Từ Hương-cảng giải về Bắc, thoạt tiên ông bị giam trong xà-lim hỏa-lò Hà-nội để chờ xét lại án cũ. Ngày đêm cùm-xích canh phòng cực nghiêm, bất cứ đồng-chí hay gia nhân, chẳng ai được phép thông tin, giáp mặt.
Ai cũng lo thời-kỳ chiến-tranh nghiêm-trọng – lúc ấy giữa năm 1915 – có lẽ chính-phủ đô-hộ thẳng tay xử đến cực hình y theo án cũ ; vì trong khi xét hỏi, ông đối đáp rất cứng, tỏ mình phản-đối chính-sách thực-dân ra mặt, không cam khuất-phục. Bất quá họ ỷ sức mạnh cũng đến giết mình là cùng ; đời người chỉ chết một lần chứ không có hai.
Trước hết, họ giải ông lên Cao-bằng, ra trước tòa án nhà binh tại đó, để trả lời một vụ đánh cướp đồn lính ở biên-thùy Quế, Việt, mà họ dò biết chính ông là một tay chủ-động.
Tòa án binh muốn kết án, nhưng không đủ chứng-cớ, đành phải tha bổng.
Người ta lại giải trở về Hà-nội, giam vào hỏa lò cho hội-đồng Đề-hình xét lại cái án chính-trị đã xử vắng mặt hơn một năm trước.
Sự thật tòa án thực-dân hằn-học với phái Đông-du, hễ vớ được ai là nhăm nhăm làm án thật nặng, không còn thương-xót.
Nhưng với ông Lập Nham, họ không tìm đủ điều-kiện vật-chất tỏ ra ông thật có thiết thực tham gia vào các cuộc cách-mạng bạo-động từ năm 1906 tới đây, cũng chẳng bắt được ông quả tang giữa trận đang cầm súng bắn nhau với người Pháp bao giờ, thành ra không thể xử vào cực hình theo như ý muốn.
Tuy-nhiên họ vẫn đủ chứng-cớ để kết án ông chung thân cấm cố ; vì theo chỗ khám-phá của tụi trành và lời khai của những người bị bắt bấy lâu, ông chính là một phần-tử rất hoạt-động trong vòng năm sáu năm gần đây, đối với chủ-quyền ở Đông-dương của Pháp luôn luôn thù-nghịch và tìm cách phá-hoại.
Dù án đã kết mặc lòng, toàn-quyền Sarraut và chánh ty Liêm-phóng Đông-dương vẫn cho người vào ngục thuyết ông, nếu chịu quy thuận giúp-đỡ chính-phủ, thì án sẽ hủy đi và được trọng-dụng hậu-đãi là khác. Họ hỏi về thực-lực của đảng, nhưng ông kiên-quyết không chịu khai. Ông nói :
– Các anh muốn làm gì ta thì làm ! Một người cách-mạng chân-chính không khi nào chịu khuất-phục quân cướp nước.
Sau họ lại đưa ông về Nam-định giao cho viên Công-sứ Tissot người đã dụ-dỗ được rất nhiều người ra thú. Viên công-sứ đối-đãi ông rất tử-tế không giam-cầm như mọi tù-tội khác. Ông được đi lại tùy tiện, muốn đi ra phố, hắn sai người đánh xe ngựa để ông đi chơi, ông tự-nhiên mà nhận sự đối-đãi ấy như là mình có quyền hưởng và người Pháp phải đối-đãi như thế ; nhưng hễ hỏi đến việc đảng và đưa quan-tước ra dụ ông thì ông nhất định không nói và khảng-khái không nhận. Như thế trong ba tháng, biết rằng không thể lay-chuyển được, viên công-sứ gửi trả chính-phủ để xử ông theo luật định.
Vì thế bọn cầm quyền giận ghét ông cay-đắng, từ đấy có lệnh riêng cho viên giám-ngục đối-đãi cực kỳ tàn-bạo, để ông phải chết lần chết mòn một cách đau-khổ hơn là sự chém.
Họ phát vãng nay đề-lao Sơn-tây, mai nhà ngục Phú-thọ, đến đâu cũng giam cùm trong một xà-lim hết sức chật hẹp, bẩn thỉu, đừng nói ánh sáng, đến ngay không-khí để thở cũng thiếu. Suốt ngày không có một phút được trông-thấy ánh mặt-trời. Còn sự ăn-uống kham khổ và thiếu cả điều-kiện vệ-sinh ở trong các lao-ngục thuộc-địa thì không cần nói. Các nhà văn Louis Roubaud, André Viollis đã tả chân cho thiên-hạ thưởng thức. Cáo mượn oai hùm, dê mang da cọp, lũ thầy-chú trong đề lao thêm vào cho tù phạm một tai-họa mau chết nữa.
Hơn bốn tháng ở ngục Phú-thọ đủ làm cho ông Lập Nham phát ốm phát điên, bệnh-tình nguy-kịch.
Bấy giờ người ta lại giải về hỏa lò Hà-nội cầm cố ít lâu, rồi cho tùy ý lựa-chọn lấy một nơi phát vãng.
Ông ngỏ ý muốn được phát vãng Tuyên-quang. Nhưng ông đã không được như ý muốn, họ phát vãng ông lên Thái-nguyên.
Lúc ấy vào khoảng cuối xuân 1916.
Sự đối-đãi ở Thái-nguyên cũng chẳng hơn gì nơi khác, ông bị xiềng cùm ác-nghiệt, hành-hạ tàn nhẫn, đến nỗi bại một bên mình, rồi sau một chưn tê-liệt hẳn không tự cử-động gì được.
Đầu tứ hung [1] là công-sứ Darles, lúc bấy giờ tọa trấn Thái-nguyên, đối với dân với lính, với tù, thôi thì tra tấn, đánh đập, mầy tao mắng chửi, hết sức độc ác dã-man. Sau vào Sài-gòn làm báo, làm chủ hãng rượu, có lúc ra tranh cử nghị-viên, bọn cứu-địch hắn mới tố giác chuyện cũ ra, đặt cho cái tước hiệu là (Le bourreau de Thái-nguyên) và trưng dẫn bằng cớ, bảo cuộc bạo-động ở Thái-nguyên năm 1917 chính tự hắn hung-ác với tù, với lính mà gây nên.
Thuyết ấy cũng có một phần đúng sự thật. Lảu-thông tiếng Việt, hắn thích được dân vái bẩm cụ lớn. Tù đi làm cỏ-vê trong dinh sứ cũng như ngoài đường, hay bị hắn tác oai đánh đập tàn-nhẫn, cả lính khố xanh đi theo cũng không tránh khỏi. Nhân-tâm chứa đầy phẫn-khích, như hòm thuốc súng chỉ đợi có người biết châm lửa đúng vào ngòi là phát nổ.
Hắn đặc biệt nguyền-rủa căm-hờn bọn tù chính-trị, vì họ thường gửi đơn kêu-nài chuyện nọ, yêu-xách chuyện kia luôn. Bởi vậy, lúc nghe viên giám ngục (Tây) đến báo cáo rằng tên tù chính-trị Ba Quyến mắc bệnh tê-bại và hỏi có nên nới bớt lệ cùm đôi chút không. Darles hất hàm trả lời, sừng-sộ :
– Mặc kệ ! cứ cùm, chết thì chôn.
Câu nói của tên đầu đảng tứ hung – mà sau kẻ thù hắn đem ra tố-giác trước dư-luận, – phơi rõ trong óc con người ấy không còn chút gì gọi là nhân-đạo. Hắn cho một người Việt-nam ở tù mặc dầu là chính-trị-phạm, mà lại bệnh-tật què-quặt nữa, là một người không đáng kể.
Mà quốc-sự phạm Lập Nham đến nối tê-bại què chưn, là do cách đỗi-đãi ác nghiệt của Darles.
Thật thế, hắn đọc hồ sơ, thấy kể lai-lịch là con nhà văn-thân, toàn gia phản-đối thực-dân, lại là thanh-niên Đông-du tốt-nghiệp ở trường võ-bị nọ kia, trong lòng căm-ghét vô kể, cho nên lập tâm hành-hạ đến cùng cực. Ban đầu, hắn bắt đi làm khổ sai, mà cổ đeo gông, chưn mang xích nặng-nề hơn cả anh em đồng nạn. Tự hắn ra đứng bên ốp việc, sừng sộ ngược-đãi đủ cách, chỉ sợ Ba Quyền thừa cơ tuyên-truyền cách-mạng cho dân-chúng hoặc là đào thoát. Sau hắn sai dùi thủng ở giữa bàn chưn thành một cái lỗ, để buộc giây xích cho được chắc-chắn hơn là vòng quanh cổ chưn.
Nghĩ xem, khổ hình ấy không làm nhà cách-mạng Lập Nham què liệt sao được ? Đến lúc què hẳn, không phải ra ngoài làm khổ sai, nhưng ở trong sà-lim vẫn cùm-xích đêm ngày.
Có ai tưởng-tượng người ấy tuy thân bị nhốt, chưn bị què, mà khối óc vẫn lo việc cứu nước, không quên quân thù ? Rất đỗi cứ nằm trong ngục tối, gắn chưn vào cùm, mà chủ-trương xếp-đặt một cuộc võ-trang cách-mạng, dần dà cảm-hóa khuyến-khích được ông đội khố xanh Trịnh Cấn kéo cờ khởi-nghĩa giữa tỉnh Thái-nguyên đêm hôm 13 tháng 7 năm đinh-tỵ ! (1917)
*
Nhưng, một đằng là tù trọng-phạm, bị cùm luôn trong xà-lim mà kẻ giữ ngục lại là người Pháp, một đằng là đội khố xanh ở bên trại lính không có quyền-hành gì với đề lao, hai bên cách-biệt hẳn nhau và đều ở dưới con mắt luôn luôn xem-xét rình mò, thế thì ông Lập Nham với ông Đội Cấn làm cách gì để trao-đổi thanh khí tin-tức được với nhau mà mưu-tính được một việc, là cuộc khởi-nghĩa ?
Chỗ này xuất-hiện một người đàn-bà khôn-ngoan, can-đảm, chịu hy-sinh tất cả thân-thế gia đình cho việc cách-mạng, ta cần phải biết.
Ở trong ngục Thái-nguyên hồi bấy giờ, kể cả ông Lập Nham, có đến chục người quốc-sự phạm. Trừ ông Lập Nham què liệt bị giam-cầm đêm ngày, còn các người khác vẫn phải đi ra ngoài làm việc cỏ-vê tùy án nặng nhẹ.
Trong hạng tù ấy, có hai anh em ruột, Cả Thấu và Hai Vịnh (có người nói là Vỵ) cũng là chiến-sĩ cách-mạng còn trẻ tuổi, có tiếng gan-góc, giỏi võ-nghệ, tâm-địa rất tốt.
Hai người là con ông cử Phùng văn Nhuận, làng Vân-cốc, tỉnh Sơn-tây, một tướng-lĩnh văn-thân chống cự quân Pháp ngay lúc đô-hộ mới xây-dựng trên đất Trung, Bắc. Chắc ai cũng nhớ đoạn sử năm 1884, Nam-triều thất thế, phải nhìn-nhận quyền Pháp bảo-hộ, ra lịnh giải tán quân-thứ và khuyên-nhủ quan-lại phục-tùng chính-sách mới. Sĩ-phu phẫn-khích sôi-nổi, nhiều ông nộp ấn từ quan, để về mộ binh đánh Pháp ; đầu hết là ông Nguyễn thiện Thuật, tán tương quân-vụ Sơn-tây. Văn-thân hưởng ứng rất đông. Ông Nguyễn văn Giáp đang làm bố-chính tỉnh Sơn cũng bỏ quan về kéo cờ khởi-nghĩa ; quân-sư và phó-tướng đạo nghĩa-binh này tức là ông cử Phùng văn Nhuận.
Sau chủ-tướng Bố Giáp qua đời, ông Phùng văn Nhuận lên thay quyền chỉ-huy, luôn mấy năm kháng chiến ở vùng giáp giới Sơn-tây, Hưng-hóa. Nhưng thế cùng lực tận, nghĩa-binh tan vỡ, ông thủ khoa Nhuận (cũng có người nói ông đỗ thủ khoa) phải mai danh, ẩn tích, về miền Vĩnh-yên dạy học.
Trong lúc gõ đầu trẻ, ông vẫn bí-mật giao thiệp với các văn-thân phản-đối, mưu sự khởi binh lần nữa.
Người Pháp nghe tiếng, cố sức ép-buộc phải ra làm tri-huyện, độ hơn một năm, ông kiếm cớ bỏ về, theo đuổi chí cũ.
Một người bạn ông, muốn được thăng chức án-sát, bèn tố-giác của hành-động của ông. Vì thế ông bị bắt và đưa về giữa làng Vân-cốc xử chém. Lúc chết, ông ung-dung dặn lại con-cái mai sau phải giết giặc trả thù cho cha.
Đời là thế, ấy đời là thế,
Hồn có thiêng cũng hé miệng cười.
Những quân dạ thú mặt người,
Quá ham danh-lợi, đạo trời kể chi !
Lại gặp lúc nước suy thế ngặt,
Lũ « rước voi » ra mặt tung-hoành.
Thi nhau bán nước cầu vinh,
Còn đâu nghĩ tới chút tình keo sơn.
Đó là mấy câu trong bài văn của sĩ-phu tỉnh Sơn cảm-khái về việc ông thủ-khoa Nhuận ngộ hại.
Ông chết, nhà-cửa bị tịch thu, vợ con phải phiêu-bạt.
Chí-khí cách-mạng di truyền trong mạch máu, Cả Thấu và Hai Vịnh lớn lên, đi theo Đề Thám, mong cứu nạn nước để báo thù nhà. Sau khi Đề Thám thất-bại bị giết, hai anh em họ Phùng còn ra sức thu góp tàn lực kháng chiến một hồi rồi mới bị bắt. Người Pháp kết án khổ sai đày lên Thái-nguyên.
Bình-nhật ông Đội Cấn vẫn ôm lòng ái-mộ những chính-trị-phạm ở bên đề-lao, thường tìm cách thuận-tiện để thông tin và tặng hảo thuốc men quà bánh. Nhất là nghe rõ ông Lập Nham có khí-tiết và có học-thức quân-sự giỏi, ông Đội Cấn càng đầy lòng khuynh lộ. Vì thế hai người vẫn trao đổi thanh khí với nhau.
Nhưng sau, thật nhờ có cô em của hai chiến-sĩ họ Phùng làm nội ứng, tin-tức trao đổi chẳng những mau-lẹ và có hằng ngày, mà cuộc khởi-nghĩa cũng được sớm thực hiện, theo như kế-hoạch ông Lập Nham đã định. Cô như là người phát ngôn của tất cả anh em chính-trị-phạm ở đề lao, khuyến-khích thúc-giục ông đội Cấn mau mau thực-hiện đại sự.
Lúc ấy cô mới ngoài 20 tuổi, vẻ người xinh-xắn có duyên, nhất là ăn nói lanh-lợi, dễ cảm. Hình như cô đã có chồng ở nhà quê, nhưng có người nói chưa cưới, cô vẫn ở với lão mẫu, một mẹ, một con, nương-tựa lẫn nhau. Từ lúc hai anh em bị phát vãng Thái-nguyên, thường năm vài lần bà thủ-khoa sai cô lên thăm-nom cấp dưỡng hai anh.
Má hồng của người thôn nữ Sơn-tây dần dà lọt vào mắt xanh thầy đội họ Trịnh.
Thấy thế, Cả Thấu và Hai Vịnh liền nghĩ ra kế thỏa hiệp, nói thật cho cô biết đại sự đang mưu-tính giữa các đồng-chí ở đề-lao và bên trại lính. Rồi đem nghĩa lớn thù nhà nạn nước ra thuyết cô em, yêu-cầu cô nên hy-sinh giúp-đỡ cho đại sự được chóng thành. Nghĩa là yêu-cầu cô thuận lấy Đội Cấn, để làm người giao-thông giữa ông ta với anh em chính-trị-phạm trong đề lao, như thế mới được kín-đáo chắc-chắn. Đồng thời, cô khéo tìm cách lựa lời khích-lệ giục-dã chồng làm sao cho việc khởi-nghĩa thực-hiện càng sớm càng hay ; kẻo để dây-dưa lâu ngày không khỏi tai vách mạch rừng, hỏng mất công-việc.
Hai tráng-sĩ biết rõ em gái mình cũng là hạng người có tâm-huyết, hiểu đại-nghĩa, cho nên mới ngỏ hết bí-mật và yêu-cầu cô một việc khó-khăn như thế.
Cô suy-nghĩ rồi trả lời ngay một cách cả quyết, vui-vẻ :
– Quả như hy-sinh mà có lợi-ích chút nào cho việc nước thù nhà, em đây chẳng dám tiếc thân !
Một lát, cô lại tiếp :
– Nhưng ở nhà chúng ta còn mẹ già, từ khi vắng mặt hai anh, chỉ có một mình em sớm thăm tối viếng. Em cần phải xếp-đặt chỗ ấy cho yên-ổn đã, trước khi vâng theo lời dạy của hai anh.
– Cô nghĩ rất phải ! Cả Thấu nói và giục em. Vậy thì cô về ngay nhà đi ! Anh chắc thế nào mẹ già cũng khuyến-khích chúng ta, chứ không cản trở.
Tức thời, cô lên đường về Sơn thu-xếp việc nhà và hỏi ý-kiến bà thủ-khoa Nhuận. Bà nghe nói đến đâu, nét mặt tỏ vui-sướng đến đấy như đã tới lúc cho bà được cất một gánh nặng trong tinh-thần vậy. Bà nói :
– Ai cũng có nghĩa-vụ phải hy-sinh với tổ-quốc, còn phải hỏi gì nữa ! Huống chi còn việc thù nhà, mấy lời của cha con dặn lại trước lúc chém… Các con xét là việc có thể làm, thời-cơ đáng làm, thì cứ việc làm đi !... Mẹ cầu trời khấn Phật cho.
– Nhưng anh em chúng con chỉ băn-khoăn về chỗ quân-thù sẽ giận cá chém thớt, để mẹ già phải liên-lụy, thật không đành lòng ! Cô vừa nói vừa khóc. Vả lại bây giờ con lên Thái-nguyên, mẹ ở nhà thui-thủi một mình.
– Chết nỗi ! Sao con ông thủ-khoa Vân-cốc lại yếu bóng vía thế ư ?... Ở đời chỉ những lo quanh sợ quẩn thì còn làm nên trò-trống gì ?... mẹ đã có cách tự thoát, các con không phải lo nghĩ !
Cách tự thoát của bà là cách nghĩa-liệt như bực mẹ các dũng-sĩ Chuyên Chư, Nhiếp Chính đời xưa : tự hủy mình trước đi, để cho con yên tâm làm việc, khỏi phải lo-nghĩ cửa-nhà.
Thật thế, ngay đêm hôm ấy, bà lẳng lặng thắt cổ tự tận, để khuyến-khích các con làm việc cách-mạng ; giờ các con bà chỉ có việc đi thẳng tới, không còn phải bận-bịu ngoảnh lại phía sau nữa.
Cô chôn cất mẹ già rồi lên thẳng Thái-nguyên, trở nên người vợ yêu-dấu mong-mỏi của thầy đội khố xanh họ Trịnh.
Liền đấy cô xoay-xở bao thầu cơm tù cơm lính, cho được mỗi ngày hay lần ra vào đề-lao, đem những thư-từ tin-tức của các chính-trị-phạm – nhất là của ông Lập Nham mà ông đội Cấn vẫn kính-mến và thường hỏi ý-kiến mỗi khi gặp việc khó-khăn – khích-lệ ông đội Cấn đã ôm-ấp chí lớn, thì nên mau mau cử sự đi, kẻo lỡ cơ-hội.
Cô là người có tâm cơ, lại biết chữ ít nhiều, cho nên đội Cấn càng tin-yêu, không ngần-ngại phú thác mọi việc bí-mật.
Mỗi ngày cô lại đem những truyện xa tình gần, thù nhà nợ nước tỷ-tê khuyên-lơn thúc-giục chồng, hết sức thiết-tha khẩn-khoán. Hơn nữa cô lại khéo làm cho cố kết tấm lòng cộng-sự của đội Giá, cai Xuyên là bạn đồng tâm mưu đồ khởi-nghĩa với Đội Cấn.
Mùa hạ năm đinh-tỵ (1917), hai lần đội Cấn đã toan cử sự, nhưng giờ chót lại ra lệnh hoãn ; rồi đến đêm hôm 13 tháng 7, lá cờ cách-mệnh treo cao trên thành Thái-nguyên, cô em gái cả Thấu và hai Vịnh là một vai chủ động gián-tiếp vậy.
Cụ nghè Tập-xuyên Ngô đức Kế hồi đó còn ở Côn-lôn, được gặp những người thất-bại Thái-nguyên bị đày ra đảo, kể truyện tường-tận, nhân thế cụ viết thành tập « THÁI-NGUYÊN THẤT NHẬT QUANG-PHỤC KÝ » gọi người đàn-bà hy-sinh ấy là hiệp-nữ.
Chỉ tiếc không có ai biết rõ cái đời của hiệp-nữ kết-cuộc ra sao. Có người nói sau khi Quang-phục-quân bại trận phải bỏ tỉnh-thành Thái-nguyên rút vào rừng núi, hiệp-nữ đi theo sát cánh Đại-đô-đốc họ Trịnh, rồi bỏ mình ở trận Tam-đảo, khoảng cuối tháng tám ta, cả hai người anh cũng chết ở trận ấy.
Quân Pháp đi đánh giẹp, cũng nhìn-nhận mấy lúc đầu có cả đàn-bà ở trong tàn binh Đội Cấn, có phải chính là hiệp-nữ đấy chăng ?
❀ ❀ ❀
[1] () Tứ hung : Nhất Đạc, nhì Ke, tam Ma, tứ Bích, tức là Darles, Ec-kert, Delamarre, và Bride, bốn vị công-sứ bạo-ngược xứ Bắc. Bà-con ta gọi là tứ hung và xếp thành một câu ca dao.