Lương Ngọc Quyến Và Cuộc Khởi Nghĩa Thái Nguyên 1917
VIỆT-NAM CHÍ-SĨ ĐÀO TRINH NHẤT LƯƠNG NGỌC QUYẾN VÀ CUỘC KHỞI-NGHĨA THÁI-NGUYÊN 1917 TỦ SÁCH « NHỮNG MẢNH GƯƠNG » TÂN VIỆT

Lương Ngọc Quyến Và Cuộc Khởi Nghĩa Thái Nguyên 1917

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I. NGƯỜI HỌC-SINH ĐÔNG-DU THỨ NHẤT

❊ ❊ ❊

.

TRUY ĐIỆU TẤT CẢ ANH-HÙNG LIỆT-SĨ ĐÃ CHẾT VÌ NƯỚC TỪ 1861 ĐẾN 1945

❀ ❀ ❀

Mùa thu năm ất-tỵ (1905) Phan Sào Nam tiên-sinh từ hải-ngoại lẻn về được vài ba tháng phải lật đật xuống tàu xuất-dương ngay ; vì mật-thám đã dò biết hành-tung, tứ phía bủa lưới tập-nã rất ngặt. lúc ấy nếu không có Lý Tuệ, người bồi tàu nghĩa-hiệp, tìm cách giúp cho tiên-sinh vừa kịp thoát hiểm thì nhà cách-mệnh đại danh đã phải đút tay vào cùm-xích hai chục năm sớm hơn, và cái biệt-hiệu Sào Nam lừng-lẫy đã không chiếm được những trang đầu lịch-sử hải-ngoại vận-động.

Tháng mười tàu đến Hoành-Tân, nhà chí-sĩ ta lên bờ, lại tìm đến khách-sạn quen chuyến trước đã từng ở trọ.

Họ Phan sửng-sốt khi chủ-nhân niềm-nở đón tiếp và kể chuyện cho tiên-sinh biết rằng một người thiếu-niên Việt-Nam, ra dáng học-sinh, vừa mới đến đây mấy hôm trơ-trọi một mình, hiện đang trọ ở trong khách-sạn này. Thiếu-niên dò-hỏi tin-tức và hành-chỉ của tiên-sinh một cách băn-khoăn sốt ruột, dường như mong-mỏi họp mặt tiên-sinh càng sớm càng hay.

Phan nghe chuyện không khỏi sửng-sốt, vì rằng lúc bấy giờ gọi là dấu chưn người Việt-Nam in trên mặt đất Phù-Tang, ngoài Tăng Bạt Hổ thì đến mình và Đặng Tử Kính là bọn Đông-độ (vượt bể sang Đông) đầu tiên, trong nước chưa thấy có bạn trai-trẻ nào chịu xông-pha sang Nhật. Chàng thiếu-niên nào đây hẳn là tiên-phong ; tự-nhiên cảm-tưởng chớp-nhoáng của tiên-sinh là sự kinh-ngạc ; nhất là nghe nói đồng-bào nhỏ tuổi ấy một mình một bóng mà dám mạo-hiểm bỏ nước nhà đi đến một nước khác với mình xa lạ đủ cả mọi bề.

Sự kinh-ngạc trong trí Phan còn tăng thêm độ-lượng khi thấy người chủ khách-sạn tươi-cười mà nói :

– Hơn nữa, tôi nhận thấy vị thiếu-niên quí quốc can-đảm đến nỗi một mình trốn sang tới đây, không có hành-lý gì khác hơn bộ áo cũ-kỹ đang mặc trong người, và xem chừng tiền-bạc hộ thân cũng chẳng còn thì phải.

Cảm-động, Phan khẽ thở dài, không quên nắm lấy cơ-hội để khoa-trương chung cả bạn trẻ nước nhà, đồng thời tìm chỗ bênh-vực cái hành-động quá mạo-hiểm của vị thiếu-niên kia, mặc dầu giây-phút ấy chưa biết là ai ?

– Ông nghĩ xem : thanh-niên nước tôi đau lòng vì nỗi vong-quốc, sốt ruột về việc khôi-phục giang-sơn, thì phỏng còn có sự mạo-hiểm nào mà chẳng dám làm ?

– Vâng, tôi cũng nghĩ thế ! Người chủ khách-sạn nắm lấy tay Phan với vẻ ân-cần thành-thực. Tôi thấy người can-đảm đáng quý, lại nghe nói biết tiên-sinh, cho nên rất sẵn lòng để chàng trú-ngụ ở đây, không có một điều gì quản-ngại.

Phan ngỏ lời cảm-tạ ông chủ trọ đã lấy hiệp-nghĩa xử với một đồng-bào ta như thế.

Vừa-vặn lúc thiếu-niên lững-thững từ ngoài cổng tiến vào hai mắt say-sưa dán trên tờ « Tân-dân tùng báo » (của Lương Khải Siêu xuất-bản tại Hoành-Tân) mới mua ở ngoài phố và mua với mấy đồng xu sau chót còn dính túi.

Chủ trọ vỗ vai Phan, trỏ tay và nói :

– May-mắn chưa ? Vị thiếu-niên đồng hương của tiên-sinh đi du-lãm đã về đấy !

Thiếu-niên đến gần, Phan vui mừng reo lên. Thấy Phan, thiếu-niên cũng thế, thêm sự kính-cẩn đối với bậc danh-sĩ, với nhà cách-mệnh tiên-phong

Ồ tưởng ai lạ-lùng ? Thiếu-niên tức là Lương-quân Lập Nham, con cụ cử Ôn-Như Lương Văn Can, một danh-vọng to-tát trong giới cách-mệnh ở Thăng-Long, phàm văn-thân chí-sĩ trong nước đã hoạt-động chống thực-dân không ai không biết tiếng. Mấy năm trước khi xuất-dương, Sào Nam tiên-sinh thường ra Bắc-hà, cốt tìm những người bạn thanh-khí đồng tâm, có thể cùng nhau bàn-bạc đại sự. Không một chuyến nào ông Giải Phan xứ Nghệ khét tiếng hay chữ, lại quên ghé thăm cụ cử Lương ở phố hàng Đào ; cũng như không một chuyến nào quên sang Bắc-Ninh tìm ông cử Nội Duệ hay là xuống Nam-Định, lần mò vào nhà cụ đốc Định Trạch để mật hội với ông Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền lúc ấy tuy đang ngồi ghế đốc-học Nam-Định rồi đổi vào Ninh-Bình, nhưng đã lập tâm chỉ đợi cơ-hội là treo ấn từ quan ra ngoài hoạt-động cứu-quốc.

Phan đem lòng kính-mộ ngay buổi bội-diện đầu tiên, vì nhận thấy cả nhà cụ cử Ôn Như, từ cha đến con đều thiết-tha yêu nước và hết sức hăng-hái về việc cách-mệnh, không sợ tốn tiền, không ngại đổ máu. Cụ xuất tiền hàng nghìn hàng vạn (vì nhà vốn giàu) để tiếp-tế phong-trào văn-thân ; ba người con trai lớn là Trúc Đàm (đỗ cử-nhân), Lập Nham và Nghị Khanh (đỗ tú-tài) cùng hăng-hái sấn-sổ về các cuộc vận-động chống thực-dân, dành lại chủ-quyền độc-lập cho tổ-quốc.

Bởi thế, đến lúc tầm con mắt có thể nhìn rõ diện-mục một người, Phan nhận ngay ra thiếu-niên không phải ai xa lạ, chính là Lương-Quân Lập Nham ; thôi thì tay bắt mặt mừng, tình-tứ gặp nhau ở chốn tha hương thật là khó tả. Thử thời số người Việt-Nam bôn-tẩu sang Nhật còn là một số rất hiếm-hoi, huống chi một bạn trẻ đánh liều vượt biển với hai bàn tay trắng chỉ vì bầu máu giết thù cứu nước sôi lên sùng-sục.

Với vọng nói kiên-quyết rắn-rỏi, xứng đáng bộ cằm vuông và cặp mắt sáng quắc, hai dấu tỏ nghị-lực giàu hơn người, ông Lương Lập Nham kể tóm-tắt tình-cảnh mình Đông-độ trải bao nguy-hiểm gian-nan mà ông đánh liều vượt được, chỉ có lập chí tha-thiết là mong đem cánh tay và giọt máu đóng góp vào công-cuộc hoạt-động cứu-quốc của các bậc đàn anh, hầu giải-thoát cho nước nhà khỏi xiềng-xích nô-lệ. Những sở-vọng cấp-bách rung-động trong óc thanh-niên lúc này là sự cầu học ; trước hết là binh-học tân-thời mà tổ-quốc đang cần-dùng. Bấy lâu ta kém thua quân thù môn học ấy, không trách phải vấp ngã từ thất-bại nọ đến thất-bại kia.

Đó là câu chuyện, một buổi sáng mùa xuân năm 1932, ngồi trước ấm trà liên-tâm ngào-ngạt trong tòa nhà lá, bên giốc Nam-Giao, Phan tiên-sinh vui-vẻ thuật cho chúng tôi nghe, đáp lại câu chúng tôi hỏi một vài kỷ-niệm ban đầu giữa tiên-sinh và người anh-hùng khởi-nghĩa Thái-nguyên.

Tiên-sinh kết-thúc rằng : còn nhớ hồi bấy giờ tiên-sinh mừng quá, ôm lấy Lương-quân vồn-vã ngợi khen :

– « Chao ôi ! Nếu thanh-niên nước nhà hết thảy giàu khí-phách, có chí kiên-cường mạo-hiểm như anh, thì chúng ta sẽ có phép rút đất của Phí trường Phòng, để thu rút con đường giết thù phục quốc ngắn đi được bao nhiêu dặm mà nói ! »

*

Thêm vào câu chuyện kỷ-niệm ấy, chúng tôi tưởng nên trích một đoạn sách « Ngục-Trung Thư ».

Còn 8 ngày nữa thì hết năm quý-sửu (1913) họ Phan đang ở tỉnh Quảng-Đông, chợt bị đô-đốc Long tế Quang bắt hạ ngục, giam chung một xà-lim với ông Mai lão Bạng, một vị cố-đạo Thiên-chúa, người tỉnh Nghệ-an cũng bỏ nước ra ngoài hoạt-động cách-mệnh bấy lâu.

Theo lời yêu-cầu của toàn-quyền Đông-dương lúc đó là A. Sarraut, Long tế Quang bắt giam nhà lãnh tụ cách-mạng Việt-Nam, định sẽ giao trả về Hà-nội cho người Pháp.

Vì trong nước lúc ấy có hai việc bạo-động như kiểu những đảng-viên cách-mệnh Ái-Nhĩ-Lan (Irlande) dùng thủ-đoạn khủng-bố đối với người Anh. Tháng ba năm quí-sửu đó, Phạm văn Tráng từ hải-ngoại đem tạc-đạn về, ném chết tuần-phủ Nguyễn duy Hàn (Thái-bình) có tiếng là hung tinh của đảng cách-mệnh. Nửa tháng sau, Nguyễn khắc Cần mang bom ở ngoài về Hà-nội, hạ sát được hai võ-quan tây là Chapuis và Montgrand ở trước tửu-điếm phố hàng Trống. Người Pháp buộc tội họ Phan chủ mưu, lập hội-đồng Đề-hình kết án tiên-sinh vào tử-hình vắng mặt, nhờ đô-đốc Long tế Quang bắt hộ và giao lại cho mình để thi-hành cái án đã xử.

Vào ngục mấy hôm đầu, Phan tự nghĩ phen này mình không thoát chết, bèn cầm bút viết ra « Ngục-Trung thư » lược-thuật công-việc cách-mệnh mình từ hồi còn nghĩa-binh Phan Đình Phùng cho tới bây giờ trong đó có một đoạn nói về ông Lập Nham như sau đây :

« Tháng 10 năm ấy (ất-tỵ 1905) tôi đến Hoành-Tân về ở nhà trọ cũ, thấy một vị thanh-niên học-sinh ta, Lương-quân Lập Nham, đã tới ở đó trước rồi.

« Tôi xem ra người thật có khí-phách hăng-hái, đầu tóc còn để bờm-sờm. Dò-hỏi mới biết Lương-quân bỏ nhà đi trốn sang Nhật trơ-trọi một thân, lúc lên đến bến thì hành-nang vừa cạn, trong túi chỉ còn vẻn-vẹn có ba xu, không hơn không kém.

« Thấy thế tôi vừa mừng vừa chưng-hửng. Vì bạn nhỏ tuổi nước ta, một thân một bóng mà dám liều mệnh xông-pha sóng gió muôn trùng đến một nước thuở nay mình chưa quen-biết bao giờ, Lương-quân chính là người thứ nhất vậy.

« Té ra Lương-quân vốn là một thanh-niên chứa sẵn kỳ-khí, có hoài-bão cao-xa, chỉ nghe nói tôi đã sang Đông, cho nên mạnh-bạo bỏ nhà ra đi, không kể gì mọi nỗi gian-nan nguy-hiểm.

« Bạn thiếu-niên anh-tuấn nước ta sau đây, có mấy người được như Lương-quân ? »

Ông Lập Nham tên thật là Lương Ngọc Quyến, hiệu là Lập Nham, sinh năm ất-dậu – giữa năm thành Huế thất thủ – con thứ hai cụ cử Ôn Như Lương Văn Can. Kể theo thứ-tự cả con trai con gái thì ông sinh ra vào hàng thứ ba. Vì đó trong cách-mệnh giới và anh em Đông-du quen gọi ông là Ba Quyến.

Tổ-quán là làng Nhị-Khuê thuộc huyện Thượng-phúc tỉnh Hà-nội (nay về Hà-đông), nhưng ông sinh-trưởng ở nhà số 4, phố Hàng đào, tỉnh-thành Hà-nội, là nơi họ Lương kinh-doanh buôn-bán trải qua mấy đời.

Trước cửa nhà số 4 ấy, từ 1903, hai ông Sào Nam, Tây Hồ hay đi lại bàn-tính quốc-sự, rồi ông Lập Nham Đông-du, kế đến phong-trào Đông-kinh nghĩa-thục cho mãi tới khi cụ Cử Lương đi an trí ở Cao-miên trở về được mấy năm thì qua đời (1927) ; nghĩa là ngót ba chục năm, trước cửa nhà số 24, thực-dân cho người thay phiên canh-gác đêm ngày, không lúc nào quên-nhãng. Vì họ biết đấy là bộ tham-mưu của phái văn-thân, là cơ-quan giao-thông của các chí-sĩ Đông-du ; phàm người lui tới chỉ để bàn việc đánh đổ chủ-quyền Pháp, khôi-phục nền độc-lập Việt-Nam.

Thuở nhỏ, ông Lập Nham cũng học cử-nghiệp, sớm tối mài-miệt với chồng sách cũ, lo dũa vần gọt chữ để mong có ngày tranh khôi đoạt giáp như các bạn đồng thời. Lúc 15, 16 tuổi, ông đã nỗi tiếng học giỏi. Đến khoa canh-tý 1990, ông thi trường Nam, hỏng kỳ thi phú ; liền lấy tư-tưởng biến-hóa, không thèm theo-đuổi lối học từ-chương khoa-cử nữa.

Lúc bấy giờ, những sách cổ-động dân-quyền do các nhà tân-học Trung-quốc dịch-thuật của Tây-phương, đã truyền-bá sang nước ta rất nhiều. Những nghị-luận cách-mệnh và tư-tưởng duy-tân của thầy trò Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu, cùng các nhà ái-quốc Trung-Hoa mạnh-bạo chủ-trương đả đão Mãn-thanh, chấn-hưng Hán-tộc không những làm rung-động tâm-não người Tàu mà thôi, làn sóng duy-tân cách-mệnh ấy tràn qua Nam-quan hoặc vào cửa Đồ-sơn, khiến nhân-tâm sĩ-khí ta cũng phải giật mình thức tỉnh. Nhật-bản thì càng ngày càng sấn bước trên đường văn-minh phú-cường, ra mặt đối-địch với các cường quốc làm cho thiên-hạ phải kinh-ngạc kiêng-nể. Ngoài tỉnh ở phương Đông phấn-phát bồng-bột là thế. Đồng thời, trong nước thì ông Phan sào Nam đứng lên lãnh-đạo công-tác cách-mệnh, liên-lạc chí-sĩ văn-thân khắp nơi lập hội « Việt-Nam Quang-Phục » sắp-sửa xuất-dương hoạt-động.

Ông Lập Nham đọc nhiều tân-thư, được nhiều tư-tưởng mới kích-thích giác-ngộ, nhận-xét tình-hình thế-giới và thời-cục nước nhà, thấy rằng thanh-niên Việt-Nam lúc này phải tự-cường, phải cứu-quốc, không nên và cũng không thể ngồi gục đầu vào lối học hư văn hủ-bại được nữa, vì chính nó đã làm cho người mình hèn, nước mình mất. Hơn nữa thanh-niên Việt-Nam phải mau học-tập binh-cơ võ-bị tân-thời, mới có thể đánh lại kẻ thù mà lấy lại quyền tự-do độc-lập cho giống-nòi tổ-quốc.

Bởi vậy, chỉ thi có một khoa, ông khái-nhiên bỏ đứt từ-chương khoa-cử, không thèm đoái-hoài thương-tiếc chút nào ; lại khuyến-khích được nhiều bạn đồng-học cũng mạnh-bạo làm như mình. Từ đó ngày đêm làm bạn với sách mới, trong trí không lúc nào rời ý-nghĩ phấn chí tự-cường, đi học cứu-quốc. Kịp khi nghe Sào Nam tiên-sinh đã xuất-dương, ông liền hăng-hái ra đi trước tiên, để làm gương cho anh em đồng-chí.

Ông cữ Dương Bá Trạc là một bạn thân, từ lúc còn đi học cho tới sau cùng nhau hoạt-động cách-mệnh, đôi bên vẫn trao đổi thanh khí tin-tức, không bao giờ gián-đoạn. Cho nên việc ông Lập Nham Đông-du ban đầu thế nào, họ Dương biết rõ hơn cả.

Mấy năm trước đây, Dương tiên-sinh có viết một tập ký-ức lục, kể chuyện sinh-bình trong cuộc vận-động cách-mệnh mình đã cộng-sự với những ai. Dưới đây là đoạn tác-giả kể lại thiếu thời của người chủ mưu khởi-nghĩa Thái-nguyên và tình-hình lúc bỏ nước trốn sang Nhật cầu học.

*

« Bạn Lương Lập Nham là con thứ hai của cụ cử Nhị-Khê, thông-minh từ thuở nhỏ. Hồi 15, 16 tuổi đã có tiếng học giỏi, san thi trường hương Nam-Định khoa canh-tý, bạn vì xuất vận bài phú mà bị hỏng, nếu không thì cũng đỗ khoa thi ấy cùng với tôi.

« Đến năm quý-mão (1903), chúng tôi đã lấy tân tư-tưởng, tân học-thuật khuyến-khích lẫn nhau, nên chi bạn nhất quyết bài-xích khoa-cử là hủ-bại không thèm thi nữa.

« Năm sau, có việc Phan Sào Nam Đông-du, bạn cùng cụ cử và anh ruột là Trúc Đàm, đều phụ lực với chúng tôi vận-động thành-tựu việc ấy. Sau ông Sào Nam ở Nhật về nước, cùng anh em quyết-định việc đưa ông Kỳ-ngoại-hầu Cường Để đi, và phái thanh-niên học-sinh sang Nhật cầu học. Lúc ấy bạn 19 tuổi đã có vợ con, lại là con nhà giàu, vốn sống trong cảnh phong-lưu sung-sướng ; không ai tưởng rằng bạn có thể đoạn-tuyệt nhất-thiết mà đi xuất-dương khổ học cho được ? Thế mà bạn nghị nhiên thủ-xướng, mạnh-bạo ra đi trước nhất một mình để làm gương cho người sau.

« Bình-nhật bạn thường nói luôn với anh em :

«-Kìa Đại Bỉ Đắc là vua nước Nga còn vứt bỏ phú quí tôn vinh mà đi làm thợ ở nước ngoài để học lấy kỹ-thuật cường quốc, huống chi là mình ! Lại coi Nhật-bản duy-tân tự-cường được như bây giờ, cũng là nhờ có mấy tay như Y Đằng Bác Văn, như Bản Viên Thoái Trợ v.v... lẩn-lút trốn ra ngoài, học lấy thành tài, trở về giúp nước, Nhật-bản mới được như thế. Tôi xin làm tên tốt đầu của đội quân xuất-dương khổ học, đi trước anh em !

« Thế là bạn quả quyết bái biệt cha me, làm giấy rẫy vợ cho cải gia, lìa bỏ đứa con gái còn non tuổi mà đi.

« Lúc bạn ra đi, chúng tôi đã xếp-đặt có người tâm-phúc làm việc ở một chiếc tàu tự Hải-phòng đi Hương-cảng, tức là người đã đưa Sào Nam và Kỳ-ngoại-hầu đi được hai chuyến an toàn trót lọt. Nhưng bạn lo việc lâu dài, bàn-tính với tôi :

« Việc đi học còn cần phải nhiều người kế tiếp xuất-dương, nay mình mới có một chiếc tàu mượn làm đi được thế này, vạn nhất tiết-lậu, nghẽn mất đường ấy thì sao ? Mình phải lo mở ra nhiều con đường khác cho người đi sau mới được chứ !

« Nghe bạn nói phải, tôi sực nhớ đến ông Tăng bạt Hổ đi Nhật chuyến trước, theo con đường Móng-cáy sang đất Trung-Hoa rồi đáp tàu đi được vô sự. Tôi liền tính kế đưa bạn Lập Nham đi theo đường ấy. Nhân dịp tìm nơi trú-ẩn ở Móng-Cáy, ở Đông-hưng và ở Bắc-Hải, cho có người dung-nạp hướng dẫn mình chắc-chắn, hầu sau này có cần được nhiều người đi một chuyến thì đường này tiện hơn. Đường tàu thủy Hải-phòng Hương-cảng tuy có tay trong tâm-phúc và nếu còn đi được, mỗi chuyến chỉ ba, bốn người là cùng mà cũng chưa chắc là giữ trót lọt được mãi. Tính thế rồi tôi cùng đi với bạn.

« Chúng tôi đã định kỳ với nhau trước : ngày 14 tháng 08 năm Ất-Tỵ (1905) bạn thu-xếp hành-lý từ Hà-nội đi về Mễ là quê-quán tôi, để cùng lên Gia-lâm đáp xe lửa đêm đi Hải-phòng. Bạn đi bộ suốt từ ga Hà-nội về quê nhà tôi, khởi hành 4 giờ đêm đến 9 giờ sáng tới nơi. Chúng tôi ăn cơm sáng xong, chuyện-vãn một hồi, lại dắt nhau kéo bộ từ Mễ lên Gia-lâm vừa đúng 9 giờ tối để kịp đi chuyến xe lửa đi Hải-phòng 11 giờ đêm.

« Thời đại ấy anh em chúng tôi bảo nhau luyện-tập sự sống rất là khắc-khổ. Phàm là anh em trong đảng, đều cấm tuyệt đối uống rượu, hút thuốc phiện, đi hát, cờ bạc. Ngày nào cũng phải tập thể-thao lấy sức, tập đi bộ cho quen. Chúng tôi luyện-tập lâu ngày thành quen, cho nên đi bộ xa đến thế nào cũng không hề thấy mỏi-mệt.

« Về chuyện cấm-chỉ này có mấy câu chuyện buồn cười, mà tỏ ra quy-luật của đảng cực nghiêm và cái nhiệt-thanh ái-quốc của anh em lúc bây giờ kể thật mạnh-mẽ. Bạn Lê Đại và bạn Võ Hoành là hai tướng rượu có tiếng xưa nay ; một hôm rủ nhau đi ăn đám giỗ ở nhà bà-con, mâm cỗ linh-đình, bao nhiêu khách dự tiệc tha hồ chén tạc chén thù đến say túy-lúy. Hai tướng rượu ta trông thấy nhắm ngon rượu sẵn đến nỗi người ta say khướt cả, mình thèm uống thật nhỏ rãi mà cố giữ, đảng cấm, nhất định không nhấp một giọt nào. Những người ngồi gần biết ý, trông thấy hai bạn thủ giới mà động lòng thương-hại.

« Lại bạn Hoàng Tăng Bí và bạn Lương Trúc Đàm, vốn người sinh-trưởng phú-quý, thuở nhỏ đến giờ không biết đi bộ là cái gì, nay phải tập đi bộ, mấy lần đầu sưng chưn, toét cả mấy ngón ; thế mà nay tập, mai tập mãi, sau cũng đi bộ được một hơi từ Hà-nội về tới Canh, tới Diễn.

« Bạn Phạm Danh Chánh, cháu cụ Hoàng-Giáp Tam Đăng, thuở nhỏ vốn giang-hồ phóng lãng, kết giao với bọn lục-lâm nhiều thành ra mắt bệnh nghiện a-phiến. Khi ấy bạn chịu để anh em trong đảng giam mình ở một gác xép hiệu Đồng Lợi Tế, khóa trái cửa lại, chỉ để cái bô đại, tiểu tiện trong đó và mỗi bữa ăn thì có người đưa cơm nước vào cho. Tha hồ vật-vã đủ tình đủ tội, tha hồ kêu gào đập phá, nhất định không ai đoái-hoài hay thương-xót mở cửa cho ra. Vậy mà qua hết 9 ngày, bạn Phạm Danh Chánh chừa được a-phiến như thường, khỏe mạnh chẳng sao cả.

« Chính bạn Lập Nham lúc trước cũng là tay chơi khét tiếng ở các xóm hồng lâu Hàng Giấy, Thái hà, thế rồi phấn phát tự-cường tuân theo đảng cấm, nhất đán thôi hẳn. Từ đấy bạn coi các nàng tiên dửng dưng như một người ái nam vô tình, rồi đến nhẫn lao nại khổ mà đi chuyến này.

« Mà chuyến đi này kể cũng là nhẫn lao nại khổ thật.

« Khuya tới Hải-phòng, vì có ý muốn hà-tiện để dành tiền ra ngoài tiêu, chúng tôi không vào trọ ở lữ-quán. Nhân tôi quen biết người làm tri-huyện Hải-an ở gần kế Hải-phòng, chúng tôi bèn giả vờ làm thầy trò ; tôi làm thầy, bạn Lập Nham xách va-ly làm trò, vào huyện ngủ nhờ. Cơm nước cả ngày hôm sau ở đó để đợi kỳ tàu, vì tàu Móng-Cáy lúc bấy giờ mỗi tuần chỉ có hai chuyến. Tôi nói ra ngoài mỏ và đi vịnh Hạ-Long chơi lại nã anh cu huyện ta được thêm chục bạc phụ vào hành-tẩu cho bạn Lập Nham.

« Trưa hôm 16, chúng tôi xuống tàu ra Móng-Cáy.

« Nguyên khi ở Hà-nội, tôi có quen Đào quang Tích học trường Hậu-bổ vốn là con ông Lãnh-Binh đã làm quản đạo Móng-Cáy về hưu, Bấy giờ tôi hỏi thăm vô nhà ông Lãnh đào. Vô đó, tôi lân la kể chuyện kết giao với Hậu tích ở Hà-nội, vẫn được nghe tiếng ông Lãnh là con-cái gia thế, cùng những công-việc ông làm ngày trước do bạn Hậu tích thuật cho nghe. Tôi nói rành-mạch đâu ra đấy không sai tý nào, nên ông cụ tin yêu hết sức.

« Ở được ít lâu tôi cùng ông chuyện-vãn, dần dà biết ông cũng là người có bụng tốt với nước nhà, chúng tôi bèn thổ-lộ tâm-sự. Ông rất đồng ý, hứa sẽ giúp vào công-việc. Ông nói :

« Tôi ở đây cũng có chút ít thế-lực ; người Pháp cũng tin-cậy mà người Tàu bên Đông-hưng thì phần nhiều đi lại quen-thuộc với tôi. Vậy các ông có thể đưa anh em đi qua lối này, tôi xin bao bọc cho được, rồi giới-thiệu với người ở bên Đông-hưng họ đưa đường dẫn lối, dò-hỏi tin-tức tàu-thuyền cho mình đi an toàn, không xảy ra có điều gì quản ngại.

« Hôm sau ông dẫn chúng tôi sang chơi người đoàn-trưởng bên Đông-hưng, tỏ hết câu chuyện với người ấy, nhờ hắn hỏi hộ kỳ tàu ở Bắc-Hải đi Hương-cảng cho đúng, rồi thuê giùm một người tin-cẩn dẫn lộ đi Bắc-Hải để kịp xuống tàu. Người đoàn-trưởng vốn là thủ-hạ ông, nên ông có thể nói thằng ngay vào chuyện, không e-ngại gì. Anh ta cung kính vâng lời, lại nói với ông để chúng tôi ở chơi luôn trong nhà cho khỏi bị người Pháp ngờ-vực dòm-ngó. Ông khen phải, rồi bảo tôi : « Các ông nên ở luôn đây mà đợi tàu, đừng về bên kia nữa. Tôi sẽ cho thằng Ba (tức là con ông, em Hậu Tích), đưa hành-lý sang cho, rồi nó ở chơi bên này để thay tôi mà tiễn các ông đi Bắc-Hải.

« Cách sáu hôm sau thì có tàu ghé Bắc-Hải đi Hương-cảng.

« Trước một ngày, người đoàn-trưởng phái một tên thủ-hạ đưa chúng tôi đi Bắc-Hải. Đường phải qua một quảng rất khó-khăn, nhỏ hẹp, vừa hai người chen chưn mà ghồ-ghề, khúc-khuỷu, đi cực vất-vả. Tối mịt đến Bắc-Hải. Đã có thư người đoàn-trưởng giới-thiệu chúng tôi với chủ hiệu Long-Hải ở Bắc-Hải rất ân-cần. Ông này tiếp thư niềm-nở mời chúng tôi lên lầu tắm-rửa xong, đãi ăn-uống hết sức tử-tế.

« Trong khi đàm-đạo, chúng tôi ngỏ ý nhờ ông cho trú-ngụ mỗi khi có người đi ra ngoài, đến đây chờ tàu. Ông vui-vẻ nhận lời ngay.

« Cùng đi với chúng tôi đến đây có cả cậu Ba, con ông lãnh Đào. Cậu cũng khảng-khái, hứa với tôi hễ sau này có người đi, tôi không cần phải ra, đã có cậu trông-nom mọi việc chu tất. Thế là chúng tôi thành công được một việc, là mở một con đường xuất-dương chắc-chắn yên-ổn ; đâu đấy đều có người sở-tại sẵn lòng giúp-đỡ mình.

« Tối hôm sau là giờ bạn Lập Nham xuống tàu đi Hương-cảng.

« Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi bàn-nói dặn-dò nhau hết chuyện này qua chuyện khác. Những chuyện về sau chúng tôi mở nghĩa-thục, lập hội buôn, cho đến chuyện tìm nơi căn-cứ chiêu-mộ quân-sĩ, tập-rèn võ-nghệ, và những kế-hoạch dự định rằng bạn Lập Nham vào trường quân-bị ở Nhật học tốt-nghiệp rồi về thực-nghiệm chiến-thuật trên trận-địa Tàu ; nhất nhất chúng tôi có dự bàn với nhau trong lúc sắp-sửa chia tay đó.

« Sau ít lâu, tôi tiếp được thư bạn cho biết ra tới Hương-cảng ngày mồng 2 tháng 9, đến mồng 5 đáp tàu sang Hoành-Tân, ngày 14 tới nơi, ở lại mấy tuần mới đi Đông-kinh, đã gặp Kỳ-ngoại-hầu và Sào Nam dẫn đến yết-kiến các ông Đại-Ôi bá-tước, Khuyển dưỡng Nghị và Bá Uyên Phương v.v... »

Ông Lập Nham còn trọ ở Hoành-Tân thì gặp Sào Nam tiên-sinh từ nước nhà trở sang chuyến thứ hai, như một đoạn trong « Ngục trung thư » tiên-sinh đã viết.

Chúng tôi muốn trích-lục cả đoạn văn dài trong tập ký-ức của ông cử Dương Bá Trạc không những để tỏ ra cái chí khổ học cứu-quốc của người anh-hùng trong truyện này, một chốc bỏ hẳn cuộc đời sung-sướng đoàn viên đứng ra phất cờ tiên-phong cho anh em đồng thời ; nhân dịp ta lại được biết cả tinh-thần thao-luyện khắc-khổ của phái nhà nho 40 năm về trước, chỉ vì hoài-bão giải-thoát nòi-giống, khôi-phục non sông.

Hơn nữa, ta biết người đời bấy giờ dụng công mở ra con đường Móng-Cáy – Đông-hưng cho các bạn đi sau được rộng thêm một lối xuất-dương hoạt-động cách-mệnh. Sự mở đường ấy hình như không có nghĩa gì với những người hai ba mươi năm về sau có thể bưng mắt bọn thám-tử mà vượt qua biên-giới như đi chợ, cho đến sang Nga, sang Mỹ cũng là chuyện tầm-thường. Nhưng ta đặt mình vào địa-vị nhà nho lúc mới bước sang thế-kỷ hiện-tại, ta mới nhận thấy là một vấn-đề không phải dễ-dàng như ai nấy tưởng-tượng.

Đánh máy : kn1tinhyeu, minhhai1768, searatsuki, thuhang1319, chau_la_la, butterflyfairy, mientay2012
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.