Lương Ngọc Quyến Và Cuộc Khởi Nghĩa Thái Nguyên 1917

Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI. THÁI-NGUYÊN KHỞI-NGHĨA

❊ ❊ ❊

Nằm vào khoảng giữa trung-châu và thượng-du, núi non trùng điệp, hình-thế hiểm-yếu, tiện đường giao-thông với Tàu, tỉnh Thái-nguyên vốn là đất thuận lợi nhiều bề cho những người anh-hùng dụng võ. Cho nên ở đấy từ xưa, thường thấy binh đoan chiến-sự kế tiếp diễn ra luôn luôn. Khi thì chống cuộc ngoại xâm, khi thì làm ổ nội chiến.

Có thể nói từ những hồi lịch-sử ta mới bắt đầu, rồi trải qua thời-đại Bắc-thuộc nghìn năm, cho đến thời-đại tự-chủ Đinh, Lý, Trần, Lê, dễ thường không có mấy tấn kịch chiến-tranh quan-hệ mà không lấy Thái-nguyên làm sân-khấu. Lý thường Kiệt đánh phá quân Tống ; Nùng trí Cao xưng hùng non xanh, nhà Trần hai phen cự giặc Hồ-Nguyên ; Lê thái Tổ đuổi Vương Thông, Trương Phụ ; hai họ Trịnh, Mạc huyết chiến ; Tây-sơn theo giết quân Mãn-thanh ; ấy là những trận ngoại-xâm nội-chiến to nhất trong lịch-sử, nhiều màn trọng-yếu đã diễn ở trên mặt đất Thái-nguyên.

Đến khoảng cận-đại, cũng trên đất hiểm ấy, Nồng văn Vân khởi binh chống cự Nguyễn-triều ; bọn giặc khách Ngô Côn, Hoàng sùng Anh tràn sang nương-náu quấy-nhiễu ; rồi tới quân Pháp cùng quân Tàu giao chiến nhiều trận để tranh lấy chủ-quyền miền Bắc.

Sau khi thực-dân Pháp lẫy võ-lực đặt xong cuộc đô-hộ ở đây, ta hãy kể một thời-gian từ 1885 đến 1913, những người khí-khái trượng-phu, ghét thù Pháp-tặc : Đề Huỳnh, sau Đề Thám kế tiếp nổi lên, dựa thế núi rừng hiểm-trở ở Thái-nguyên mà chống cự dằng-dai, không lúc nào ngớt. nhất là Đề Thám, ngót hai chục năm, khi trá hàng lúc quyết đấu, dù binh-lực khí-giới đều kém-thua, cũng cứ tiếp-tục kháng chiến quanh vùng mấy tỉnh Bắc-giang, Thái-nguyên, Phúc-yên, làm cho bên địch vất-vả tốn-kém vô số. người Pháp dụ mãi không xong, đánh mãi không được, đến nỗi phải dùng lối tiểu-nhân là thuê mấy tên giặc khách trà trộn vào làm thủ-hạ Đề Thám, thừa cơ giết chết ông ta trong khi đang ngủ. mà rồi khoản tiền thuê mấy chú khách, bọn thực-dân vỗ trơn không trả, người ta đòi-hỏi thì chúng trở mặt, trục xuất cảnh ngoại.

Kế đó mấy năm, Thái-nguyên lại nổi thanh danh như cuộc khởi-nghĩa của hai người anh-hùng Lập Nham và Đội Cấn. cho tới kỳ chiến-tranh này, Việt Minh lập chiến-khu chống-cự Pháp Nhật cũng ở đấy.

Nhà thơ Tùy Viên nói đúng thật : phàm chỗ non xanh cảnh lạ xưa nay, dù muốn nhàn thân cũng không thể nhàn được ; thân nó chẳng bị các ông danh-sĩ thi-gia đè ra ngâm ca vinh tụng, thì lại có người anh-hùng dựa vào nó làm sào-huyệt, làm căn-cứ, thi-thố những việc phi-thường. Giang-sơn Thái-nguyên, tức là thứ giang-sơn không mấy lúc được nhàn đó.

*

Sáng sớm hôm 13 tháng 7 năm đinh-tỵ, tức ngày 30 tháng 8 dương lịch 1917, dân-cư hàng phố Thái-nguyên thức dậy đã thấy tỉnh-thành đổi lạ quang-cảnh. Ngoài phố, từng tiểu-đội lính ta bồng súng đi đi lại lại có vẻ hớn-hở, cánh tay đeo băng năm chử nho « THÁI-NGUYÊN QUANG-PHỤC QUÂN ». Nhìn lên cột cờ trại lính thấy lá cờ Ngũ Tinh phấp-phới ngạo-nghệ trước gió. Các ngả đường dán tờ bố-cáo đứng tên Đại-đô-đốc Trịnh Cấn, báo cho dân-chúng biết rằng binh-lính cách-mạng ta đã khởi-nghĩa đánh đuổi thực-dân, khôi-phục tỉnh-thành.

Bấy giờ mọi người mới hiểu ra lúc nửa đêm có những tiếng súng nổ, tiếng kèn thổi, tiếng reo hò rầm-rĩ ở phía trại lính khố xanh về đề-lao, ấy là cuộc khởi nghĩa của lính ta mà người cầm đầu tức là Đội Cấn, do sự khích-lệ bí-mật của Ba Quyến, một nhà cách-mạng có tiếng, đã tốt-nghiệp võ-bị Nhật-bản, người Pháp bắt giam trong ngục bản-tỉnh hơn một năm nay.

Đội Cấn, tên thật là Trịnh văn Đạt, người làng Yên-nhiên, phủ Vĩnh-tường, vốn nhà làm ruộng, thuở nhỏ chỉ được học chữ nho ít lâu, rồi phải ở nhà làm lụng đồng-áng, giúp-đỡ cha mẹ.

Năm ngoài 20 tuổi, đi ứng mộ lính khố xanh, mới đổi tên là Cấn. Vào khoảng 1090 hay 1910, lên đóng ở Thái-nguyên, lập công-lao trận-mạc nhiều, không mấy chốc được thăng đội-trưởng.

Tính người hào-hiệp, hiếu nghĩa, có lòng yêu nước âm-thầm, thích nghe kể truyện Cần-vương của các cụ ngày trước. những lúc Đề Thám tràn qua địa-phận Thái-nguyên, Cấn thường sung vào đội quân đi tiễu, tuy phải bắn thì bắn nhưng trong lòng vẫn hâm-mộ Đề Thám, nhìn-nhận hành-vi của ông này là đáng kính-phục. có lần, Cấn với một bạn đồng ngũ đã suýt đánh nhau vì truyện Đề Thám ; Cấn gân cổ cãi Đề Thám là người ái-quốc, chứ không phải giặc cướp như thực-dân vẫn gia tiếng cho ông ta.

Từ năm 1913, tỉnh Thái-nguyên, ở dưới quyền thực-dân cai-trị roi vọt của công sứ Darles là tên đứng đầu tứ hung, lính-tráng và tù-phạm đi làm cỏ-vê, thường bị đánh đập tàn-nhẫn ; đánh tới máu thịt tơi bời, không kể sống chết. Đội Cấn thấy thế, lấy làm bất bình, chẳng những oán-ghét một mình Darles, lại cừu hận chung cả chính-sách áp-chế của thực-dân, có hôm nói riêng với Đội Giá, bạn thân :

– Chả trách những ông đang nằm bên đề-lao kia họ làm cách-mạng !

Mầm chống thực-dân tiềm-tàng trong óc Đội Cấn từ đó, chỉ còn đợi các nhà cách-mạng bên đề-lao ra công tài-bồi là được nẩy-nở.

Đề-lao Thái-nguyên lúc bấy giờ, ngoài ông Lương ngọc Quyến, có Ba Chi, Cả Thấu, Hai Vịnh, Nguyễn gia Cầu, ông tú Hồi Xuân, Ba Nho, Ba Quốc v.v… tất cả hơn mười người trong tù quốc-sự, người thì can vào vụ ném bom năm 1913, người thì là bộ tướng của Đề Thám.

Như trên đã nói, Đội Cấn có lòng kính-mến những người đã vì việc nước mà bị tù-tội, cho nên thường tìm cách giao-thông tin-tức và giúp-đỡ họ, bởi vậy mấy người tù nhẹ vẫn được ra ngoài làm việc, hoặc là ban lính canh-gác đề-lao. Nhất là đối với ông Lập Nham càng tỏ lòng quý-trọng tin phục vì Cấn hiểu rõ cả gia-thế, học-thức của ông, định sẵn trong trí rằng một mai khởi-nghĩa tất phải nhờ ông chỉ bảo về mặt ngoại-giao và quân-sự.

Chính ông cũng biết Cấn là người hữu tâm với tổ-quốc, cho nên ra sức khích-lệ, hứa đem hết tài năng ra giúp một khi cử đồ việc lớn. ông dụng tâm trù-hoạch ngay từ khi mới lên Thái-nguyên được mấy tháng, bí-mật thông tin cho gia-nhân và đồng-chí ở ngoài gửi bạc trăm vào luôn luôn, dùng để cưu-mang anh em trong đề-lao, mua-chuộc nhân-tình của đám lính canh-gác, phòng có một ngày kia mưu toan đại sự phải cần đến họ. vì thế, trong việc giao-thiệp giữa ông và đội Cấn, ai nấy đều tận tâm hiệu-lực với ông, đóng vai trung-gian, giữ-gìn kín-đáo ; tai mắt thực-dân đặt khắp nơi mà chẳng hay biết gì cả.

Hai người trao-đổi ý-kiến nhất trí rồi, cuộc khởi-nghĩa đáng lẽ thực-hiện từ hồi tháng hai ta, nhưng lại xét ra có nhiều điều bất tiện, cho nên phải trì-hoãn đến mãi nửa đêm hôm 13 rạng ngày 14 tháng bảy. Nghĩa là trước ngày dưới âm-ty đại xá vong nhân, – gồm có anh-linh những người đã tử tiết vì nước bấy lâu, – trên dương-gian, một nhóm nghĩa-sĩ mạnh-bạo đứng lên phất cờ giải-phóng dân-tộc.

*

Buổi chiều hôm ấy, Đội Cấn họp ba người bạn thề nguyền đồng-tâm là đội Giá, đội-trưởng và đội Xuyên, cùng nhau mật định cơ mưu, phân phát công-việc, chỉ còn đợi giờ hành-động.

Khoảng một giờ đêm, đội Trưởng vâng mệnh đi bắt viên giám binh Noel và quản Lập. Cố-nhiên Noel và quản Lập kháng cự, đội Trưởng bắn chết cả hai, cắt lấy thủ-cấp làm vật tế cờ.

Tức thời đội Cấn thổi kèn gọi tất cả lính trong bản-trại ra đứng xếp hàng trước sân, đưa hai thủ-cấp ra hiệu lệnh và lấy đại nghĩa « giết thù cứu nước » hiểu-dụ anh em.

Lính trong trại có 175 người, độ ba chục người leo tường chạy trốn, hơn mười tên tỏ vẻ chống-cự bị bắn tại chỗ ; còn lại 131 người nhiệt-liệt hoan-hô cách-mạng.

Cùng trong lúc ấy, Đội Giá chạy sang đề-lao, đã có lính ta nội ứng, bắn chết viên thủ-ngục người Pháp xong rồi, chặt xiềng mở khóa cho các tù chính trị, đầu tiên là ông Lập Nham ; Đội Giá sai mấy người lính hộ-vệ ông sang ngay trại lính khố xanh nơi đội Cấn đang chờ đợi. Một người lính phải cõng ông trên lưng, vì ta đã biết ông bị cùm-ác nghiệt lâu ngày, một chưn què liệt, không tự cử-động được.

Đội Giá lại mở tung cửa ngục cho những tù khác cũng ra, độ ngót 200 người. tiếng reo hò mừng rỡ vang động đề-lao. Họ được dẫn về cả trại lính, để chọn người khỏe-mạnh thì phát binh phục khí-giới cho làm chiến-sĩ, sung vào quân-đội Quang-Phục.

Tây đầm trong tỉnh nghe động, vội-vã kéo nhau vào đồn lính ẩn-nấp. Đồn này chỉ có 40 lính Pháp và hai khẩu súng liên-thinh, cho nên không dám rục-rịch.

Đội Cấn mở hội-đồng quân-sự ngay lúc bấy-giờ ; toàn thể đồng-chí bầu ông làm chức Thái-nguyên Quang-Phục Quân Đại-đô-đốc, phụ-trách nhất-thiết việc quân ; ông Lập Nham thì làm quân-sư, chỉ ngồi một nơi bàn-soạn chiến-lược, định đoạt binh-cơ, chứ không xông-pha trận-mạc được như mọi người.

Theo ông đề-nghị, Quang-phục-quân lấy cờ năm sao làm hiệu cờ cách-mạng. Sáng sớm, tờ tuyên ngôn thứ nhất, dán khắp tỉnh-thành, hiểu-dụ cho dân trong tỉnh được rõ mục-đích lính ta khởi-nghĩa và khuyên ai nấy an cư lạc nghiệp. kế đến hôm sau, tờ tuyên ngôn thứ nhì, hiệu-triệu cả đồng-bào quốc dân, nên thừa lúc này người Pháp đang nguy-khốn ở Âu-châu mà vùng-dậy đả đảo đô-hộ, lấy lại độc-lập tự-do. Các ngài sẽ thấy bản dịch hai tờ tuyên ngôn này ở đoạn sau.

Cứ theo điều-tra của công-sứ Darles thì tờ tuyên ngôn thứ nhất do các đồng-chí khởi-nghĩa họp nhau thảo ngay lúc đêm, có ông Lập Nham nhuận sắc ; còn tờ thứ hai thì một tay ông viết.

May đời cho tên đầu đảng tứ hung đi Đồ-sơn vắng mà được khỏi chết đêm hôm ấy, vì anh em cách-mạng đã bàn-định từ mấy hôm trước, sẽ lấy đầu tên thực-dân tàn-bạo ấy tế cờ khởi-nghĩa.

Tảng sáng hôm sau, phần lớn tỉnh-lỵ Thái-nguyên đã về tay nghĩa-binh chiếm lĩnh. Cờ Ngũ Tinh treo trên nóc trận ; ngoài cổng trăng ngang tấm vải đề bốn chữ to « NAM BÌNH PHỤC QUỐC ». Từng tiểu-đội nghĩa-binh chia nhau canh-gác các công sở, tuần-phòng hàng phố và đường-sá giao-thông. Bởi vậy, dân-cư hàng phố sáng sớm thức dậy đã thấy non sông trở về bà-con ta làm chủ. Có điều khá tiếc là nghĩa-binh đến nhà bưu-điện hơi trễ, thành ra viên chủ-sự đã kịp đánh giây thép cáo cấp về Hà-nội trước khi đường thông-tin bị cắt đứt.

Tính ra nghĩa-binh lấy được trong kho bạc tất cả 71.000$. Trừ số khí-giới trong trại lính có sẵn, nghĩa-binh lấy thêm được 167 khẩu súng trường, 1 khẩu súng lục, 15 thanh gươm và 62.125 viên đạn, nghĩa là đủ số khí-giới cần dùng phân phát cho hai đội quân mới tổ-chức, gồm những tù-phạm khỏe-mạnh vừa thả trong đề-lao ra và một số thường dân vừa mới ứng-mộ. Nhưng đến khi phải giao chiến, duy có đám lính nhà nghề cùng mấy người tù chính-trị đã có kinh-nghiệm chiến trận, là dám đương đầu kịch chiến, khiến lính Pháp phải kiêng-dè, còn lính mới mộ thì bỏ chạy tứ tán hoặc phải ra hàng ngay trong mấy trận giao phong đầu tiên.

Nghĩa-binh làm chủ tỉnh-lỵ Thái-nguyên từ đêm hôm 30 tháng 8 dương-lịch cho đến trưa mồng năm tháng 9, trước sau 7 ngày.

Từ hôm mồng hai trở đi, ngày nào quân địch cũng tấn công dữ-dội. Nghĩa-binh đào hào, đắp lũy, ứng chiến rất hăng. Những đường giao-thông với tỉnh-lỵ, ta đều mai phục khôn-khéo, cố chẹn quân giặc tràn vào. Thò toán giặc nào mạo-hiểm vào tỉnh, đều bị đón rước bằng những loạt súng bắn rất trúng đích, chết gục hai bên lề đường.

Hai ngày đầu, Pháp bị tổn-hại khá nặng ; trận nào cũng bị nghĩa-binh đánh hắt ra, không thể đặt chưn vào trong tỉnh.

Nhưng chúng quyết lấy lại tỉnh-thành, đem hơn 500 lính đủ các súng liên-thinh, đại bác, khởi từ chiều hôm mồng 4, đồng thời hai mặt tấn công bắn vào trận tuyến của nghĩa-binh dữ dội.

Nghĩa-binh chống lại cực kỳ anh-dũng, nhưng vì quả bất địch chúng, vừa kém khí-giới, vừa không có tiếp viện thành ra mới mệt, núng thế. Hàng ngũ cách-mạng chỉ có độ 300 chiến-sĩ, giao chiến với giặc đã mấy đêm ngày vất-vả, giờ phải chống-cự ngót nghìn quân địch thừa-thải khí-giới và tập-luyện đã quen, ta đuối sức thua trận không phải sự lạ.

Đến trưa mồng 5, ông Đội Cấn liệu thế không giữ nổi, truyền lệnh cho quân-sĩ bỏ tỉnh-thành lục tục rút đi.

Đánh máy : kn1tinhyeu, minhhai1768, searatsuki, thuhang1319, chau_la_la, butterflyfairy, mientay2012
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.