Đã nhiều người chọn phương pháp thống kê so sánh ngữ âm của một lớp từ Việt và Chăm hiện nay rồi từ đó rút ra kết luận về sự giao thoa, tiếp biến văn hóa Chăm - Việt(198). Quả thật có rất nhiều từ ngữ của người Quảng Nam nói riêng và Trung Trung Bộ nói chung rất giống với ngôn ngữ của người Chăm hiện nay ở các tỉnh Nam Trung Bộ, không thể chối cãi mối giao lưu sâu đậm đã xảy ra suốt nhiều trăm năm giữa hai cộng đồng người này. Không lẽ nào người Chàm xưa đã từ bỏ tất cả lời ăn tiếng nói của cả một dân tộc? Thế nhưng, dầu vậy, các bằng chứng này lại không cho chúng ta công cụ đủ để hình dung nên mối giao lưu sâu đậm đó. Số liệu có nhiều thế nào chăng nữa cũng vẫn cứ vẽ nên một hình ảnh sự tiếp thu văn hóa, tức chủ thể này đã tiếp nhận các nền văn hóa khác để làm mình phong phú hơn lên chứ không cho ta một hình dung nào về đối tượng chủ nhân nền văn hóa đã được người khác tiếp thu ấy.
Nếu có gì phải nói thêm thì xin nhắc rằng khi xét vấn đề ngữ âm trong mối quan hệ hai ngôn ngữ Chàm - Việt thì có hai trục để ta đối chiếu: Một là trục tuyến tính, lịch đại theo đúng trục thời gian của các giai đoạn phân kỳ lịch sử Nam tiến; và thứ hai là trục đồng đại, tức những ốc đảo ngữ âm do những làng người Chàm chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt rất muộn. Văn hóa biển là văn hóa của người Chàm, ở miền Trung các làng chài ven biển là nơi bảo lưu lối sống Chăm dài lâu nhất, chính vì vậy họ đã chuyển sang nói tiếng Việt rất muộn(199), và nếu chiếu theo hệ thống thổ âm các làng chài ven biển miền Trung ta sẽ có sự phân vùng: Vùng biển, đồng bằng, trung du chứ không còn là Bắc hoặc Nam Thu Bồn nữa. Vì vậy, khi phải dùng đến phương pháp ngữ âm để truy tìm những bước đi của lịch sử, của sự giao hòa văn hóa hai tộc người Chàm-Việt, ngoài hệ thống tuyến tính, phân biệt rõ được giọng Bắc và Nam Thu Bồn ta còn phải chú ý đến những ốc đảo ngữ âm chuyển Việt muộn này, nếu không phân định rõ được điều này ta sẽ rơi vào một đám lùng bùng khó mà lần ra được đầu mối.