Ngay sau lần in đầu và cả sau lần tái bản thứ nhất nỗi thôi thúc tôi dai dẳng nhất là câu hỏi đã đặt ra: Người Chàm đã biến đi đâu sau khi Gia Long lên ngôi? Liệu chúng ta có thể vẽ lại cái mô hình da báo xen lẫn các làng Chàm - Việt vào giai đoạn như lúc Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam năm 1602 được không? Các tư liệu hầu như không còn, chính sách đề cao lễ giáo Nho gia của Minh Mạng “Cùng chung văn hóa, cùng chung luân lý” với những thiết chế mạnh mẽ như “Thập điều” buộc mọi người dân theo cùng một nề nếp chuẩn mực lễ tục văn hóa khiến người Chàm có ở lại nhiều bao nhiêu đi chăng nữa cũng sẽ quên ngay gốc gác chỉ sau một hai thế hệ.
May mắn là gần đây, qua việc dịch và công bố tư liệu về địa bạ triều Nguyễn của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chúng ta thấy khá nhiều vùng là man, sách, tộc, trại,… vốn là những đơn vị hành chính triều Nguyễn đặt ra để quản lý những dân tộc thiểu số. Thường các man, sách, động ở miền núi, đầu nguồn là nơi cư trú của các dân tộc miền núi; nhưng trong tư liệu địa bạ này, phần lớn việc kê khai đất đai đều lại thuộc vùng đồng bằng, đất đai thuần thục, vẫn có những man, sách, tộc nằm xen kẽ với những làng xã thuần Việt, hoặc Việt lâu đời đặt ra những vấn đề lý thú giúp giải đáp phần nào những ưu tư trên.
Trong các “man sách” được ghi trong địa bạ chúng tôi thấy làng “Phú Tài tứ chánh man sách”(132) khá đặc biệt. Theo địa bạ, làng Phú Tài địa giới một mặt giáp sông Cẩm Lệ, 3 mặt còn lại giáp xã “Hóa Khuê Trung - Tây”, thuộc quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng nay. Có nghĩa là làng Phú Tài lọt thỏm giữa xã Hóa Khuê Trung Tây nhưng trong khi Hóa Khuê Trung Tây thuộc tổng Bình Thái Hạ, huyện Hòa Vang thì “Phú Tài tứ chánh Man sách” lại thuộc về Thuộc Võng Nhi.
Điều lý thú là ngay gần đó, chỉ chừng 5 cây số đường chim bay, ta lại có một man sách nữa là Liên Trì Man Sách, nay thuộc phường Phong Lệ Bắc, huyện Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng. Đây là nơi có họ Ông nổi tiếng và gia phả của họ tự nhận rằng tiền hiền của họ là một người Chàm.
Theo Nguyễn Đình Đầu thì hai từ “man” và “mọi” đều cùng một nghĩa, nếu man là cách nói của người có chữ thì mọi là cách nói của đời sống cộng đồng, hoàn toàn không có nghĩa miệt thị như sau này nhiều người nghĩ.
Liệu có thể biết vào thời đó, tức lúc lập địa bạ năm 1812, những làng “man sách” này chiếm vị trí gì trong cộng đồng dân cư nói chung khu vực Đà Nẵng nay không?
Năm 1888, Đà Nẵng mới thành thuộc địa của Pháp và bắt đầu xây dựng khu vực trung tâm thành phố như hiện nay, chứ lúc đó, 1812, thì khu vực sầm uất nhất của Đà Nẵng chính là bến đò Cẩm Lệ chứ không phải khu vực chợ Hàn chợ Cồn như hiện nay.
Để thêm hình dung về khu vực này chúng tôi xin giới thiệu hai tấm ảnh sau. Một do bác sĩ William Alexander (1767-1816). Bác sĩ, luật gia, họa sĩ, thành viên của phái bộ đi trên tàu của John Barrow vẽ bến đò Đò Xu, Cẩm Lệ năm 1793, nơi rất gần với khu vực làng “Phú tài tứ chánh man sách” và một là bức bưu ảnh chụp một nhóm người An Nam ở Đà Nẵng năm 1906.
Ở hình bên, tác giả chú thích là thuyền bè trên sông Faifo, thế nhưng nhìn hình dáng các núi và thế sông cũng như logic về con đường thiên lý Bắc Nam phải băng qua sông Cẩm Lệ (Trong phủ biên Tạp Lục thuế đò bến sông Cẩm Lệ thu được cao nhất vùng Quảng Nam), và nhất là hai ngọn núi phía sau, một là Hòn Tàu và một là núi Chúa ta biết đó là vị trí nhìn ở ngã ba sông Cổ Cò, sông Cẩm Lệ và sông Hàn nay. Hình như con tàu của Barrow đã dừng ngay vị trí cầu Tuyên Sơn hiện nay để vẽ bến đò này.

Ở Hội An các ngọn núi này hiện ra với hình dáng khác đi nhiều.
(Xem thêm phụ lục: Bức tranh “Thuyền trên sông Faifo” trong sách Barrow được vẽ ở Đà Nẵng hay Hội An? - trang 273).
Một câu hỏi khác cần phải trả lời là “Phú Tài tứ chánh man sách” ấy một dân tộc Man nào lại có thể định cư ngay trên điểm “yết hầu” của con đường cái quan huyết mạch bắc nam như vậy? Thật khó có thể nghĩ đó là một làng người Catu hoặc Mơ Nông ở giữa một làng Việt thuộc Đà Nẵng nay vào năm 1812 như vậy. Chưa có điều kiện để khảo sát thật kỹ làng Phú Tài này nhưng các tư liệu về làng Khuê Trung đều cho thấy đây là một điểm dân cư đông đúc của người Chăm xưa với dày đặc các phế tích Chăm như tháp Chăm Hóa Quê, giếng Chăm, bia Chăm Khuê Trung và ngay man sách Liên Trì ở cách đó vài cây số cũng vậy, nơi của họ Ông nổi tiếng và với với phế tích ngôi tháp Phong Lệ lớn nhất Việt Nam vừa được phát hiện.
Trong sách “Di tích Chăm ở Đà Nẵng và những phát hiện mới” tác giả Võ Văn Thắng nhận định: “Các man, sách ở vùng đầu nguồn là nơi cư trú của các dân tộc miền núi; man sách ở ven sông, ven biển như “Phú tài tứ chánh man sách” ắt phải là nơi cư trú các dân tộc miền biển”(133).
Tôi không hiểu có khó khăn gì khi bảo đó là một làng người Chăm vẫn bảo lưu lối sống của họ giữa một làng người Việt ở Khuê Trung cho đến lúc lập bộ địa bạ làng này vào năm 1812. Liệu khi bảo rằng đó là một làng cư trú của dân tộc “miền biển” thì vấn đề nó dễ chấp nhận hơn là một làng Chàm bảo lưu chăng?
Làng Phú Tài là một làng Chăm, không thể khác. Họ đã kiên trì gìn giữ ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc mình suốt từ 1306 cho đến lúc đó, 1812.
Rõ ràng đây là một khu thị tứ đông đúc và sầm uất. Vấn đề đặt ra là tại sao một làng man lại nằm ngay cạnh cái bến đò thị tứ sầm uất này? Liệu chăng qua điều này chúng ta vẫn có thể hình dung được phần nào sự tôn trọng của người Việt đối với những cộng đồng dân tộc khác ở ngay bên cạnh mình? Và thậm chí giúp ta hình dung nên vai trò của người Chàm ở lại trong đời sống xã hội của miền Trung, chí ít là Quảng Nam lúc đó? Phải chăng đến lúc này 1812 họ vẫn là cộng đồng chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống, nắm giữ những ngành nghề then chốt của một vùng thị tứ lớn như đò ngang, đò dọc chẳng hạn?
Và còn hơn thế nữa đến đầu thế kỷ XX, ở bức ảnh này, “Một nhóm người An Nam ở Tourane”, được xác định thời gian vào tháng 12 năm 1906. Chúng ta thấy hình như họ vẫn giữ gìn được những nét văn hóa bản sắc dân tộc mình chí ít là trong y phục mặc dù dưới triều Nguyễn đã nhiều lần bắt họ phải từ bỏ loại xà rông này.

Rõ ràng thứ y phục phần dưới họ mặc bảo là quần lá tọa thì chắc chắn không phải, mà bảo là váy thì đó cũng không hẳn là váy.
Nhìn dáng của nó, nhất là cậu bé thứ hai bên trái, và ảnh bốn người đàn ông bên bức tường, thì không thể phủ nhận sự giống với cái váy kama của người Chàm xưa. Hình như đây là bằng chứng về một giai đoạn chuyển hóa Chàm Việt khá mạnh ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Họ, những người Chàm, đã ở lại, đã kiên trì gìn giữ chiếc váy truyền thống của cha ông mình suốt từ khi vùng đất này thuộc về Đại Việt từ 1306, nhưng đến lúc này 1906, tức 600 năm, thì chiếc váy kama lúc đó mới bắt đầu biến tướng và chẳng bao lâu nữa thì mất hẳn, họ, cũng vẫn những con người đó nhưng đã thành Việt, thành người Kinh hoàn toàn.

Ở “Địa bạ triều Nguyễn”, phần dinh Quảng Nam tổng cộng có 7 man sách; ngoài ra còn có 17 đơn vị hành chính được gọi là “Tộc” như Phú Túc tộc, Nại Hiên tộc… Phú Túc nay là một xã miền núi phía tây Đà Nẵng giáp với huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam, có nhiều người Ca Tu đang sinh sống. Điều này có giúp chúng ta hiểu thêm về dân cư của Nại Hiên tộc không? Nại Hiên ở Đà Nẵng có hai làng là Nại Hiên Đông và Nại Hiên Tây. Nại Hiên Tây là khu vực gần Bảo tàng điêu khắc Chăm hiện nay, nơi có giếng Chăm. Và Nại Hiên Đông là nơi bác sĩ William Alexander vẽ bức tranh chúng tôi đã bàn đến rất nhiều trong sách này. (Xem thêm: “về bức tranh một nhóm người Đàng Trong” trang 97). Dân cư làng Nại Hiên là gì mà được địa bạ triều Nguyễn xếp vào loại “Tộc”?
Vâng, dần dần, với những tư liệu và phương pháp tiếp cận mới chúng ta sẽ nhận ra đâu là những làng Chàm bảo lưu thời đầu các vua Nguyễn; và nếu như lúc nào đó vẽ được tấm bản đồ da báo các làng Chàm Việt ấy trên đất Quảng Nam vào những năm đầu thế kỷ XVII, lúc Nguyễn Hoàng đặt chân lên đất Quảng Nam, chúng ta sẽ rõ có một bức tranh rõ ràng hơn về sự phát triển, chuyển hóa rồi hòa nhập của cộng đồng hai dân cư mang dấu ấn hai nền văn hóa khá khác nhau này.