Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 453 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI. MỘT KÝ ỨC BỊ TỪ CHỐI

❊ ❊ ❊

Sau khi viết phần Chính sách “cùng chung văn hóa, cùng chung luân lý” của Minh Mạng và sự biến mất của người Chàm trên đất Quảng Nam(219) chúng tôi nghĩ vấn đề “sự biến mất của người Chàm” là đã có thể hình dung, không thể nói thêm được điều gì, thế nhưng dầu vậy vẫn cảm thấy đây là một lỗ hổng nếu không cố lấp đầy được thì chí ít cũng nên nhìn thẳng vào nó với những vấn đề đặt ra mà chưa thể thu xếp lại được. Ví dụ như một bạn đọc có ý kiến rằng: “Thật khó tin khi một dân tộc lại quên đi hầu như toàn bộ ngôn ngữ của mình để nói một thứ ngôn ngữ khác để chỉ còn lại dấu vết là ngữ âm, giọng nói”. Vâng, thật khó tin. Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu đã cố công truy tìm trong vốn từ vựng người miền Trung những từ có nguồn gốc Chămpa hoặc Nam Đảo(220) thế nhưng xem ra sự thuyết phục không cao. Bản thân sự giao lưu thôi, ví dụ như vốn từ Pháp trong tiếng Việt, thì số từ vay mượn hay ảnh hưởng lẫn nhau hẳn cũng đã nhiều hơn sự thống kê này; huống hồ đây là bản thân ngay chính người dân của nền văn hóa đó hòa nhập vào cuộc sống mới, hà cớ làm sao họ lại phủ nhận, rũ bỏ đi hầu hết thứ tiếng nói của ông bà cha mẹ mình đến vậy?

Trước khi khởi bước lần tìm đầu dây mối nhợ để gỡ được đám lùng bùng này xin được xác định lại một lần nữa rằng ở đâu không biết chứ riêng ở vùng Quảng Nam người Chàm đã thực sự bảo lưu được văn hóa của mình cho đến chí ít năm Gia Long lên ngôi năm 1802. Y phục, sinh hoạt của họ qua mô tả và tranh vẽ trong sách của Barrow cho thấy đến lúc này người Chàm vẫn giữ nguyên được bản sắc của mình. Liệu họ có còn nói tiếng Chăm hay không? Chúng tôi không biết! Không có cứ liệu nào giúp chúng ta khả dĩ có thể biết được ở vùng quanh Đà Nẵng, với những làng Chăm “nổi tiếng” như Nam Ô, Đà Sơn, Phong Lệ, Túy Loan, Nại Hiên… người ta còn sử dụng tiếng Chăm hay không. Chỉ một chút lờ mờ là trong phần mô tả về ngôn ngữ của người Đà Nẵng trong sách của Barrow ta vẫn thấy một số từ vẫn còn được nói đa âm như Alexandre de Rhodes mô tả từ gần 200 năm trước: Trời-bloei; trăng-blang; trái-blai; chân-tchen; trứng-telung; trăm-klang;(221)

Liệu đó có phải là dấu vết của một hệ thống ngôn ngữ đa âm của người Chàm vẫn còn sót lại khi nói tiếng Việt? Tại sao lối nói “nhị âm” này vẫn tồn tại từ thời Alexandre de Rhodes đầu thế kỷ XVII cho đến lúc này, 1793, nhưng chỉ sau đó không đến 100 năm thì nó hoàn toàn biến mất? Phải chăng điều gì đó mà chúng tôi không thể trả lời được, chỉ một lòng trông cậy vào các nhà ngôn ngữ học, rằng hình như có một sức mạnh nào đó đơn giản thôi, thậm chí hoang dã như cây cỏ nhưng có một sức sống mạnh mẽ khiến ngôn ngữ nào khi chạm vào tiếng Việt cũng hầu như bị tiêu vong(222)? Mà khi đã mất ngôn ngữ, mất đi tiếng nói mẹ đẻ thì mọi chuyện xem như đã xong!

oOo

Ở Quảng Nam, quanh di tích Phật viện Đồng Dương, ở làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình có họ Trà. Những tưởng ở nơi vốn là kinh đô, có thành quách lâu đài thuộc loại đẹp nhất còn lại đến đầu thế kỷ XX của đất nước Chiêm Thành xưa, lại có một họ Trà sinh sống ngay trên đất ấy từ bao đời nay; hẳn chúng ta sẽ tìm thấy được một ví dụ sinh động về sự tồn tại của những làng Chăm nguyên gốc còn lại mà không bị Việt hóa. Thế nhưng không, ông Trà Tấn Y, một lão làng của họ Trà làng Đồng Dương cho biết theo gia phả thì tiền hiền của tộc Trà là ông Hai Lánh. Truyền thuyết kể, ngày xưa, không biết vì lý do gì giữa hai nước Chiêm Việt nổ ra chiến tranh. Vua Việt tiến đánh quân Chiêm ở tận Đồng Dương. Quân Chiêm thua chạy tan lên núi, nhiều người bị bắt. Đặc biệt, trong đám hàng binh, vua Việt phát hiện có một nàng công chúa xinh đẹp. Ngài bèn bắt về để làm vợ cho một vị hoàng tử. Nhưng, ngài hoàn toàn không biết nàng công chúa này đã có thai. Ra Bắc, nàng công chúa này hạ sinh một người con trai. Người con trai này được nuôi dưỡng giữa kinh thành Thăng Long, học đủ chữ thánh hiền lễ giáo Nho gia nhưng ông vẫn không nguôi nhớ quê hương cội nguồn Chiêm Thành nên đã tìm đường về lại Đồng Dương. Ở Đồng Dương ông lấy vợ và sinh ra hai người con đặt tên là Trà Huyền An và Trà Huyền Chơn, tên tục gọi là ông Chóng và ông Đụn. Hai ông trở thành thủy tổ dòng họ Trà ở Đồng Dương.

Có nghĩa là tổ tiên họ Trà cũng là người phương Bắc vào Nam chứ không hề là người dân bản địa.

Mặc dầu họ Trà là họ lớn ở Đồng Dương(223) nhưng trong bài văn cúng ở đình làng thì hai ông vẫn đứng sau những người Kinh có công lập làng khác: “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai canh. Tiền tố, hậu tố. Tiền năng sư bách nhãn, hậu năng sư bách nhãn. Tiền quế công chi vị, hậu quế công chi vị. Châu Văn Tủy, Trịnh Khắc Thiệt, Trà tộc, ông Chóng, ông Đụn, Trà Huyền An, Trà Huyền Chơn, các chư tộc phái…”. Trong đó, Châu Văn Túy và Trịnh Khắc Thiệt là hai người đứng đầu đơn lập làng. Càng đặc biệt hơn khi hai ông tiền hiền làng là Châu Văn Túy và Trịnh Khắc Thiệt đều không có con cháu nối nghiệp nhưng đến nay vẫn được dân làng ghi nhớ(224).

Quả thật, có rất nhiều thông tin hay và có thể hiểu được nhiều điều từ những lời kể này của những người tộc Trà làng Đồng Dương.

Một hiện tượng tương tự khác, tổ tiên là người từ Bắc vào chứ dứt khoát không thể là người bản địa, mà chúng tôi ghi nhận được là họ Ông ở Phong Lệ (quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng).

Họ Ông ở Phong Lệ gia phả ghi rõ thủy tổ họ Ông vốn là người Chàm nhưng đã ra Bắc và sống với người Việt từ thời Lý rồi hơn 300 năm sau mới vào Nam theo Lê Thánh Tông “bình Chiêm” rồi ở lại lập nên họ Ông làng Phong Lệ! Quả thật thời Lý có nhiều người Chàm họ Ung (âm gọi khác của Ông) tìm ra quy phụ như năm 1129 có Ung Ma, Ung Câu sang quy hàng, hoặc năm 1152 vì tranh nhau ngôi báu, anh vợ vua Chiêm là Ung Minh Ta Điệp sang Đại Việt xin Lý Anh Tông phù trợ. Họ Ông làng Phong Lệ hoàn toàn có lý do để bảo tổ tiên, tiền hiền của mình là từ Bắc vô Nam và theo “Lê Thánh Tông bình Chiêm” năm 1471 và ở lại khai hoang lập làng như bao nhiêu tộc họ khác ở Quảng Nam đều ghi vậy.

Theo Lê Thanh Tông bình Chiêm thực sự là một “chuẩn” danh giá mà nhiều tộc họ ở Quảng Nam hướng đến. Thế nhưng, không như nhiều tộc họ khác không có đủ số đời để chứng minh mình đúng là vào Nam thời Lê Thánh Tông, họ Ông làng Phong Lệ lại có sự hỗ trợ từ gia phả tộc Phan làng Đà Sơn đã ghi rõ họ Ông đã thực sự ở làng Phong Lệ này ngay từ cuối thời nhà Trần, tức trước “Lê Thánh Tông bình Chiêm” đến gần 100 năm. Rõ ràng, nhìn nhận họ Ông làng Phong Lệ là tộc người Chàm (như họ tự nhận) đã cư trú ổn định ở đây suốt từ “thời khai thiên lập địa” đến nay là hợp lý, hợp logic khoa học hơn là như họ tự nhận từ Bắc vào Nam thời Lê Thánh Tông và khẩn hoang, khai canh, chiêu dân lập ấp. Thế nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa thực hiểu vì sao hình ảnh “theo Lê Thánh Tông bình Chiêm” lại có sức quyến rũ với nhiều tộc họ đến như vậy, nhất là trong trường hợp này?

Tộc Phan làng Đà Sơn cũng vậy, dựa vào hai chữ Việt Thường mà tin rằng tổ tiên mình vốn từ Thanh Hóa vào trong khi theo Trần Trọng Kim trong “Việt Nam Sử Lược” thì Việt Thường là tên gọi vùng đất Nam sông Gianh vào thời nhà Tần về trước, tức lúc này Chiêm Thành chưa lập quốc, trước khi có tên là Nhật Nam, Lâm Ấp, Hoài Vương rồi Chiêm Thành(225).

Tại sao các tộc họ người Chăm ở Quảng Nam Đà Nẵng như chính bản thân họ đã tự nhận, nhưng không biết vào lúc nào, thời nào, ai và vì sao đã chép “thòng” vào gia phả tộc họ mình một mối quan hệ nguồn cội nào đó xuất phát từ đất Bắc như trăm ngàn họ Việt khác cùng sống trên mảnh đất này? Thực sự chúng ta vẫn chưa hiểu tại sao việc chối bỏ nguồn cội lại diễn ra một cách mạnh mẽ và quyết liệt đến như vậy. Đây thực sự là “Một ký ức bị từ chối”. Trước sau gì chúng ta cũng sẽ tìm thấy câu trả lời cho vấn đề này, thế nhưng liệu câu trả lời đó cần cho ai thì lại là vấn đề của hôm nay và thuộc về từng người chứ không thuộc về các nhà khoa học!

Câu chuyện của họ Trà và họ Ông có lẽ đủ để giúp chúng ta hiểu chuyện gì đã xảy ra với những tộc họ có gốc Chàm nhưng đã mang một họ Việt sớm như Phan, Phạm, Đặng, Đinh (thời nhà Hồ); những họ hình thành từ sắc chỉ 1472 của Lê Thánh Tông, và những tộc họ hình thành dưới thời các chúa Nguyễn có số đời trên dưới 12 đời vào năm 2002.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.