Sinh bình ông Lập Nham không thích lối học từ-chương, cho nên ít ngậm vịnh thơ-phú, chẳng để tâm-chí vào công-phu mài vần gọt chữ như bạn đồng thời.
Mặc dầu sinh vào một gia-tộc mà cha anh chú bác đều xuất thân khoa-cử và giữa thời-đại từ-chương khoa-cử vẫn đang thịnh-hành, ông chỉ theo-đuổi cho đến khoảng 15, 17 tuổi, đi thi một khoa không trúng thì thôi. Lúc quăng lều chiếu ở trường Nam trở về, được đọc những tân-thư bên Tàu mới truyền-bá sang, liền tỉnh ngộ lối học khoa-cử không có kết-quả gì khác hơn là giết chết dũng khí tiến-thủ của tuổi xanh và thả trôi ngày giờ vào công-việc mài-giũa hư văn vô ích.
Không bao lâu ông xuất-dương, nghiên-cứu binh-học ở Nhật-bản, rồi về Trung-hoa phục dịch trong quân-đội cách-mạng, nếm trải đủ mùi bôn ba nguy-hiểm và sinh hưởng thú phong-lưu ; nếu thay người khác vào cảnh-ngộ ấy, tất đã nguồn thơ lai láng, ngâm vịnh chẳng còn thiếu gì. Nhất là một người đã có Hán-học cứng-cáp, từng chịu giáo-dục từ-chương trước khi ra ngoài thay-đổi học-thuật.
Nhưng ông không thích ngâm vịnh, sau khi đã tỉnh ngộ từ-chương là vô dụng và lập chí cầu học cứu-quốc.
Một bạn đồng-học với ông ở trường Chấn-Võ kể lại cho nghe câu truyện kỷ-niệm lý-thú sau này :
– Hôm ấy được nghỉ học, tôi với ba anh Lương Lập Nham, Nguyễn thái Bạt, và Lương Nghị Khanh dắt nhau đi bộ ra ngoài thành chơi, nhằm mùa hoa đào đua nở, phong-cảnh tuyệt đẹp, xúc cảnh sinh tình con người lữ-thứ không khỏi động lòng cố hương ; Thái Bạt bỗng động hồn thơ, xướng lên một câu thế nào đó, lâu ngày tôi quên mất, chỉ nhớ là anh gật-gù đọc câu mình xướng rồi day mặt lại bảo :
– « Lập Nham nối đi ! » Anh này lắc đầu chối từ rằng mình đã quên hết lề lối làm thơ. Chúng tôi nghĩ anh tự khiêm hay là có ý kiêu-ngạo ; mọi người thúc giục anh nối vần cho vui. Anh nghiêm sắc mặt nói : « Ví bằng ngâm thơ mà đuổi được thực-dân, cứu lại nước nhà, thì tôi đã làm mãi chả phiền các anh phải bảo ! » Lời nói nghe khảng-khái bi-thương, khiến chúng tôi lạnh toát cả người, nguội hẳn thi hứng, lúc ấy không ai dám nghĩ đến chuyện làm nối bài thơ nữa.
Sự thật, trong khi còn học-tập quân-sự ông để hết ngày giờ và trí-não cho sự học-vấn, thao-luyện, chỉ theo-đuổi mục-đích một ngày kia có thể cầm binh chiến đấu với kẻ thù mà thôi, không có lúc nào nghĩ đến cái thú ngâm vịnh. Cho tới khi sang Tàu phục dịch, thì phải mải-miết về chức-vụ quân nhân, về việc thực-nghiệm binh-học để mai sau áp-dụng ở đất nhà đối với kẻ thù ; có thể nói trí-não ông chỉ lo lắng có hai chuyện : binh-sự và cách-mạng.
Vì thế ông sinh bình không có thơ văn gì truyền tụng như nhiều nhà cách-mạng khác.
Mãi đến lúc bị bắt giam hết ngục nọ đến ngục kia, bị cùm-xích tàn-nhẫn đến phát điên, lại cầm chắc phen này bọn thực-dân Pháp tất xử mình vào cực hình, lúc bấy giờ ngồi trong xà-lim, ông mới thấy thức động hồn thơ, cảm-thương thân thế, mà làm ra mấy thiên tuyệt mệnh sau đây :
Một bài là câu liễn tự điếu, tỏ mình Đông-du cầu học đầu tiên, luôn mười năm ở hải ngoại gắng-gổ kiên-cường, chỉ cốt rèn-tập nên người như hạng Nguyễn Trãi, Đặng Trần Thường, để sau này ra tay nâng-đỡ tổ-quốc. Bây giờ chẳng may bị giặc bắt được giết chết, thì hồn thiêng cũng sẽ âm phù mặc trợ cho các đồng-chí làm việc Lý Bí, Lê Lợi, cứu-vớt non sông kỳ được mới thôi. Ta thấy trong câu văn của tác-giả có cái đặc sắc là chỉ dùng điển-cố nhân-vật ở trong lịch-sử nước nhà :
« Học hải trước tiên chiên, thập niên dư nghị-lực tiến hành nghĩ dục Trãi, Thường phù tổ-quốc.
學 海 著先 鞭十年餘毅力進行擬育廌 常扶祖國
Hoàng thiên thiên sắc mệnh, cửu tuyền hạ lệnh hồn phi sang trùng đề Bí, Lợi điện tông bang. »
黄天偏嗇命 九泉下靈 魂丕 爽重提贲利奠宗邦
Dịch nghĩa :
Bể học vượt đầu tiên, hơn mười năm chí lớn không sờn, muốn đúc Trãi, Thường phù nước tổ.
Trời xanh xui mệnh vắn, dưới chín suối hồn thiêng còn đó lại làm Bí, Lợi, cứu non sông.
Đến bài thơ đại ý cũng thế, tác-giả nói phen này mình chết, tất được gặp ông vua Lam-sơn, – tức Lê Lợi – quyết xin ngài trở dậy chém giết thực-dân, cứu hộ nước Nam cũng như ngày xưa ngài đã giết trừ giặc Minh vậy. Câu thứ năm than-thở đời nay không có bạn sáng-suốt tử-tế, có lẽ ngụ ý cảm-khái về sự hành-vi bất lương của người bạn đồng-chí đồng-học với mình khi mới Đông-du tức là Nguyễn Tiêu Đẩu sau về hàng thực-dân Pháp lại chỉ đường vẽ lối cho thực-dân bắt mình để đổi lấy công-danh phú quý. Cũng có lẽ là ám-chỉ vào tên Thu làm ở Lãnh-sự quán Pháp tại Hương-cảng.
Bài thơ như sau này :
Học hải cầm thư lịch kỷ thu
Nam quan hồi thủ tứ du du
Bách niên Tổ-quốc quy hồ lỗ
Thất sích tàn khu phó bích lưu
Tư thế bất phùng minh thánh hữu
Lai sinh thả báo phụ-huynh cừu
Thử hành hoạch yết Lam-san đế
Hoán khởi trùng tiêm Pháp tặc đầu
Dịch nghĩa
Bể học xông-pha trải bấy lâu
Thân tù ngoảnh lại nghĩ mà đau
Trăm năm đất tổ về quân mọi
Bảy thước thân tàn mặc nước sâu
Bạn tốt đời nay sao vắng cả
Thù nhà kiếp khác dễ quên đâu
Hồn ta được gặp Lam-sơn đế
Quyết mượn oai-linh chém Pháp đầu
Câu đối và bài thơ trên, ông đọc miệng cho một vị đường-huynh nghe, khi ông này vào thăm trong ngục.
Còn bài thơ Lục-bát gián thất dưới đây là bức thư vĩnh-quyết từ trong ngục-thất Hanoi gửi ra cho phu-nhân.
Đạo phu phụ cương thường thiên cổ.
Tình thê-nô ái mộ bách niên [1].
Đêm thanh nhớ đến bạn hiền,
Đường xa gửi bức vân tiên tự tình [2].
Kể từ lúc Hải-ninh gặp gỡ [3].
Mối tơ hồng đẹp lứa đôi ta
Hương-giang khi bước chân ra.
Cầm thơ một gánh thất gia một đoàn.
Khi Thượng-hải chăn loan gối phượng,
Lúc Hàng-châu vịnh trúc ngâm mai.
Đề huề mấy chút con giai,
Nhấp men Ngô-lịnh, đua chài Châu-giang.
Nhớ gia hương bước sang Lục tỉnh.
Vượt nghìn non định tỉnh gia thân [4].
Biết bao trọng nghĩa thâm ân,
Trai tài gái nết tấn tần đẹp duyên.
Bấy nhiêu năm liên uyên tịnh phượng [5].
Ngoài nghìn dặm hiệp-ước hoà chung [6].
Giang-sơn trọn một chữ tòng,
Những mong Hồng-nữ, Vệ-công sánh tày [7],
Cờ Ngũ-tinh kéo về Phục quốc [8],
Kiệu tân trang sẽ rước ninh gia [9].
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Non sông nở mặt, mẹ cha thỏa lòng.
Than vận nước còn trong hội bĩ.
Lúc tình cờ phút bị gian nguy.
Làm cho Nam, Bắc phân kỳ,
Xa xôi luống những tương ti âm thầm.
Ngày sáu khắc ruột tằm vấn-vít,
Đêm năm canh hồn điệp ngẩn-ngơ.
Đoài thương nấm đất Cần-thơ [10],
Dàu dàu cỏ biếc, lờ mờ rêu xanh.
Gió ào ào Nam-vang Lung cỗi [11],
Sương mù mù Hànội huyên già.
Xiết bao nỗi nước tình nhà.
Hỡi nàng giúp-đỡ cho ta thế nào ?
Ơn phụ-mẫu thiên cao địa hậu.
Mưu tử-tôn dụ hậu quang tiền [12]
Khuyên nàng lập chí cho kiên,
Hiếu thân giáo tử báo-đền cho anh.
Lòng người đã trung-thành sốt-sắng.
Giời xanh kia ắt chẳng phụ mình.
Mai sau bĩ cực thái hanh [13]
Kéo cờ Độc-lập giữa thành Thăng-Long.
Ba mươi triệu Lạc Long tôn tử,
Bốn nghìn năm lịch-sử quang vinh.
Giời Nam rực-rỡ văn-minh,
Sơn hà rửa sạch hôi-tanh giặc Hồ.
Cửa Nghĩa-môn bầy đồ khánh trúc [14]
Đường Ôn-như hát khúc thăng bình [15].
Rõ ràng phu quý phụ vinh,
Tiếng thơm muôn nước, phúc thanh một nhà.
Nợ trung-hiếu nay đà đền đủ,
Chí tang-bồng chẳng phụ làm trai.
Khi nên trời cũng chiều người,
Nàng ơi ! hãy nhớ lấy lời tình chung.
= HẾT =
❀ ❀ ❀
[1] – thê nô : cũng như thê-tử, nghĩa là vợ con.
[2] – vân tiên : tờ mây. Đời nhà Đường chế ra thứ giấy vẽ mày, gọi là Vân-lam-chỉ, để viết thư từ. Nhân đấy người sau gọi bóng thư-từ là tờ mây.
[3] – Hải-ninh : thuộc về Móng-cáy, giáp Đông-hưng nước Tàu. Phu-nhân đi sang Tàu gặp ông Lập Nham về đón ở đó.
[4] – Định tỉnh : Sớm thăm tối viếng. Kinh Lễ dạy : « Đạo người làm con, chiều hôm thì Định, sáng sớm thì Tỉnh ». Định là buổi tối phải lo quét giường, trải chiếu, dũ chăn, buông màn, để cha mẹ yên-nghỉ ; Tỉnh là sáng sớm hỏi thăm cha mẹ đêm qua có yên giấc không ?
[5] – Liên uyên tịnh phượng : Loài chim uyên-ương và phụng-hoàng, bao giờ con đực con cái cũng sống có đôi, bay sát cánh, không hề lìa nhau. Bởi vậy người ta lấy uyên-ương và phụng-hoàng, để ví với cảnh vợ chồng sum-vầy hòa-hảo, không lúc nào xa cách.
[6] – Hiệp-ước hòa chung : Ý nói âm-nhạc hiệp vần hòa nhịp với nhau cũng như cuộc đời hòa-hảo của đôi vợ chồng.
[7] – Hồng-nữ Vệ-công : Sự-tích nàng Hồng Phất và Lý Tĩnh đời nhà Đường. Lúc ấy thiên-hạ đại loạn, Lý Tĩnh còn là một người học-trò hàn-vi có dịp đến ra mắt một nhà quyền-quý đương thời, Hồng Phất có mắt xanh, đón biết anh-hùng ở giữa trần-ai, liền bỏ nhà đi theo họ Lý. Quả-nhiên về sau Lý theo giúp vua Đường Thái-tông đánh Đông, dẹp Bắc, dựng nghiệp thống nhất, được phong Vệ-Quốc công.
[8] – Cờ Ngũ tinh : có 5 ngôi sao. Ta xem đây có thể biết ông Lập Nham từ khi còn ở hải-ngoại đã cùng các bạn đồng-chí dự bị một chương-trình thực-hành cách-mạng, cả đến hiệu cờ cũng đã định sẵn. Đến năm 1917 ngọn cờ phấp-phới trên tỉnh-thành Thái-nguyên bảy ngày về tay cách-mạng, tức là cờ Ngũ-tinh.
[9] – Ninh gia : Về thăm nhà. Người đàn bà đi lấy chồng lúc trở về thăm nhà mình, gọi là quy ninh hay là ninh gia.
[10] – Nấm đất Cần-thơ : Cụ Cả Cương, thân-phụ của Lập Nham phu-nhân vì cách-mạng mà bị thực-dân Pháp đưa vào an trí tại tỉnh Cần-thơ rồi Cụ qua đời ở đó.
[11] – Nam-vang Lung cỗi : Lúc này cụ Cử Nhị-khê, thân-phụ ông Lập Nham đã bị Pháp bắt giam một độ rồi đưa sang an trí tại Nam-vang kinh-đô nước Cao-mên.
[12] – Dụ hậu quang tiền : Gây-dựng người sau, rỡ ràng đời trước ; ý nói dạy-dỗ con cháu cho nên người, rạng vẻ tổ tiên.
[13] – Bĩ Cực thái hanh : Hết lúc bĩ đến lúc thái.
[14] – Cửa Nghĩa-môn : Cổng nhà Lập Nham phu-nhân ở Động-trung – Thái-Bình, đề hai chữ Nghĩa-môn tự đời Tổ-phụ để lại.
[15] – Ôn Như : Biệt-hiệu cụ Cử Nhị-khê.