Nói đến Đà Nẵng hầu hết mọi người đều nhắc đến địa danh Hải Châu và xem đó như là biểu tượng sớm nhất của người Việt trên vùng đất Đà Nẵng. Thế nhưng trong Ô Châu Cận Lục (1553), ở mục “Bản đồ” huyện Điện Bàn, mặc dù địa danh Đà Nẵng đã được nhắc đến (do phiên âm từ một tên Chàm nghĩa là “sông lớn”)(211), nhưng tên gọi làng hoặc xã Hải Châu thì hoàn toàn không được Dương Văn An nhắc đến, điều này giúp ta thêm niềm tin rằng tên xã Hải Châu chỉ hình thành thực sự theo gia phả tộc Nguyễn Văn, tức trong giai đoạn 1602-1627.
Huyện Điện Bàn trong Ô Châu Cận Lục, (tức toàn bộ các huyện và thành phố hay là Đà Nẵng, Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Hội An) có 66 xã, trong đó phần lớn thuộc về các huyện Đại Lộc, Hội An, Điện Bàn hay; riêng khu vực Đà Nẵng, Hòa Vang hay chỉ thấy các địa danh: Yên Nê, Túy Loan, Liên Trì, Cẩm Lệ, Hóa Khuê. Các địa danh này theo khảo sát và cảm nhận của riêng chúng tôi đều mang đậm dấu ấn Chămpa và đến nay vẫn chưa ghi nhận thấy tộc họ người Việt nào lâu đời, tức vào sớm và định cư ở các địa danh này.
Qua mô tả nhà ở của cư dân ven sông Hàn vào sông Cổ Cò đến Hội An trong sách của Cristophoro Borri và John Barrow có hình dáng như nhà sàn(212), kiểu nhà người Việt bắc Hải Vân không dùng; xem các bức tranh và sự mô tả cư dân Đà Nẵng của Barrow; qua nhận xét của Hạ Môn Chí giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII “dân địa phương ở đây (Đàng Trong) sống lẫn lộn với người man”(213), chúng ta cũng có thể chắc chắn đến năm 1793 dấu ấn văn hóa Chăm vẫn còn khá đậm nét ở Đà Nẵng.
Có một điều lạ, Đà Nẵng là vùng đất thuộc Đại Việt từ 1306 thế nhưng dấu vết người Việt ở đây cho đến nay vẫn chưa tìm thấy thứ gì sớm hơn thế kỷ XVII. Nằm ngay trên đường cái quan, là nơi dừng lại nghỉ ngơi lấy sức của mọi cuộc hành trình đường bộ hoặc đường thủy, mọi cuộc Nam tiến người Việt đều đã phải đi qua vùng đất này nhưng không một ai dừng lại cho đến sau khi Nguyễn Hoàng bước chân qua khỏi đèo Hải Vân năm 1602, thì Đà Nẵng mới xuất hiện những dòng họ người Việt đầu tiên làm nên những làng xã như Hải Châu?
Theo “Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra, khảo sát di sản văn hóa khảo cổ học trên địa bàn Đà Nẵng” do Trung tâm quản lý di sản văn hóa thành phố Đà Nẵng - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng; phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tháng 3/2012; thì những di tích thuộc văn hóa Chămpa trên địa bàn Đà Nẵng là khá dày đặc trải dài từ chân núi Hải Vân, làng Nam Ô đi về phương Nam ven theo chân núi Phước Tường đến Phong Lệ, rồi theo hai bên bờ sông Cẩm Lệ lên Hòa Phong, xuống Khuê Trung, Khuê Bắc, giáp Ngũ Hành Sơn. Sau đó, theo khảo sát của chúng tôi thì vệt di tích Chămpa này tiếp tục theo sông Cổ Cò để vào Hội An, cửa Đại Chiêm.

Bản đồ di tích Chămpa (▲) trên đất Đà Nẵng.
Các di tích Chămpa được báo cáo nhắc đến là: Gò Cẩm Mít (thôn Cẩm Toại Đông, xã Hòa Phong); Chùa An Sơn (phường Hòa An, quận Cẩm Lệ); tháp Quá Giáng (thôn Quá Giáng, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang); tháp Xuân Dương (thôn Nam Ô, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu); tháp Phong Lệ (phường Hòa Thuận Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng); đình Bồ Bản (thôn Bồ Bản xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang); di tích Chămpa ở các chùa Ngũ Hành Sơn (phường Hòa Hải quận Ngũ Hành Sơn); đình Dương Lâm (Dương Lâm II, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 19 km về phía tây). Miếu bà chúa Ngọc (thôn Phước Hưng, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang); Miếu bà Khuê Trung (phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ); Làng Nam Ô (bên cạnh di tích tháp Xuân Dương to lớn, chỉ còn phần móng tháp) còn có miếu thờ bà nữ thần Chàm Bô Bô Phu Nhân và có đến trên 4 cái giếng Chămpa cổ vẫn đang được người dân địa phương sử dụng. Làng Phong Lệ, Phong Nam quê hương của hai họ Chàm là họ Ông, họ Trà cũng vậy.
Ngoài các di tích được báo cáo này nhắc đến theo chúng tôi còn cần phải kể đến: Làng Đà Sơn, của tộc Phan thì chưa tìm thấy di tích dấu vết Chămpa nhưng là quê hương của tộc Phan Đà Sơn nổi tiếng với hiện trạng là gạch Chăm xuất lộ khắp nơi. Bản đồ trên còn thiếu điếm làng Nại Hiên Đông nơi Barrow vẽ bức tranh nổi tiếng đã bàn và làng Nại Hiên Tây nơi có chiếc giếng Bông (phía nam bảo tàng điêu khắc Chămpa, Đà Nẵng có một giếng hình vuông đã được giới nghiên cứu thừa nhận thuộc hệ giếng Chàm cổ) cùng với một tên làng mang đậm dấu ấn văn hóa Chămpa. Ngoài khu vực Đà Nẵng nhưng giáp với Đà Nẵng còn cần phải kể đến khu vực Thanh Quýt (Điện Thắng) giáp Đà Nẵng cũng có miếu Bà Giàng và gạch Chàm như đã nói là có thể nhìn thấy khắp nơi. Khu vực Tây Nam Đà Nẵng, ở xã Hòa Tiến có đình làng La Bông, phía trước có đôi voi tượng Chàm; gạch Chàm thì có thể nhìn thấy ở khắp nơi. Phía sông Cổ Cò ở khu vực làng An Nông, xã Điện Ngọc (giáp với Đà Nẵng) thì có miếu Bà Giàng, chung quanh vương vãi gạch Chàm, vẫn được dân làng hương khói tu sửa.
Có nghĩa là quanh Đà Nẵng dấu vết người Chàm sinh sống là dày đặc.
Không phải chúng tôi muốn hướng đến kết luận rằng bất cứ nơi nào có dấu vết, di tích Chămpa thì nơi đó là đất của người Chàm. Điều này tất nhiên là như vậy rồi, nhưng điều chúng ta quan tâm là chính ở nơi đó người Chàm vẫn cứ ở lại hay đã bỏ đi cả, và khi đã ở lại thì họ ở đến bao giờ mới “mất đi” khỏi trên mặt đất? Ở phần này chỉ nhắm đến câu trả lời, liệu đến 1627 người Chàm có còn ở lại Đà Nẵng đông không và họ ở những đâu? Người Việt đến là đến những đâu, ở xen kẽ với người Chàm, tìm vùng đất trống lập làng hay ở ngay trong làng của dân Chàm để cai trị họ, như trường hợp Trà Kiệu, Thanh Quýt?
Đà Nẵng thực sự là đất người Chàm sinh sống từ lâu đời và chưa bao giờ họ có ý định rời bỏ đi nơi khác. Gia phả tộc Phan hai làng Đà Sơn, Đà Ly ghi rõ tiền hiền họ là Người Chăm và về sau có nhiều con cháu, chi phái tách ra sinh sống ở nhiều nơi quanh Đà Nẵng như: Đà Sơn (nay thuộc phường Hòa Khánh), Đà Ly (nay thuộc quận Cẩm Lệ), Hòa Thọ (nay thuộc quận Cẩm Lệ), Hòa Hiệp, Hòa Bắc, Hòa Liên, Phú Thượng (Hòa Sơn), Hòa Nhơn (nay đều thuộc Liên Chiểu và Hòa Vang), Mân Thái, Thọ Quang (nay thuộc quận Sơn Trà), An Khê, Mỹ Thị, Cẩm Nê (Hòa Tiến), Khuê Trung, Viêm Minh Đông (Điện Ngọc, giáp Đà Nẵng), Khái Đông (Hòa Hải), làng Phú Thượng (Hòa Sơn), làng Cổ Mân - Mân Quang (phường Mân Thái) làng Phước Trường (phường Phước Mỹ), làng Cẩm Lệ (phường Hòa Thọ Đông), làng Lỗ Giáng (phường Hòa Xuân), làng Thanh Khê (phường Thanh Khê Đông), làng Vân Dương (Hòa Liên), làng Khuê Tây (Hòa Cường), làng Phú Hòa (Hòa Nhơn), làng Cư Nhơn (xã Hòa Nhơn), làng Phong Lệ (Hòa Thọ Đông), làng Phú Sơn (Hòa Khương), làng Quá Giáng (Hòa Phước), làng Nam Ô (Hòa Hiệp Nam), làng Giáng La (Điện Thọ)… Lý thú là các phái, chi tộc Phan Đà Sơn này đều có số đời phổ biến từ 15 đến 17, 18. Không những quanh Đà Nẵng, gia phả tộc Phan Đà Sơn còn liệt kê con cháu có mặt ở hầu khắp các huyện xã của tỉnh Quảng Nam và rất nhiều nơi ở các tỉnh khác; phần lớn cũng đều có số đời như vậy. Tất cả đều hợp lý để chúng ta hình dung những làng Chàm ở quanh Đà Nẵng và họ chỉ thực sự ý thức về nguồn gốc mình khi các ông quan hộ khẩu của Chúa Nguyễn đến kê biên hộ tịch giai đoạn sau năm 1600, và buộc họ phải mang một họ nào đó. Lúc này, ở Đà Nẵng, họ Phan là họ của người Chàm.
Họ Ông làng Phong Lệ cũng là một họ lớn của người Chàm. Những phát hiện khảo cổ mới nhất cho thấy ngay cạnh nhà thờ tộc Ông là một di tích tháp Chàm cổ khá lớn, nếu không nói là lớn nhất Việt Nam(214).
(Xem thêm luận giải về trường hợp họ Ông ở “Một ký ức bị từ chối” - trang 232).
Cũng theo “Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra, khảo sát di sản văn hóa khảo cổ học trên địa bàn Đà Nẵng” thì những dấu vết thời Sơ Việt hiện được ghi nhận là các bia cổ, mộ cổ sớm nhất không có cái nào sớm hơn 1600.
Tại sao ở Đà Nẵng khó tìm thấy tộc họ nào có số đời trên 16, mặc dù đây là cửa ngõ, vùng đất phải đi qua của mọi bước chân Nam tiến kể từ 1306 hoặc 1471? Câu hỏi quan trọng nhất cần nêu ra là tại sao sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam, sau khi Nguyễn Hoàng bước qua đèo Hải Vân thì người Việt mới định cư ở Đà Nẵng, còn trước đó thì không? Thực ra thì có, ví dụ như ghi chép trong phổ chí tộc Phan làng Đà Sơn, nhưng dường như do số lượng không đáng kể trong cái “biển” dân Chàm chung quanh nên không thấy dấu ấn nào được lưu lại mãi đến khi xã Hải Châu được thành lập.
oOo
Khu vực đình làng Hải Châu có nhà thờ 42 chư phái tộc gọi là Kính Ái Từ Đường được xây dựng từ năm Gia Long thứ 2 (1804). Có nghĩa, Kính Ái Từ Đường được xây dựng là do nhu cầu của dân cư xã Hải Châu vào giai đoạn rất muộn, vì vậy trong phân kỳ lịch sử Nam tiến nó không thể mang ý nghĩa nào nhiều. Điều ngạc nhiên là cả 42 chư phái tộc chúng tôi gặp đều không tộc nào đến năm 2002 có số đời quá 17 (thế hệ cuối trên 18 tuổi), mặc dù bảng giới thiệu di tích lịch sử đình làng Hải Châu và gia phả các tộc họ đều ghi rõ là những tộc tiền hiền đã vào Nam theo Lê Thánh Tông 1471. Có nghĩa là cả 42 tộc họ không tộc nào cắm đất dựng lều ở lại trên vùng đất ven sông sình lầy, ao đầm bên cạnh những bãi cát của khu vực trung tâm Đà Nẵng nay trước năm 1600!
Trưởng tộc Nguyễn Văn, ông Nguyễn Duy Ninh, thuộc đời thứ 11, 65 tuổi, ở 98 Phan Thanh cho chúng tôi biết, kể từ đời thứ nhất đến đời thứ 5 thì không có gì chắc chắn nhưng gia phả ghi rõ đời thứ 6 có ông Nguyễn Văn Chánh làm xã trưởng xã Hải Châu vào thời Lê, niên hiệu Cảnh Hưng, không rõ năm nào (1740-1786). Tên xã Hải Châu cũng lần đầu được nhắc đến trong gia phả tộc này và ghi rõ là từ tỉnh Thanh Hóa, huyện Thanh Bình, phủ Thanh Ba, xã Hải Châu, thôn Hiếu Hiền. Cứ cho ông Nguyễn Văn Chánh thuộc đời thứ 6 làm xã trưởng vào năm 1740, thì 5 đời trước, lúc vị thủy tổ tộc Nguyễn Văn vào đất Hải Châu, nhậm chức Cổn Quan (chưa rõ) sẽ vào năm 1615; hoàn toàn trùng khớp với cách tính theo thế hệ ta vừa tính ở trên.
Thêm điều nữa, những địa danh thuộc trung tâm Đà Nẵng nay như Hải Châu, Thanh Khê, Thanh Lộc Đán, Thạch Thang, Thanh Bình, Phước Ninh, Bình Hiên, Nam Dương, Liên Chiểu, Tân Chính, Chính Gián, Thạc Gián, Bình Thuận, Hòa Thuận, Xuân Hà, Hòa Cường đều hoàn toàn không thấy ghi nhận trong Ô Châu Cận Lục cũng như các tư liệu cổ. Chỉ bắt đầu từ Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII mới thấy nhắc đến.
Xét trên tấm bản đồ chiến sự 1858 của một vị quan người Việt vẽ, và bị quân Pháp thu giữ vào ngày 15 tháng 9 năm 1858, vẽ địa hình và cách bố trí trận địa, công sự của quân ta chống lại liên quân Pháp - Tây Ban Nha, ta thấy lúc ấy, lúc Đà Nẵng vẫn còn là một làng chài, chưa là nhượng địa của Pháp, thì vùng trung tâm Đà Nẵng là một bãi cát vô cùng lớn ở ven vùng cửa sông (đường Bạch Đằng nay đến vịnh Đà Nẵng) bên những đầm lầy, kênh rạch, bàu nước do một hệ thống sông cổ nối sông Cẩm Lệ với vịnh Đà Nẵng đã bị bồi lấp từ trước khi có sông Hàn, gồm các bàu nước bắt đầu từ Đò Xu, vào bàu Hòa Cường, cống Mê Linh, đến bàu Thạc Gián, Vĩnh Trung, đến Đầm Rong ra sông Phú Lộc đổ vào vịnh Đà Nẵng; đây thực sự là một vùng đầm lầy hoàn toàn không thuận lợi cho việc sản xuất lẫn cư trú.

Tấm bản đồ chiến sự 1858, khu vực vòng bầu dục là khu vực thuộc xã Hải Châu xưa.
Có thể rút ra kết luận được không rằng cho đến trước và sau 1600, tức suốt 300 năm trước đó, người Việt di dân vào Nam đã đi qua Đà Nẵng mà không dừng lại vì một lý do đơn giản là lúc này vùng đất này người Chàm vẫn còn ở kín. Và mãi đến sau khi Nguyễn Hoàng xác định chính quyền tập quyền trên vùng đất này (1602) thì người Việt mới dừng lại và “chấp nhận” phát lau sậy cắm cọc dựng nhà ở vùng đất đầm lầy, bãi cát ven sông.
Có nghĩa là người Việt tôn trọng đất đã có chủ và không hề có ý định dùng quyền lực của kẻ cai trị để lấn chiếm hoặc dùng thủ đoạn thi thố xây tháp bằng giấy để giành chiếm đất như đã được chép trong các Bắc địa tấu từ đã biết.
Chúng tôi tin rằng đây là hiện tượng phổ quát chứ không phải chỉ ở 3 địa danh chúng tôi có điều kiện khảo sát trên. Rằng, trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam, bước chân qua đèo Hải Vân, trong vòng 300 năm, người Việt vào “khai hoang, lập ấp” là có thật vì vùng đất trù phú, được canh tác lâu đời người Chàm đang ở và họ hoàn toàn không muốn, và cả không thể, lấn chiếm. Hệ quả rút ra ở đây không phải là những làng Việt thuần chủng đến hôm nay mà là cuộc song hành của các làng Chàm - Việt ở cạnh nhau kéo dài thêm nhiều trăm năm sau đó nữa. Đó thực sự là những cụm làng đan xen theo mô hình da báo mà chúng ta đang cố công dựng lại. Và bản sắc Quảng Nam hình thành chính từ đó chứ không phải là cuộc thay thế, xua đuổi, hoặc hòa tan trong một sớm một chiều như đã được hình dung.
Và hiện tượng này, tôn trọng đất đã có chủ đang ở, các lớp người từ Bắc di dân sau khi lũy Trường Dục bị phá bỏ cũng đi thẳng vào Nam mà không dừng lại ở đất miền Trung. Và phải chăng vì thế mà người từ Nha Trang trở vào âm [a] bỗng dưng lại “chuẩn” trở lại?