Ông cố người viết tập sách này là một tiến sĩ thời Thành Thái, có tên trong những người soạn bộ Đại Nam Thực Lục của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn; có nghĩa rằng ông là một người nhiều chữ nghĩa, thế nhưng trong gia phả tộc Hồ làng An Dưỡng, kể từ ông nội của ông trở lên đều không có tên, có nghĩa là các phần mộ từ đời thứ 8 về trước đều không có bia, hoặc có bia mà không có tên, chỉ là mấy dòng chữ “Đệ nhất, đệ Nhị (hoặc Tam, Tứ…) thế tổ”, các bà thì càng không! Có nghĩa là điểm xuất phát của dòng họ là vô cùng thấp và đến đời ông mới bắt đầu có chữ và viết gia phả. Gia phả đến năm 2002 là thế hệ thứ 12 trên dưới 20 tuổi. Cũng có nghĩa là dòng họ được hình thành đâu đó từ năm 1700. Không thể nói được là tổ tiên của dòng họ đã vào Nam từ năm ấy(215). Và cũng không thể nói dòng họ từ nơi khác đến nhập cư, ngụ cư ở làng An Dưỡng, bên bờ Nam sông Bà Rén, đơn giản vì đó là vùng đất trù phú, cách cầu Bà Rén trên quốc lộ 1A chỉ 2km; đối diện qua con sông rủ bóng hai hàng tre với làng dệt Mã Châu lâu đời có giọng nói rất giống người Thanh Quýt với mầy, tao, đâu, kia, sao, vậy.
Đây là vùng “ngoại ô” của kinh thành Simhapura, Trà Kiệu nay, vùng đất được các nhà khảo cổ đào xới nhiều nhất ở Quảng Nam; và đã tìm thấy dấu vết cư trú của người cổ Sa Huỳnh bên cạnh những dấu vết gạch Chàm dày đặc. Có nghĩa là vùng đất này chưa bao giờ vắng bóng người, chưa bao giờ không có chủ kể từ thời người Sa Huỳnh, chí ít là cách nay đã 3.000 năm(216).
Không chỉ tộc Hồ có 12 đời. Trương, Ngô, Hồ, Nguyễn là 4 tộc lớn ở An Dưỡng, xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cũng không có tộc nào có số đời hơn 12.
Tại sao vậy? Tại sao một vùng đất ven kinh thành Trà Kiệu, bên con sông Bà Rén khá thơ mộng, phụ lưu của sông Thu Bồn chứa lượng phù sa dồi dào bồi bổ cho đất đai hằng năm, thuận lợi giao thông Bắc Nam và cả lên nguồn xuống biển, đất đai thì phì nhiêu thuộc loại thượng đẳng điền, bờ xôi ruộng mật, thế nhưng cả làng không tìm thấy tộc nào có số đời lớn hơn 12? Lẽ nào những lưu dân người Việt lại bỏ qua vùng đất trù phú này để tiến xa hơn về phương Nam là vùng Thăng Bình, Tam Kỳ… khô cằn hơn, cát và sỏi đá hơn để rồi mãi đến năm 1.700 mới đến đây khai canh lập ấp?
Khải Định năm thứ 8 (1924) có chiếu chỉ về việc phong tặng thần sắc cho các thỉ tổ các tộc họ ở các địa phương có công khai canh, khai khẩn, chiêu dân lập ấp “Hầu giúp cho những vị thần đó cùng với nhân dân đều chung hưởng phúc huệ. Còn như nơi nào mọi việc còn tình trạng lờ mờ, sinh hạ thê thứ còn ít đời, mới được 4 hoặc 5 đời trở xuống thì đình chỉ việc khai trình”(217).
13 tộc họ ngũ xã Trà Kiệu theo đó lập bản khai trình các vị tiền hiền như sau:
Lê Đình Lộc (Đến năm 1925 là đời thứ 14 ông Lê Đình Thì) Lưu Văn Giám (Đến năm 1925 là đời thứ 13 ông Lưu Văn Triết) Nguyễn Thanh Long (Đời thứ 15 ông Nguyễn Thanh Chéo) Nguyễn Tất Thành (Đến năm 1925 là đời thứ 14 ông Nguyễn Khắc Thược) Nguyễn Quang Lộc (Đến năm 1925 là đời thứ 12 ông Nguyễn Quang Trê) Nguyễn Đăng Phò (Đến năm 1925 là đời thứ 11 ông Nguyễn Đình Quyến) Đinh Công Bích (Đến năm 1925 là đời thứ 12 ông Đinh Công Khẩn) Nguyễn Hữu Phối (Đến năm 1925 là đời thứ 14) Nguyễn Thời Nữ (Đến năm 1925 là đời thứ 12 ông Nguyễn Thành Trấn) Nguyễn Như Đơn (Đến năm 1925 là đời thứ 12 ông Nguyễn Như Tánh) Nguyễn Tá Tạo (Đến năm 1925 là đời thứ 14 ông Nguyễn Tá Nguyên) Lê Quang Nghị. Nguyễn Thánh Chiên.
“Cộng 13 vị, vào triều vua Lê Hồng Đức, tuân thủ mệnh nhà vua từ đất Bắc dời vào vùng đất Chiêm Thành, gầy dựng, khẩn canh, mở mang thành lập xã hiệu Trà Kiệu”(218).
13 tộc họ lâu đời nhất của Trà Kiệu, vùng đất ngay trên kinh thành Trà Kiệu, thủ đô vương quốc Chiêm Thành xưa, đã đến Trà Kiệu, sinh hạ con cháu đến năm 1925 có số đời ít nhất là 11 và nhiều nhất là 15 (14-15 có được 5 họ). Mỗi thế hệ trung bình 24 năm ta có năm sớm nhất các cụ đến Trà Kiệu là 1.565, và muộn nhất là 1661. Cách sự kiện 1471 đến 100-200 năm!
Khó mà khẳng định các cụ tiền hiền Ngũ Xã Trà Kiệu là đã theo Lê Thánh Tông bình Chiêm năm 1471. Sự thống nhất của các con số của 13 tộc họ (các đời vua sau, các tộc họ quyết định mở rộng số tộc họ đưa vào thờ ở nhà thờ chư phái tộc Ngũ Xã Trà Kiệu lên đến 37 vị tiền hiền của 37 tộc họ trong Ngũ Xã, cũng không tộc nào có số đời hơn 12, nếu không nói phần lớn đều là 7-9) cho thấy sự chính xác của việc các tộc họ người Việt có mặt ở Trà Kiệu là không thể sớm hơn lúc Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558.
Trà Kiệu nằm bên sông Thu Bồn, đất đai ruộng lúa thuộc loại thượng đẳng điền trong thung lũng giữa hai núi Chiêm Sơn và núi Vàng Quế Sơn. Cách Cửa Đại Hội An chưa đến 10 km đường chim bay. Các cuộc khảo cổ quanh Trà Kiệu cho thấy trước các tầng văn hóa Chămpa là các lớp cư trú, di vật của người cổ Sa Huỳnh. Có nghĩa là ngay từ thời cổ đại vùng đất này đã có con người cư trú, đến thời Chămpa thì đây là một kinh thành đông đúc, sầm uất. Hệ thống thủy lợi, ruộng lúa đã được người Chàm sử dụng thuần thục từ ngàn năm trước. Suốt những năm chiến tranh Chàm - Việt từ Hồ Quý Ly (1402) đến Lê Thánh Tông (1471) đều cử người, khi thì là người Chăm, khi thì là người Việt cai quản vùng đất Chiêm Động này. Không thể cử người cai quản vùng đất không người. Có nghĩa là suốt chiều dài lịch sử Trà Kiệu không bao giờ vắng bóng người, không bao giờ là vùng rừng rú hoang vu để có thể gọi là người Việt đến khai canh, khai hoang, chiêu dân lập ấp.
Cho dù có nói thế nào chăng nữa thì chúng tôi cũng một mực tin chắc rằng vùng đất này hoàn toàn không thể vắng bóng người khi các vị tiền hiền Ngũ Xã Trà Kiệu đặt chân đến.
Vấn đề đặt ra là tại sao người Việt lại đến vùng đất trù phú, đông đúc người ở, đất đai phì nhiêu này muộn đến vậy?
Câu trả lời không thể khẳng định một cách chắc chắn, nhưng cũng không thể chối bỏ, nằm chính trong sự kiện thành lập dinh trấn Thanh Chiêm năm 1602, cách Trà Kiệu chưa đến 5 km đường bộ, và đây mới chính là điều kiện để người Việt đến “kinh đô” cũ của người Chàm mà thiết lập nền hành chính trên số cư dân gốc, bản địa vẫn ở lại khá đông trên quê hương họ nhiều trăm năm sau khi mất chủ quyền; chỉ có điều họ không để lại gia phả, không để lại bất cứ bằng chứng nào.
Tại sao khi có dinh trấn chính thức, tập quyền, và thực sự có quyền lực thì mới có một số tộc họ người Việt đến định cư ở Trà Kiệu?
Không đặt Trà Kiệu trong bối cảnh vốn là vùng đất đã có người Chàm sinh sống sẵn, thậm chí là rất đông, đất ruộng canh tác thuần thục lâu đời… chúng ta sẽ không bao giờ giải thích được tại sao các tiền hiền của 13 tộc họ Ngũ Xã Trà Kiệu lại đến vùng đất sát bên hông dinh trấn Thanh Chiêm này muộn đến vậy.
Chưa có điều kiện khảo sát các tộc họ có số đời đến lúc ấy (1925) chỉ 6-9 (đến nay là 9-12) là người từ nơi nào ở phía Nam lũy Trường Dục đến. Nếu không chứng minh được điều đó ta sẽ lại có câu hỏi nữa cần được đặt ra, cho dù không cần phải trả lời, là: Những dòng họ này từ đâu ra vậy?
Điều gì xảy ra khi một hai người Việt đến cai quản một làng người Chàm? Làng người Chàm đó sau đó biến đi đâu nếu không phải là họ đã dần chuyển thành Việt, nhất khí đã mang một họ Việt? Và phải chăng chính họ là cư dân chính của Trà Kiệu hiện nay? Chí ít thì điều đó là có thật ở Trà Kiệu vào những năm trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam, trước khi tiền hiền người Việt đầu tiên đến Trà Kiệu, trước khi có dinh trấn Thanh Chiêm năm 1602.
Chưa đủ cơ sở, chưa đủ bằng chứng để có thể khẳng định bất cứ điều gì, thế nhưng bằng phương pháp phân kỳ, bằng cái nhìn biện chứng theo trình tự thời gian, chúng tôi tin rằng điều đó là gần với sự thật hơn hết thảy.