Ông từ-giã Long-xuyên xuống tàu thủy lên Nam-vang thăm cha già đã cách-biệt lâu năm ; rồi sẽ từ Nam-vang đi đường bộ lên Battambang qua Xiêm rất tiện.
Hồi đó là mùa thu năm giáp-dần (1914).
Năm trước, xứ Bắc có hai vụ ám-sát chính-trị phát ra liên-tiếp trong vòng nửa tháng, là vụ ném bom giết tuần-phủ Nguyễn duy Hàn ở Thái-bình và hai võ-quan Pháp ở cửa Hà-nội – Hôtel. Người Pháp nhận thấy trong những hành-động táo-bạo ấy rõ-ràng có linh-hồn và cánh tay của phái Đông-du, mà vây-cánh thế-lực tràn lan hải-ngoại lẫn trong nước, cho nên lại ra sức đàn-áp. Một mặt giao-thiệp khôn-khéo với nhà cầm-quyền ở các tỉnh biên-giới nước Tàu là nơi chí-sĩ Việt-nam mượn làm căn-cứ hoạt-động, muốn bắt tất cả những người đáng để ý nhất hồi bấy giờ như Sào Nam, Cường Để, Mai Sơn, Nguyễn Hải Thần, Hồ tùng Mậu, Lương Ngọc Quyến, Hàn Minh v.v… Một mặt khác thẳng tay trừng-trị văn-thân nghĩa-sĩ trong nước. Lúc ấy cụ cử Nhi-khê sắp-sửa lên đường Đông-du thì bị người Pháp hạ ngục. Hội-đồng Đề-hình cuối năm ấy đem ra vấn tội một xâu dài chính-trị-phạm, kết án 14 tử-hình (trong số đó 7 người xử tử vắng mặt là Sào Nam, Cường Để, Nguyễn văn Thụy tức Hán Minh, Nguyễn bá Trác, Lương Ngọc Quyến, v.v.), 1 án chung thân khổ sai, 10 án cấm cố, 13 án lưu đồ, trong ấy cụ cử Nhị-khê là một.
Người Pháp đưa cụ sang Nam-vang an trí ; thời hạn là 10 năm.
Mỗi việc xảy ra như thế, ông Lập-Nham ở hải-ngoại đã được tin-tức đồng-chí trong nước thông báo cho biết.
Vì thế nay có dịp về Nam-bộ cùng anh em bàn về việc kinh-doanh bên Xiêm và được ủy-nhiệm xếp-đặt việc ấy, ông muốn đi đường bộ sang Xiêm cho được ghé qua Nam-vang.
Sau khi ông lên đường, anh em đồng-chí ở Nam-bộ liền mở cuộc quyên góp được một số tiền lớn, có thể đủ dùng cho kinh phí buổi đầu, rồi sau sẽ trù khoản tiếp-tế thêm. Số tiền ấy sẵn-sàng chờ đợi có tin bên Xiêm về thì đảng phái người sang ngay.
Chẳng dè càng mong càng bặt, một tháng, hai tháng, cho đến ba tháng, bốn tháng cũng không nhận được tin-tức gì cả.
Ai nấy đều lấy làm lạ, tỏ ý lo-ngại, nhất là anh em đã giao-ước thông báo tin-tức cho nhau luôn, do mỗi kỳ tàu Sài-gòn, Bang-kok có người trong đảng nhận-lĩnh thư-từ, mà hiệu thợ giặt Ba Tiêu ở cầu Khánh-hội tức là nơi bí-mật chuyển đệ.
Mọi người trông-ngóng sốt ruột, phỏng đoán một cách.
Việc giao-thiệp khó-khăn, hoặc chưa tìm ra khu đất nào thuận-tiện vừa ý chăng ?
Có lẽ thế. Nhưng ở bên kia Cửu-long-giang, về địa-hạt Xiêm thiếu gì đất hoang, người ta có thể xin khẩn lúc nào chẳng được ? Vả lại, ta đã có sở ruộng Ban-thầm và sẵn có đồng-chí tụ-họp, nay muốn mở-mang lớn ra, việc bàn-tính sao phải lâu lắc đến thế ?
Hay là Lập Nham đi thẳng sang Tàu rồi chăng ?
Cũng có lẽ. Nhưng có đi đâu phải báo cho anh em ở nhà biết chứ.
Không ai nghĩ tới sự bị bắt, vì ông về nước với thông-hành hộ chiếu Trung-hoa và hành tung giữ cực bí-mật chắc không thể xảy tới sự không may.
Đồng-chí Nam-bộ mong đợi mãi đến tháng tư năm sau (tháng năm 1915) có người ở Hà-nội vào nói cho anh em biết cái tin sét đánh :
– Lập Nham bị bắt rồi !
– Khổ chưa ! Thảo nào chúng tôi càng trông tin càng biệt. Bị bắt ở đâu ?
– Bị tụi trành của Pháp lừa bắt được ông tại Hương-cảng, đã giải về Hà-nội giam trong hỏa-lò.
Những người quen biết và hiểu rõ chí-hướng của ông khi nghe tin đều phải ngậm-ngùi than thở :
– Đáng tiếc ! Đáng tiếc ! Thế là kế-hoạch (doanh-điền, luyện binh) của chúng ta tiêu tan và nước nhà lại mất thêm một tay tráng-sĩ !
Thật thế, ông bị bắt ở Hương-cảng.
Thì ra ông lên Nam-vang mới ở có mấy ngày, cùng cha già em bé chưa được thỏa tình mười năm ly-biệt, đã có tin mật-báo cho hay rằng người Pháp hiện đang tầm-nã ráo-riết, vì hành-tung bại lộ mất rồi, nên kíp xa chạy cao bay, không thì nguy-hiểm.
Đã thế thì một giờ lưu lại Cao-miên tức là một giờ hiểm-nghèo, ông vội-vã tìm cách tẩu thoát. Đầu tiên định chạy thẳng qua Xiêm là nơi đã mục-đích nhắm từ trước, chỉ cách Nam-vang có một ngày đường ô-tô là đến biên-giới.
Nhưng lại nghĩ tung-tích đã bại-lộ, người Pháp tất đã báo tin và giăng lưới khắp nơi, bây giờ sang Xiêm cũng nguy mà phần nguy lại có lẽ nhiều hơn. Vì bà-con ta thù-ghét chính-sách đô-hộ, trốn sang ở Xiêm nhiều, cho nên người Pháp tổ-chức công-việc do-thám rất chặt-chẽ ; ngay trong sứ-quán Pháp tại Bang-kok có một cơ-quan riêng để trinh sát hành-động của phái Việt-nam phản-đối, không ai không biết. Từ trước, vô số người bô-đào đã sa vào lưới ấy mà kẻ làm ngư-ông chính là một người đồng-bào trung-thành với Pháp.
Nay muốn thoát hiểm mà lại chạy sang Xiêm, khác nào con cá dưới sông hồ tự nhẩy lên, đặt mình trên thớt của chú đầu bếp.
Thôi thì công-việc mưu toan bên Xiêm để một vài tháng nữa sẽ hay. Giờ phải tìm cách thoát thân đã. Thân còn thì công-việc ấy sớm muộn cũng có dịp thi-thố, nếu để mình lọt vào tay kẻ thù thì mất cả tự-do, tuyệt hẳn hy-vọng.
Ông Lập Nham suy-nghĩ thế rồi, trở xuống Sài-gòn, lẩn lút ở Chợ-lớn hết vài tuần, mới thu-xếp được với bọn thủy-thủ khách dưới tàu họ đem đi trốn sang Hương-cảng.
Một khi đã trốn được xuống tàu, ra khỏi Ô-cấp (Cap Saint Jacques) là ra ngoài vòng con mắt bàn tay của bọn thám-tử ; lại sang Hương-cảng là tô-giới Anh thì hẳn không lo có điều gì bất trắc xảy đến. Chẳng phải nước Anh nổi tiếng tôn-trọng tự-do nhất thế-giới và hay bao-bọc chính-trị-phạm quốc-tế ư ?
Kỳ thật, họ chỉ khéo giả nhân giả nghĩa. Hễ là tụi thực-dân chuyên môn đi giành quyền cướp đất thiên-hạ mà sống, thì dù ở đâu cũng một lò, một khuôn đúc ra. Bao giờ họ cũng bênh-vực giúp-đỡ lẫn nhau, chớ nghĩ chính-trị-phạm nào đến núp dưới bóng cờ họ mà họ tôn-trọng công-pháp không bắt hộ nhau. Trong vòng 40 năm nay thiếu gì nhà bôn-tẩu quốc-sự ta, như Đặng tử Kính, như Tạ thu Thâu, đã bị cảnh-sát Anh bắt ở Hương-cảng, ở Tân-gia-ban, hoặc ở tô-giới Thượng-hải, rồi giao trả cho Pháp. Tội-nghiệp chúng ta đặt bao nhiêu hy-vọng vào các nước Đồng-minh dân-chủ, rồi phải ngẩn người trắng mắt với nhau khi được trông thấy chính người Anh che-chở dìu-dắt cho bọn thực-dân cướp lại Nam-bộ.
Cuối năm giáp-dần, ông Lập Nham cũng vì tin ở người Anh tôn-trọng quốc-tế công-pháp đối với chính-trị-phạm, cho nên đến Hương-cảng tức là đưa mình vào miệng con cọp dữ.
Ông lên bờ, ngụ vào một nhà trọ quen, trong trí đang mừng thầm đã thoát khỏi nguy-hiểm và yên-ổn xếp-đặt hành-trình đi Xiêm nay mai, bỗng một tảng sáng, lính cảnh-sát trinh-thám Anh rần rộ vây nhà bắt ông và dẫn đi.
Trước mặt viên cảnh-sát-trưởng Anh ông giữ thái-độ rất trấn tỉnh, không lộ vẻ gì lo-lắng, hoảng-hốt, một hai nói mình là người Tàu làm ăn lương thiện, tự-nhiên bị bắt là nghĩa làm sao ?
– Anh là Lương Ngọc Quyến, người Việt-nam bị kết án bạo-động ! Viên cảnh-sát-trưởng nói.
– Ồ ! Các ông bắt láo. Tôi chính là Lương Lập Nham, người Trung-hoa.
Mặc ông chối cãi, ty cảnh-sát chính-trị Anh cứ cho giải đến đối chất ở lãnh-sự-quán Pháp. Sự thật chính viên lãnh-sự Pháp nhờ mật-thám Anh ở Hương-cảng bắt hộ, theo điện-văn của chính-phủ đô-hộ Đông-dương thỉnh cầu.
Tại đây, ông cũng một mực bình-tĩnh, đưa ra hộ chiếu nọ, chứng-tá kia, hết sức biện-bạch mình không phải người Việt-nam, mà thật là người Trung-quốc. Đã là người Trung-quốc, lại không hề phạm tội gì ở Hương-cảng, hơn nữa không có chuyện gì dính-dáng với Pháp, thế mà người ta bắt-bớ giam-cầm một cách vô cớ, té ra khinh-miệt chủ-quyền Trung-quốc, xâm-phạm cá-nhân tự-do mà xưa nay hai nước Pháp, Anh vẫn khoe tuyệt đối tôn-trọng và bảo-hộ ; thêm vào đó xâm-phạm cả quốc-tế công pháp nữa. Vậy thì họ phải lập tức trả lại tự-do cho ông ; hay là nếu họ còn có chỗ ngờ-vực không tin, phải giao trả về nhà đương-cục Quảng-châu xử lý, chứ họ không có quyền bắt giam ở đất Trung-hoa một người Trung-hoa vô tội thế này. Kết-thúc, ông nói sự bắt giam ngang-ngược này có lẽ sinh chuyện phiền-phức về ngoại-giao, vì Trung-hoa Dân-quốc chẳng phải đâu nhu-nhược như Mãn-thanh lúc nọ, quyết không nghe cho một tên dân nước mình bị bạc-đãi lạ-lùng đến thế.
Đại-khái những lý-do ông dẫn ra cứng-cỏi, hợp lẽ, mà thái-độ lại ung-dung, thần sắc bất biến, có lúc gieo mầm phân-vân lưỡng lự vào đầu-óc viên lãnh-sự Pháp.
Người chủ nhà trọ và mấy người bạn Tàu ở Hương-cảng cũng sẵn lòng đến làm chứng hộ ông quả là công-dân Trung-quốc trăm phần trăm.
Song một sự ngẫu-nhiên, một điều bất ngờ, tự-nhiên vung tay hất đổ tất cả, và nó làm chứng trái hẳn, không còn cãi vào đâu được nữa.
Ông bị bắt sau một hai hôm, thì bào-đệ là ông Nghị Khanh – cũng đi học bên Nhật, thụ-nghiệp ở trường Đồng-văn thư-viện, nghiên-cứu về kinh-tế, như một chương trên kia đã nói, – tự Hoành-tân về đến Hương-cảng.
Nghị Khanh ở dưới tàu thủy lên, chở hai, ba rương hòm sách-vở hành-lý đến nhà trọ của anh, bấy giờ mới biết sự-tình anh đã lâm nạn. Người vốn ốm sẵn, Nghị Khanh thấy nhà trọ anh chật chội không thể ở chung, bèn gửi tạm hành-lý ở đó, tất tả đi Cửu-long tìm nhà đồng-chí Tàu lấy nơi trú-ngụ dưỡng bệnh, đồng thời loan báo họ ra sức vận-động thế nào giải-thoát cho anh, chậm-trễ thì hỏng.
Trong thời-gian ấy, cảnh-sát Anh thình lình đến khám-xét ngụ-sở ông Lập Nham chắc định tìm lấy mảy may dấu-tích gì chứng-tỏ ông quả thật nhà cách-mạng Việt-nam mà Pháp yêu-cầu bắt hộ. Nếu không có mảy may gì, tất họ trả lại tự-do cho « chú khách » đã bị bắt oan, bắt lầm và xin lỗi khôn khéo một hai câu cho xong chuyện, chứ không thể cầm giữ mãi được.
Bất đồ mở tới mấy rương hành-lý Nghị Khanh đã gửi, họ vớ được vô số tang-vật chỉ tỏ ra « chú khách » ta đích thị Lương Ngọc Quyến, đảng-viên cách-mạng Việt-nam mà họ bắt đúng. Cuộc khám-xét này thành công và có ý-nghĩa cho họ, như phát ra một mũi tên mà hạ được cả đôi chim to ; vì chủ mấy cái rương hành-lý bọn thực-dân Pháp cũng muốn đặt tay vào cổ nhân thể.
Thì ra bao nhiêu hình-ảnh thư-từ anh gửi cho em trong khoảng mấy năm gần đó, Nghị Khanh đều giữ lại trân-trọng, coi như vật kỷ-niệm quý-báu thiêng liêng ; cả mấy bức ảnh khi hai anh em còn học với nhau ở Đông-kinh, và khi ông Lập Nham còn đóng thiếu-tá trong quân-đội cách-mạng Hán-khẩu cũng có.
Từ giờ phút ấy, ông thái-nhiên nhận lấy số-mệnh không may, chẳng nói gì nữa.
Mấy hôm sau, nhà đương-cục Anh ở Hương-cảng – để che mắt thế-gian và gọi là trục-xuất cảnh ngoại – cho giải ông xuống tàu đưa đi Quảng-châu-loan, bí-mật thông tin cho người Pháp đón lấy mà bắt.
Ông bị giam ở Quảng-châu-loan hết vài tháng, rồi đương-cục Pháp ở đó giải về Đông-dương vào khoảng tháng hai năm ất-mảo (1915).
Đối với chính-trị-phạm quốc-tế, người Anh vẫn có lối giả đạo-đức như thế. Một nhà cách-mạng nước khác đến đất họ quản-trị mà âm mưu hoạt-động gì, họ chỉ bắt giam để xét hỏi rồi đưa ra khỏi địa-phận họ mà tha cho đi đâu thì đi, chứ không kết án làm tội – trừ ra có làm việc gì xâm-phạm đến trị quyền sở-tại – nhất là không giao trả (extrader) cho chính-phủ quan-hệ của nhà cách-mạng ấy.
Bề ngoài họ làm ra vẻ tôn-trọng cá-nhân tự-do của chính-trị-phạm quốc-tế như vậy, nhưng bề trong họ ném đá giấu tay, bắt giao người ta một cách gián-tiếp. Tức như trường-hợp ông Lập Nham và nhiều nhà cách-mạng khác đã sa vào lưới giả nhân giả nghĩa của người Anh. Thật thế, bảo rằng họ chỉ đuổi ông ra khỏi đất Hương-cảng, chứ không giao tay cho người Pháp bao giờ ; thế sao họ không thả ông vào nội-địa Tàu cách xa có mấy bước, lại phải đưa đi Quảng-châu-loan là đất thuộc Pháp ? Chẳng phải họ dụng tâm giao trả ông Lập Nham cho Pháp là gì ?
Ông ở hải-ngoại về Nam-phần thình lình giữ-gìn cực kỳ bí mật, trừ anh em đồng-chí không ai hay biết gì cà, tại sao người Pháp lại dò ra tung-tích rồi theo dõi cho tới Hương-cảng bắt được mới thôi ?
– Ôi ! Mười vụ cách-mạng bại lộ mất chín ; mười nhà cách-mạng bị thực-dân bắt được, tại có người mình lập công cầu lợi, làm trành [1] cho nó chứ gì ! – người này trả lời.
– Khốn nạn ! Nhiều khi chính là đồng-chí phản trắc khai ra cũng có ! – người kia nói và thở dài.
Người khởi-nghĩa Thái-nguyên bị bắt, vì tụi trành của thực-dân thả ra tứ tung, mà cũng vì có một bạn đồng-chí phản-trắc, mật báo cả đường đi lối bước cho thực-dân bắt được bạn, để gỡ tội lập công, thêm được phú-quý. Dưới đây các ngài sẽ thấy trong một bài thơ tuyệt mệnh, có một câu tác-giả ký ngụ nỗi buồn đó.
Nhiều nhà cách-mạng đồng thời với ông Lập Nham nay hãy còn đó ; các cụ nói trắng cho chúng tôi biết rằng : kẻ bất lương đã bán đứng Lập Nham cho thực-dân, chính là Nguyễn bá Trác.
Nguyễn bá Trác là bạn cùng học bên Nhật một lớp với ông, sau cùng về ở nước Tàu bôn-tẩu quốc-sự với nhau, tình thân nghĩa thiết. Lại cùng là một số bảy người bị thực-dân kết án tử-hình khiếm diện cuối năm 1913. Qua đầu năm sau, va đã về đầu hàng và được ở Nam-phần. Va cũng ở Long-xuyên trong khi ông Lập Nham từ hải-ngoại trốn về, mật-hội đồng-chí ở nhà bạn Nguyễn thượng Khách. Khôn-ngoan và từng trải, va thừa biết Lập Nham là một trong những tay hải-ngoại vận-động rất lợi hại lúc bấy giờ, chắc thực-dân cần bắt và muốn bắt để tiêu-diệt lần hồi vây-cánh thế-lực của phái Đông-du. Vậy thì báo bắt người ấy có ba điều lợi cho va : một là dâng món quà hiếm-hoi để mua lòng tin-cậy của thực-dân, vì từ khi ra thú, va chưa lập nên công-trạng gì ; hai là xóa được án cũ ; ba là bước đi đến công-danh.
Vì thế sau khi ông Lập Nham từ-giã Long-Xuyên đi Cao-miên, va mật báo cho ty liêm-phóng biết mà theo dõi ? Những người hiểu rõ câu chuyện, nói rằng chỉ chậm độ nửa giờ, ông có thể bị bắt ngay ở Nam-vang.
Muốn săn cọp mà hạ kỳ được, không thì có thể bị cọp vồ chết mình, va lại vạch rõ cả hành-tung và những nơi trú-ngụ ở hải-ngoại cho thực-dân biết mà săn bắt ; dù cho cọp có thoát vòng vây trong xứ thì ra ngoài cũng phải mắc lưới.
Quả-nhiên, sang đến Hương-cảng thì ông bị bắt.
Có người nói một viên-chức ở Lãnh-sự quán Pháp tại Hương-cảng tên là Thu, cũng có công lao trong vụ ấy. Bình nhật, Thu vẫn tới lui quen biết ông Lập Nham một cách thân-thiện ; nay hắn trở mặt, thấy ông đến Hương-cảng, liền mách lãnh-sự Pháp nhờ cảnh-sát Anh bắt hộ.
Chúng tôi quên nói lúc ông ở Sài-gòn thoát hiểm về Hương-cảng, trong trí đã dự-định chỉ lưu lại mấy tuần, rồi nếu tình-thế chưa tiện đi Xiêm để kinh-doanh công-cuộc « khẩn điền luyện binh » thì ông thừa dịp đi Âu-châu, đến tận nước Pháp, cho được thấy rõ văn-minh và lực-lượng kẻ thù ra thế nào ?
Việc dự-định ấy, hình như Thu biết. Va mật báo người Pháp tính cách bắt ông ngay. Họ sợ để ông lọt sang Pháp sẽ bí-mật giao-thiệp và tuyên-truyền cách-mạng trong đám lính mộ Việt-nam, tất là nhiễu sự.
❀ ❀ ❀
[1] Tương truyền người bị hổ ăn thịt, cái hồn vẫn phải theo-đuổi hổ, rình-mò run rủi làm sao, có người khác cho hổ ăn, bấy giờ mình mới được siêu thoát. Đến lược hồn sau cũng thế. Người ta gọi cái hồn đi bắt mồi cho hổ như thế là « trành ». Nhân đấy thành ra danh-từ chỉ tỏ như kẻ làm mật-thám cho quân thù để hại đồng loại.