Những người lính dự cuộc Thái-nguyên khởi-nghĩa, về sau bôn ba thất trận, bị án đày ra Côn-Lôn năm sau (1918), được các anh em tiền-bối trên hải đảo săn đón hỏi truyện suốt mấy đêm ngày. Các cụ cho việc Quang-phục Thái-nguyên 7 ngày là một việc thống khoái mà họ lại chính là người trong cuộc.
Cụ nghè Ngô Đức Kế thuật lại rằng họ vừa kể truyện vừa thổn-thức, nhớ lại bảy ngày độc-lập tự-do đã hưởng, nhớ lại cái kết cuộc bi-tráng của các đồng-chí Lập Nham, Đội Cấn, và tất cả anh em đã cùng nhau phiêu lưu chuyển chiến với giặc trong mấy tháng trời, khi ở đồng bằng, lúc giữa non xanh rừng rậm.
Họ nói Đội Cấn vẫn ôm chí lớn, nhưng sự thật có Lập Nham khích-thích mới quyết-định khởi-nghĩa ; đến lúc khởi-nghĩa rồi, Đội Cấn họp ngay các bạn đồng-chí phụ-trách để bàn-định phương-lược tiến hành bây giờ nên như thế nào ?
Có hai chủ-trương. Một phái chủ-trương nên thừa lúc bên địch chưa kịp hay biết đề-phòng gì cả, ta chia binh đi đánh lấy ít nhiều đồn-ải phụ cận, như Cao-bằng – Lạng-sơn lấy đường giao-thông với các đồng-chí bên Tàu và mở rộng phạm-vi, tăng thêm lực-lượng cách-mạng. Anh em binh-lính các nơi ấy theo Tây chỉ vì thế bách mà thôi, nay thấy ta đến, tất nhiên dũng-dược hưởng ứng. Cốt sao có nhiều địa-điểm đồng thời khởi-nghĩa như ta, để làm thanh-viện cho nhau và chia sức đối phó của quân địch ra nhiều nơi. Có tự gây nên một lúc kháng chiến cho mạnh thì dân-chúng mới giúp, ngoại viện mới có và đại sự mới thành.
Phái thứ hai phản đối, chủ-trương cần phải giữ Thái-nguyên làm gốc, đào hào, đắp lũy, hễ chúng đến xâm-phạm thì ta đánh. Có vài ba trăm quân-lính thế này, làm sao nhất thời chia đi đánh lấy đồn-ải phụ cận mà chắc được thành công như ý ?
Hai phái chống nhau kịch-liệt. Đội Cấn theo ý ông Lập Nham ngả theo thuyết thứ hai và ra lệnh, cho quân cố thủ.
Đến trưa hôm mồng năm tháng 9 dương-lịch, tỉnh-thành thập phần nguy cấp. Quang-phục quân được lệnh bỏ tỉnh-thành lục tục ra đi. Đội Cấn đã xếp-đặt võng cáng sẵn-sàng, để đưa ông đi theo quân. Ông khảng-khái từ-chối, không muốn đi theo quân để anh em chiến-sĩ phải bận lòng vì mình, phải chậm-trễ trên đường bạt thiệp bôn ba, mỗi bước có giặc theo sau, mỗi bước phải quay lại cự địch. Ông quyết-định chết ở Thái-nguyên, lấy hồn tiễn-đưa các chiến-sĩ. Sau mấy câu vắn-tắt yên-uỷ mọi người, ông nói với Đội Cấn, thành-thực và tự-nhiên :
– Ông bắn hộ một phát vào giữa ngực cho tôi khỏi trông thấy thực-dân dày-xéo lên lá cờ cách-mạng !
Bất đắc dĩ, Đội Cấn phải làm theo ý muốn ấy. Một tiếng súng nổ. Bộ đội Quang-Phục quân sau chót do Đội Cấn chỉ-huy đứng xếp hàng làm lễ chào di-thể vị anh-hùng như đối với một vị tướng tử-trận ; xong, đào hố chôn lấp tử-tế và san phẳng mặt đất, rồi mới từ-giã tỉnh-thành kéo đi.
Thật là một đời hy sinh với cách-mạng ; sống tận-tuỵ, chết bi-tráng.
Ông cử Dương bá Trạc có bài thơ khóc bạn Lập Nham như sau này, nhiều người còn truyền tụng :
Đoạn-tuyệt gia-đình với núi sông,
Phất cờ Đông-học trẩy tiên-phong,
Lục-quân Nhật-bản tinh thao-luyện,
Chiến địa Trung-hoa thỏa vẫy-vùng,
Bắc-hải vẫn ghi lời thoại biệt,
Long-xuyên bao xiết truyện trùng phùng.
Thái-nguyên độc-lập năm ngày trọn [1],
Cho biết tay đây cọp sổ lồng.
Giờ ta đi theo Đội Cấn và tàn quân Thái-nguyên, cho biết cuộc khởi-nghĩa do ông Lập Nham tinh-thần chủ xướng đi đến chỗ tiêu-diệt ra thế nào ?
Sự thật, nghĩa-binh đã rút lần đi từ đêm hôm trước ; đến 3 giờ chiều 5 tháng 9, thì Đội Cấn và bộ đội sau chót ra khỏi tỉnh-thành, chạy về ngã Hùng-sơn.
Quân Pháp thừa thắng đuổi theo bén ngót.
Từ đây trở đi, nghĩa-binh cứ phải vừa đánh vừa chạy, hết sức gian-nan lao-khổ. Khi thì hợp nhất tạm thì, khi thì tản-mác ra hai ba toán nhỏ, mỗi toán đi một đường, không liên-lạc cứu ứng được nhau. Bất cứ một toán nghĩa-binh nương-náu chỗ nào, liền có quân địch đến vây bọc đánh phá chỗ ấy. Thành ra ngày đêm phải ứng chiến luôn tay, chỉ những hồi-hộp lo chạy, không mấy lúc được yên-nghỉ. Mỗi bước chân có giặc dính theo.
Binh-số và đạn-dược mỗi ngày một giảm ít đi.
Nhờ có số tiền lớn đã lấy được ở kho bạc, cho nên bây giờ bôn ba, vấn-đề lương-thực không phải lo mấy. Đêm đến đóng quân ở làng nào, phàm mua đồ ăn thức dùng của dân, nghĩa-binh đều trả tiền sòng phẳng rộng rãi.
Đại-khái là từ ngày 13 tháng 9 cho tới mồng một tháng mười dương-lịch, nghĩa-binh quanh quất ở miền Vĩnh-Phúc yên, có toán đi tách ra, tràn về đến Hưng-yên, Bắc-ninh và có khi gần đến Hà-nội.
Chủ ý ông Đội Cấn muốn đem thủ-hạ tìm đường qua Sơn-tây lên Hòa-bình, lấy rừng núi thủ hiểm, chống nhau với quân Pháp ; nhưng họ chẹn hết đường-lối không để cho nghĩa-binh thực-hành được chiến-lược thủ hiểm theo như ý muốn. Có hôm, ông với thủ-hạ đóng ở một làng ở chân núi Tam-đảo, thiếu chút nữa tất cả thầy trò cùng nguy, sau nhờ ai nấy cùng liều chết đánh giải vây mới được thoát hiểm, lại đánh quân địch nhiều trận tổn-hại nặng-nề ; chính họ tự nhận như thế.
Từ mồng một tháng mười dương-lịch cho đến 20 tháng giêng năm 1918, nghĩa-binh trở về sơn phận Thái-nguyên ; quân địch theo dõi ráo riết. Đôi bên nhiều phen kịch chiến, có lẽ to nhất là trận đánh nhau ở Đèo-nứa giữa hôm mồng 6 tháng giêng.
Trận ấy, nghĩa-binh đào chiến-hào và nấp những bụi rậm trên cao bắn xuống rất trúng đích, giết hại quân giặc khá nhiều. Một viên tướng địch là đại-úy Salel đứng trên chỏm đồi lân-cận, hô gọi nghĩa-binh đầu hàng sẽ được nhà nước khoan dung xá tội cho. Nghĩa-binh trả lời bằng đạn và nhiếc mắng tướng địch thậm tệ.
Tuy-nhiên, mỗi trận giao chiến, dù thắng hay bại, nghĩa-binh cũng phải hao hụt thêm một số người, một số đạn-dược, mà hao-hụt bao nhiêu tức là mất đức bấy nhiêu, không lấy đâu bù-đắp vào được.
Hôm mới ở tỉnh-thành Thái-nguyên ra đi, nghĩa-binh có tới ngót 300 người, thanh thế khá to. Nhưng rồi giữa đường giao chiến liên tiếp, chết lần chết mòn, phần nào kiệt lực ra hàng, phần nào thất-bại bị bắt, đến ngày 20 tháng chạp tây, nghĩa là ba tháng rưỡi sau, trở về đóng tại Pháo-sơn, chung quanh Đội Cấn chỉ còn vẻn-vẹn 25 tay súng.
Quân Pháp vây bọc Pháo-sơn. Đồng thời, đưa bà mẹ già cùng vợ con Cấn ở quê-quán Vĩnh-yên đến, nỉ-non vào khóc dưới chân núi, một hai khuyên-nhủ Cấn đầu hàng Bảo-hộ. Không thèm trả lời, Cấn hô thủ-hạ nhắm vào quân thù mà bắn như mưa, tỏ mình không để cho giặc đánh được mình bằng trận tình-cảm.
Trái lại, Đội Trường lại không có tinh-thần cương quyết như thế. Va được gặp mặt vợ trong rừng hôm nay, ngày mai lén xuống núi vác súng ra thú. Các ngài hẳn nhớ đội Trường là một trong ba viên phó-tướng của Cấn.
Qua ngày hôm sau, quân địch tấn công dữ dội.
Hai bên đánh nhau rất hăng.
Trận này Cấn trúng đạn trọng thương ở đùi, nhưng vẫn nhịn đau cầm quân đánh giặc, mai phục trên núi, cản-trở quân địch không sao lên núi được.
Trong lúc cầm-cự ở Pháo-sơn, Cấn có ý muốn tìm một hiểm địa ở vùng Yên-thế có thể cố thủ lâu ngày, như Đề Thám lúc nọ, để lấy chỗ dưỡng tinh súc nhuệ, rồi tìm cách tái khởi. Ông sai hai viên bộ tướng tin-cẩn là Đội Giá và Cai Xuyên dẫn một tốp thủ-hạ lén đi xem-xét địa-thế, định rằng hai người tìm ra chỗ hiểm ấy rồi, bấy giờ Cấn sẽ phá vây Pháo-sơn mà đi.
Song cả Xuyên lẫn Giá vừa xuống khỏi chân núi thì hành-tung bại-lộ ; quân địch theo dõi đêm ngày, khiến hai người phiêu bạt không tới được Yên-thế mà cũng không thể trở về Pháo-sơn.
Đến ngày mồng 5 tháng giêng (1918) Cấn chỉ còn có 4 thủ-hạ bên mình là Ba Nho, tù quốc-sự, hai người lính và tên Sỹ, một người thường dân đi theo nghĩa-binh từ đầu.
Vừa tuyệt vọng vừa đau nhức ở chỗ bị đạn, Cấn biết đại sự hỏng rồi, không còn cách gì gượng-gạo cứu-chữa được nữa, mà nếu để quân giặc bắt được thì mang nhục ; ông bèn quyết ý tự-sát, dặn dò mấy người kia chôn lấp thi-thể mình rồi, nên xuống núi đầu hàng quân địch.
Tức thời ông quay súng tự bắn vào bụng mà chết.
Sau khi ông chết, Ba Nho và hai người lính khóc thảm-thiết cùng tự-vẫn bên cạnh chủ-tướng mà họ tiếc-thương vô cùng.
Tên Sỹ đào lỗ, chôn cả bốn người một huyệt, luôn với các thứ khí-giới vật-dụng của họ rồi đi ra thú. Hắn nói với Pháp rằng chính hắn đã giết Cấn để báo thù cho anh vì Cấn đã truyền lệnh bắn anh hắn là xã Đoàn, làng Hoàng-xá hạ.
Pháp xét ra Sỹ nói láo để mong lập công lĩnh thưởng. Thật sự Cấn đã tuyệt vọng, tự sát, cho khỏi phải cái nhục người Pháp bắt sống.
Cấn chết rồi còn dư đảng là Đội Giá, Cai Xuyên và một ít tàn quân, gượng-gạo cầm-cự đến tháng ba cũng bị tiêu-diệt. Thế là hết Thái-nguyên Quang-Phục quân.
Người được gần-gũi quen biết, đều nói Cấn nhã-nhặn giản-dị, không ưa chương hoàng bề-ngoài. Những lúc các phó-tướng như Đội Trường, Cai Xuyên, được ông phong chức đại-tá, đại-úy, mặc ngay nhung phục đeo gươm cưỡi ngựa đi quanh hàng phố, trông rất oai-nghiêm ; còn quan Đại-đô-đốc Quang-Phục quân chỉ mặc bộ đồ ka-ki, đầu đội mũ dạ, tay chống can, giao-tiếp với mọi người luôn luôn niềm-nở. Trong quân gọi ông là « quan chánh » khi chiến trận bôn ba cũng giữ luôn y-phục xềnh-xoàng, cử-chỉ giản-tiện như thế.
Đến can-đảm và bình-tĩnh thì ai cũng phải phục. Mỗi khi ra trận xông-pha trước hàng tướng-sĩ, dù đạn bay vi-vút tứ phía cũng vẫn ngang nhiên đứng thẳng mình, mắt chiếu ống nhòm, miệng ra hiệu-lệnh, xem sự nguy-hiểm như không vậy.
Bất cứ đóng quân ở làng xóm nào, việc ông cần lo trước hết là sai đào chiến-hào tìm chỗ hiểm-yếu đề phòng chống-cự quân địch tới đánh bất thình-lình ; xong rồi mới nghĩ đến sự ăn uống. Ông chi tiền, bảo dân làng mổ lợn thổi cơm cho bộ-hạ ăn uống xong xả ; tự ý họ muốn đi báo hay không cũng được, vì nghĩa-binh đến trú-ngụ làng nào mà người sở-tại không đi trình-báo, về sau phát-giác, quân Pháp làm phiền nhiễu đủ thứ. Muốn cho dân làng khỏi hệ-luỵ và không trách được nghĩa-binh, ông để cho họ tuỳ tiện.
Đến lúc bị vây trên Pháo-sơn, sự thế đã rõ ràng thất-bại và tuyệt vọng, ông giục mấy người bộ-hạ bắn hộ mấy phát cho xong đời, nhưng họ thương-xót không nỡ, tức khắc ông khảng-khái tự sát, không chịu để kẻ thù bắt sống được mình đem về kết án làm nhục.
Người ta nói Nguyễn thái Học sau này tức là con đẻ tinh-thần của ông Đội Cấn. Đời cách-mạng của Học thực-hiện bởi lòng hâm-mộ Đội Cấn mà vụ Yên-bái chịu vang bóng của vụ Thái-nguyên rất nhiều. Chính Học kể truyện mình lúc nhỏ, cùng một vài bạn trẻ đi chơi, thường sang bên làng ông Đội Cấn cho được nghe những dật-sự của ông, lấy thế làm thích. Bà lão-mẫu của nhà khởi-nghĩa Thái-nguyên ôm lấy mấy cậu bé, khóc lóc và nói :
– Các cậu hãy lo trả thù cho con già !
Học nói trong tâm mình thấy nôn-nao và nẩy ra tư-tưởng cứu-quốc từ đấy [2].
Năm 1930, tuy Học chưa trả thù hộ con bà lão-mẫu làng Yên-nhiên, nhưng đã theo gương ông Đội Cấn mà diễn lại khởi-nghĩa Thái-nguyên vậy.
❀ ❀ ❀
[1] Cuộc khởi-nghĩa Thái-nguyên năm 1917, khởi lên từ đêm 30 rạng 31 tháng tám dương-lịch, quân cách-mạng chiếm giữ tỉnh-thành từ đây cho đến quá trưa hôm 5 tháng chín mới rút lui ; tính ngày là 7 ngày, nhưng tính giờ thì được 5 ngày trọn.
[2] Hãy đọc « Nguyễn Thái Học » do Nhượng Tống biên-soạn, Tân-Việt xuất-bản.