Sau 1407, Chiêm Thành hoàn toàn kiểm soát vùng đất Nam Hải Vân cho đến 1446.
Kỷ thuộc Minh, năm 1414 Trương Phụ và Mộc Thạnh nhà Minh chiêu dụ, vỗ về Tân Bình (Quảng Bình nay) và Thuận Hóa (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế nay), chia đặt quan cai trị để cùng làm việc với thổ quan, khám xét nhân khẩu, gộp làm sổ bộ. Phủ Thăng Hoa (Quảng Nam, Quảng Ngãi nay) tuy có đặt quan, nhưng Chiêm Thành vẫn có trưởng lộ chiếm giữ cai trị, nên nhà Minh chỉ ghi tên không mà thôi”(167).
Thời nhà Lê, năm 1435 sứ thần Chiêm Thành đến cống, vua sai hỏi: “Đồng ruộng các xứ Thổ Lũy (Chiêm Động và Cổ Lũy) của nước Chiêm ngươi vốn là đất của ta. Các ngươi nhân lúc nước ta nhiều biến cố (quân Minh xâm lược), cướp lấy để tự vỗ béo mình. Tới nay vẫn không nói đến trả. Lễ cống hằng năm lại không nộp là tại làm sao?”(168). Đây là chi tiết quan trọng khiến ta có thể chắc chắn rằng đến lúc này người Chàm vẫn hoàn toàn kiểm soát vùng đất Nam Hải Vân.
Trong 40 năm ấy Chiêm Thành nhiều lần đem quân cướp phá thành Hóa châu(169).
Vấn đề lý thú nữa, theo quan điểm phân kỳ lịch sử, thì cuộc gieo hạt giọng Thanh Hóa dưới 5 năm ngắn ngủi của triều nhà Hồ trên vùng đất Châu Thăng, Nam Quảng Nam ấy sẽ không đem lại kết quả như đã có, một khi nó không bị cắt đứt vào năm 1407. Hãy thử hình dung, nếu nhà Hồ trường tồn như các triều đại khác, chừng 200 năm, người Việt nói chung và người Thanh Hóa nói riêng, vào thêm càng ngày càng đông thì chẳng có lý do gì để người Việt phải chuyển đổi giọng nói của mình trên quê hương mới. Hiện tượng như vậy ta có thể thấy rõ ở phần đất thuộc Châu Hóa, phía bắc Hải Vân. Ngay sau 1306 thành Châu Hóa được xây dựng và suốt từ đó về sau thành Châu Hóa luôn được nhà nước Đại Việt kiểm soát: Năm Đại Trị thứ 5 đời Trần Dụ Tông (1362), sai Đỗ Tử Bình sửa sang thành này(170). Từ đó đến 1402 Châu Hóa chỉ bị Chiêm Thành kiểm soát 13 năm (1377-1390) dưới thời Chế Đồng Nga. Ngay dưới thời thuộc Minh, Châu Hóa là căn cứ địa của hai vua Hậu Trần và qua câu nói của Trương Phụ (tướng nhà Minh): “Ta sống cũng vì Châu Hóa, chết làm ma cũng vì Châu Hóa, chưa dẹp được Châu Hóa ta còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng”(171) cho ta thấy suốt trong thời thuộc Minh, Châu Hóa cũng được kiểm soát khá chặt chẽ. Quân Chiêm Thành những tưởng nhà Minh sẽ trả lại Châu Hóa cho mình thế nhưng điều đó đã không xảy ra. Sang đến thời nhà Lê, Chiêm Thành nhiều lần đem quân quấy nhiễu Châu Hóa thế nhưng đều bị triều đình nhà Lê cử người đi đánh dẹp.
Có nghĩa rằng giai đoạn này hoàn toàn không có cuộc di dân nào của người Việt đến vùng Nam Hải Vân (tức Điện, Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa).
Đây là lát cắt đứt với mạch nguồn bản quán lần thứ hai đáng chú ý tạo nên quãng thời gian cần thiết để những nét văn hóa tính cách mới hình thành có điều kiện ổn định để tạo thành bản sắc, mà khi đã thành bản sắc thì khó phai mờ.
Năm 1446 quân Đại Việt đánh tới Chà Bàn, kinh đô Chiêm Thành, bắt vua Chiêm là Bí Cai và các phi tần, bộ thuộc, voi ngựa cùng các hàng tướng rồi đem quân về. Đây là chiến thắng rất lớn và quan trọng thế nhưng ít được nói đến. Vua quan triều đình Chiêm Thành hoàn toàn do Đại Việt sắp xếp(172). Đất Thăng Hoa được thu lại. Đường biên giới của Đại Việt không mở rộng thêm thế nhưng kể từ đó, các châu Thăng, Hoa, Tư Nghĩa (Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay) đã hoàn toàn thuộc về Đại Việt. Hay nói cách khác, tiếng Việt lại trở thành ngôn ngữ chính ở vùng đất này. Giọng nói của người Chàm nói tiếng Việt trong 40 năm bị cắt rời khỏi mạch nguồn, giờ được sử dụng nhiều hơn và đã trở thành phổ biến đến mức khó mà thay đổi được nữa.
Phải chăng chính 40 năm bị cắt rời khỏi mạch nguồn ấy nên nảy sinh ra hiện tượng mà Giáo sư Cao Xuân Hạo đã nói: “Trong các phương ngữ của tiếng Việt mà chúng ta từng biết không có một phương ngữ nào cho thấy một sự chuyển đổi nguyên âm đi xa như vậy. Khi tôi (CXH) trình bày một số hiện tượng trên đây cho A.G. Haudricourt, nhà ngôn ngữ học Pháp thấy đó là một điều lạ không những đối với các phương ngữ của tiếng Việt mà ngay cả đối với toàn thể khối ngôn ngữ trên bán đảo Ấn-Chi, vì ở khu vực này các hệ thống nguyên âm, dù là những thứ tiếng khác nhau về nguồn gốc, đều rất giống nhau và đã tỏ ra rất bền vững trong lịch sử; ở khắp vùng Đông Nam Á, theo Haudricourt, hình như chưa từng thấy ở đâu có miêu tả một sự chuyển đổi đi xa như vậy”(173).
Và khi mà số lượng người Chàm và kể cả người Việt định cư đến 5-6 đời chuyển sang nói cùng một giọng nói với số lượng đủ lớn, đủ đông buộc những người di dân vào sau cũng phải chuyển giọng để hòa nhập, thì nó đã thực sự trở thành một phương ngữ, không thể thay đổi được nữa.
Tóm lại, giai đoạn từ 1306 đến 1471, qua sự thể hiện chủ quyền của người Việt trên hai vùng đất Bắc và Nam Hải Vân mà ta có thể rút ra:
1/ Người Chàm ở Bắc Hải Vân (thuộc Thừa Thiên - Huế ngày nay) luôn là số ít nên ngôn ngữ, giọng nói phải biến mất và hòa vào ngôn ngữ, giọng nói chung là phương ngữ II (tức giọng Châu Hóa, khu 4 cũ, hay giọng Nghệ An - Huế nay). Hơn nữa, Bắc Hải Vân (tức phần lớn Châu Hóa), không bị sự cố 1407 “Đến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ dân di cư sợ chạy tan cả”(174). Chính việc không bị cắt đứt với mạch nguồn quê hương bản quán mà những người Việt ở Châu Hoan, Châu Ái di dân vào Châu Hóa bảo lưu được chất giọng của mình, và đó là bước mở rộng của phương ngữ II đến chân đèo Hải Vân(175).
Cần nhớ rằng Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ năm 1407), thì đất cũ, hay đất Chiêm Thành thu lại đó là ý nói vùng Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; tức là vùng đất Nam sông Thu Bồn; và có thể mở rộng đến cả Bắc sông Thu Bồn, tức đến chân núi Hải Vân. Vùng đất Bắc Hải Vân vẫn thuộc cai trị của nhà Minh.
Khi so sánh với hiện tượng văn bản Thủy Thiên chúng tôi nhận ra vùng Quảng Trị đã thực sự không bị tác động bởi sự kiện cắt đứt với mạch nguồn bản quán năm 1407 như các địa phương Nam Châu Hóa, rõ nét hơn là Nam Hải Vân. Và chắc chắn yếu tố này quyết định không nhỏ đến sự khác nhau giữa giọng nói hai miền “Huế và Quảng”.
2/ Người Chàm ở Nam Hải Vân đến sông Thu Bồn là số đông, người Việt đến đó là số ít nên phải chấp nhận cách nói tiếng Việt của người bản địa. Người Việt đến đây từ 1306 nhưng luôn là số ít bởi người Chàm không hề mất quyền kiểm soát vùng đất này cho đến 1446, ngoại trừ 5 năm dưới thời Hồ Quý Ly. 150 năm đất Việt nhưng người Chàm ở và kiểm soát. Thời gian hình như “cũng đủ” để người Chàm nói tiếng Việt trong môi trường số lượng người Việt không ít. 150 năm thời gian hình như cũng đủ để những người con Việt không còn “thuần chủng”, và tất cả hòa lại dưới lớp vỏ, lớp áo, theo cả nghĩa đen là người Việt thế hệ con cháu, hoặc cả thế hệ lai đều sử dụng trang phục, áo quần, cách ăn, cách ở và cả giọng nói tiếng Việt của người Chàm đậm đà đến mức năm 1435 Lý Tử Tấn chép vào Dư Địa Chí: “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm”.