) mà GS. Cao Xuân Hạo đưa ra trong bài viết.

Máy bay - má ba

Đào sâu - đồ sao, đò sao

Đau đầu - đa đào

Hái lầm - hứa làm

Cây măng - cai meng

Cháo rau - chó ra

Học làm - hạc lòm

Chòi cao - chùa cô

Dao bài - dô bừa

Hái lộc - hứa lọc

Bắt sáo - béc số

Não lòng - nõ làng

Bão táp - bỏ táp

Chảy máu - chả má

Bói bài - búa bừa

Bãi sau - bữa sa

Mây cói - mai cúa

Sân sau - sang sa

Máy mắt - má mét

Mai sau - mưa sa

Voi bầy - vua bài

Bài học - bừa hạc

Cạo lông - cọ long

Cào cào - cồ cồ

Máy bào - má bò

Máu cam - má com

v.v… và v.v…

Nói chung hầu hết các nguyên âm đơn, kép hoặc vần đều được phát âm mà GS. Cao Xuân Hạo bảo là “Trong các phương ngữ của tiếng Việt mà chúng ta từng biết không có một phương ngữ nào cho thấy một sự chuyển đổi nguyên âm đi xa như vậy. Khi tôi (CXH) trình bày một số hiện tượng trên đây cho A. G. Haudricourt, nhà ngữ học Pháp thấy đó là một điều lạ không những đối với các phương ngữ của tiếng Việt mà ngay cả đối với toàn thể khối ngôn ngữ trên bán đảo Ấn-Chi, vì ở khu vực này các hệ thống nguyên âm, dù là những thứ tiếng khác nhau về nguồn gốc, đều rất giống nhau và đã tỏ ra rất bền vững trong lịch sử; ở khắp vùng Đông Nam Á, theo Haudricourt, hình như chưa từng thấy ở đâu có miêu tả một sự chuyển đổi đi xa như vậy”(145).

Là người Quảng Nam, chúng tôi từ lâu hiểu rõ giọng nói ông bà, cha mẹ mình và tự diễu qua các câu nhại: “En không en tét đèn đi ngủ, đừng có kèn nhèn chó kén nhen ren” (Ăn không ăn tắt đèn đi ngủ, đừng có cằn nhằn chó cắn nhăn răng); tơm anh Tốm Quảng Nôm, hồi mô đúa bụng dô lồm một tô” (Mì tôm anh Tám Quảng Nam, hồi mô đói bụng vô làm một tô).

Và đặc biệt câu nhại sau đây cho thấy điểm then chốt nhất trong sự biến âm của một nguyên âm chủ yếu, âm [a], trong phương ngữ Quảng Nam: “Choa ơi choa, anh Boa ảnh câu con cóa ảnh để trên hòn đóa con gòa hén en” (Cha ơi cha, anh Ba ảnh câu con cá ảnh để trên hòn đá con gà hắn ăn!).

Nguyên âm [a] là một âm rất bền, hầu như bất cứ ngôn ngữ nào, từ châu Âu, châu Phi, châu Mỹ… đâu cũng có một âm [a] và tất cả mọi nơi đều nói âm [a] một cách dễ dàng. Tiếng Anh âm [a] được đọc là [ei] nhưng họ vẫn có Maradona với âm [a] chuẩn như mọi ngôn ngữ khác. Các phương ngữ Bắc Bộ, Bắc miền Trung, Nam Trung Bộ và Nam Bộ âm [a] đều được phát âm giống nhau và không gây nên một biến âm nào so với phát âm tiếng toàn dân. Thế nhưng không hiểu sao ở Quảng Nam âm [a] là một âm cực khó nói và [a] đã biến thành [oa] trong mọi trường hợp đứng lẻ. Khi [a] kết hợp với bất cứ nguyên âm hoặc phụ âm nào khác nó cũng gây nên những biến âm kỳ lạ mà khó có thể dùng phương pháp ghi âm thông thường diễn tả được. Để dễ dàng với người đọc phổ thông chung chúng tôi xin chọn cách ghi âm đọc gần đúng để người đọc dễ nắm vấn đề hơn là nhắm đến mục đích ký âm chính xác theo phiên âm quốc tế của các công trình chuyên môn.

Ví dụ, khi a đứng trước các nguyên âm i, u, y đều được phát âm gần giống như: ưa, a kéo dài; [đau tay] sẽ được nói gần như [đa ta], không khép miệng; mọi vần [au] như mau, lau, tau sẽ được nói thành [a:] như may, tay, tay với a kéo dài, không khép miệng. Ngược lại khi đứng sau các nguyên âm đó thì lại không khác mấy với tiếng phổ thông như: kia, đua, khuya.

Các nguyên âm đơn khác gần như không thành vấn đề mặc dù nó vẫn có một số phát âm rất đặc trưng của phương ngữ này. Ví dụ như âm [e] được nói gần tương đương với tiếng phổ thông. Các âm [u], [ư], [y], [ê] cũng vậy. Âm [o], [ô], [ơ] cũng vậy ngoại trừ trường hợp vần [ong] được phát âm như (a kéo dài và ng), trong = tra:ng, hoặc troong không khép môi. Âm [ă] gần như hoàn toàn biến thành [é] khi kết hợp với n, ng: ăn = eng; băn khoăn = ben khoen; đăng = đeng, khăn = khen. Thế nhưng khi đi với m thì đó lại là một âm [ă] chuẩn như: tắm, mắm.

Nói chung, các nguyên âm, có khi bị chuyển đổi, biến âm trong trường hợp này nhưng lại không biến âm hoặc chuyển đổi trong trường hợp khác. Chỉ riêng âm [a] thì trong phần lớn các trường hợp (ngoại trừ -anh-ach, “tệ hại” nhất là khi kết hợp với nguyên âm, đều khiến âm bị biến đổi đi rất xa, khó mà nhận ra cái gốc nguyên ban đầu.

Và xem những ví dụ của Cao Xuân Hạo chúng tôi cũng ngạc nhiên là tuy bài viết về nguyên âm nhưng ông lại không dùng đến bất cứ ví dụ nào của đơn âm [a] trong khi nó là âm bền vững, phổ quát nhất nhưng lại bị chuyển đổi xa nhất, như cái đầu tàu, tên đầu têu kéo theo những biến đổi trầm trọng khác trong giọng nói của người Quảng Nam!

Ý kiến của Haudricourt quả có lý khi bảo hình như chưa từng thấy ở đâu có miêu tả một sự chuyển đổi đi xa như vậy.

Nhân đây, để nhấn mạnh vấn đề, chúng tôi xin đề cập thêm đến một bài viết của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trí Dõi trong bài viết “Một nhận xét về phương ngữ Quảng Nam còn để ngỏ của Giáo sư Cao Xuân Hạo” trong đó PGS-TS. Trần Trí Dõi cho rằng: “dựa vào một số công trình nghiên cứu đã có, chúng ta thấy rằng hiện tượng mà giáo sư Cao Xuân Hạo chỉ ra không phải là một hiện tượng đơn nhất”(146). Thế nhưng các ví dụ mà PGS-TS. Trần Trí Dõi đưa ra ở các địa phương Cao Lao Hạ, Nghi Lộc… lại là sự chuyển đổi rất xa của các phụ âm, các nguyên âm đơn có chuyển đổi nhưng hầu hết đó là nguyên âm kép, không rơi vào các nguyên âm đơn căn bản như trường hợp Hội An mà GS. Cao Xuân Hạo đã nêu. Nhắc đến ý kiến này chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến tính độc nhất, như Haudricourt đã nói, của một hiện tượng phương ngữ tiếng Việt từ cách nhìn lịch sử, từ đó có thể rút ra được điều gì đó về sự hình thành phương ngữ Quảng Nam.

Thật ra thì, trong bài viết của mình, GS. Cao Xuân Hạo đã quá nhấn mạnh đến việc phát âm “Những sự chuyển đổi của nguyên âm trong các vần nói trên cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của chung âm với âm sắc của nguyên âm đi trước nó. Trong một số trường hợp, đó là tác dụng đồng hóa (chung âm môi làm tăng độ trầm của nguyên âm); trong một số trường hợp khác đó lại là tác dụng dị hóa (chung âm khẩu mạc đẩy nguyên âm về phía trước hay giảm độ trầm của nó); trong một số trường hợp thứ ba ta có hiện tượng hòa đúc giữa nguyên âm và chung âm; trong một số trường hợp thứ tư ta lại có hiện tượng lấp ô trống…”(147) và chính những khái quát thành công thức này đã khiến PGS-TS. Trần Trí Dõi nhận thấy, nếu thực sự chỉ có những khái quát như vậy thì Cao Lao Hạ và Nghi Lộc cũng có, trong khi thật ra sự biến đổi của các nguyên âm cơ bản, rất bền mới là ý chính của GS. Cao Xuân Hạo.

Tóm lại, đặc điểm trong giọng nói Quảng Nam chính là phát âm các nguyên âm đơn và kép không giống như tiếng phổ thông, bị chuyển đổi rất xa. Trong đó, nguyên âm [a] , được nói là [oa] có thể nói là tên “đầu têu”, thủ phạm chính tạo nên giọng nói người Quảng Nam.

Vậy tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ như vậy? Nhìn ra các địa phương chung quanh, phía bắc từ Thừa Thiên - Huế ra đến đồng bằng Bắc Bộ hoặc lên cả vùng Lạng Sơn, Lào Cai các nguyên âm, nhất là âm [a], đều gần như thống nhất cách đọc, cách nói. Các tỉnh phía nam Quảng Nam từ Quảng Ngãi đến Phú Yên thì cũng xảy ra hiện tượng tương tự, khác biệt so với tiếng phổ thông chủ yếu là ở nguyên âm, tuy nhiên, so với Quảng Nam thì âm [a] không còn đọc là oa nữa mà ngã sang âm [e]. Ví dụ như ba má, người Quảng Nam nói là boa móa, người Bình Định, Phú Yên thì nói gần như be mé.

Đặt vấn đề nghiên cứu ngữ âm phương ngữ Quảng Nam nhìn theo con đường lịch sử chúng tôi biết đã chạm đến vấn đề mà các chuyên gia đầu ngành ngữ âm cũng đang rất dè dặt, ngay Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng đã tiên lượng: “Nếu đi sâu hơn vào thực tiễn của các sự diễn biến thì tình hình lại trở nên không đơn giản”, và “lịch sử hình thành khá độc đáo”(148). Thế nhưng đứng trước sự bức xúc của đề tài sau những bước đi đầu tiên cần phải tiếp tục chúng tôi đã không thể chờ đợi và quyết định tiếp tục hướng suy nghĩ của mình cho dù công việc khó khăn gấp nhiều lần hơn so với người khác bởi trình độ chuyên môn, thời gian và điều kiện thực tế cũng như khả năng để tiếp xúc với các nguồn tư liệu đã có.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.