Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 555 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8.1 Chính sách “cùng chung văn hóa, cùng chung luân lý” của Minh Mạng và sự biến mất của người Chàm trên đất Quảng Nam

❊ ❊ ❊

Nhà nghiên cứu người Hàn Quốc Choi Byung Wook trong công trình nghiên cứu “Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng” gọi rõ đây là chính sách đồng hóa của Minh Mạng; theo tôi ý thức về sự đồng hóa của Minh Mạng là không rõ rệt, ông là người tôn sùng Nho Gia và ông muốn áp dụng những chuẩn mực tư tưởng và văn hóa đã được kiểm chứng qua sự tồn tại qua hơn 2.000 năm ấy vào đất nước rộng lớn, chưa bao giờ rộng lớn hơn trước đó, mà mình cai trị; và tôi muốn dùng lời của ông trong chiếu dụ sau đây để làm tên gọi cho chương này mặc dù cũng thừa nhận từ “đồng hóa” là rõ ràng và đầy đủ hơn: “Thổ dân đã ở trong sổ hộ khẩu, từ nơi tối tăm ra nơi sáng láng, nên khai hóa dần dần, mới hợp với nghĩa đem văn minh biến đổi man rợ… Lại hạ lệnh cho các thổ dân học tập ngôn ngữ phong tục người Kinh, quen tai quen mắt lâu ngày sẽ có cơ hội đồng hóa, không cần quá vội… Như thế, làm việc có thứ tự, sẽ thấy phong tục dù khác nhau, cũng dần dần đổi thành tốt đẹp, cùng chung văn hóa, cùng chung luân lý vậy”(113).

oOo

Đến đây, như đã thấy, mọi con đường đều dẫn đến câu hỏi quan trọng cần phải được trả lời: Họ, người Chàm, đã biến đi đâu sau 1802? Trả lời câu hỏi này cũng có nghĩa ta sẽ trả lời được tại sao ký ức của một dân tộc lại bị lãng quên đến vậy; tại sao niềm tự hào văn hóa, tự hào dân tộc mà họ đã kiên trì gìn giữ suốt hơn 500 năm lại có thể biến mất không dấu vết, thậm chí còn tệ hơn, vẫn còn đầy ra đó nhưng không ai thừa nhận, một mực bảo chỉ là sự tiếp thu, có nghĩa là từ bên ngoài vào, chứ không hay rằng đó chính là mình chứ không phải của nền văn minh đã mất nào!

Như đã nói nhiều, đến 1793, qua các bức tranh và sự mô tả trong sách của J. Barrow ta biết người Chàm và phong tục người Chàm vẫn còn bảo lưu nhiều ở vùng quanh Đà Nẵng. Nếu trước 1802 người Chàm giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình một cách lâu dài có thể là do xứ Đàng Trong chưa từng một ngày hòa bình kể từ khi thuộc Việt năm 1306. Chiến tranh, nội chiến, biến động chính trị xảy ra triền miên kéo dài, không một ngày yên ổn ở vùng đất này. Trước 1471 là các cuộc chiến tranh Chàm - Việt, sau đó các cuộc chiến do nhà Mạc rồi đến Trịnh - Nguyễn rồi Nguyễn - Tây Sơn. Nếu có thời nào đó yên ổn, không có chiến tranh như một số năm sau khi có lũy Trường Dục dưới thời các chúa Nguyễn thì Đàng Trong nói chung và Quảng Nam nói riêng đều nằm dưới chế độ quân quản, lấy an ninh làm trọng chứ chưa bao giờ có một chính quyền dân sự đúng nghĩa chú ý nhiều đến việc xây dựng phong hóa. Chính điều này, có thể nói như cái nôi để người Chàm bảo lưu được nền văn hóa truyền thống của mình, chí ít là trong ngôn ngữ, ăn mặc, nhà cửa. Thế nhưng chỉ trăm năm sau khi Gia Long lên ngôi thì mọi nét văn hóa Chămpa đều biến mất. Trong lần in đầu chúng tôi đã đồ chừng rằng đó chính là vì những chính sách đồng hóa của các vua Nguyễn, nhất là sự khởi xướng và quyết đoán từ Minh Mạng; và trong lần tái bản này chúng tôi mới có dịp để tập trung sự chú ý của mình vào các chính sách cũng như mô hình xã hội, chuẩn mực đạo đức mà Minh Mạng đã hướng đến để xây dựng có phải là những tác nhân chính thủ tiêu những nét văn hóa người Chàm trên vùng đất “cận kinh sư” này hay không.

Minh Mạng là ông vua tôn sùng Khổng Tử, đề cao Nho giáo là quốc giáo, nền pháp chế một mực đi theo các chuẩn mực Nho gia; các chỉ dụ chiếu dụ của ông không nhắc đến vua Nghiêu vua Thuấn thì cũng Khổng Tử, Mạnh Tử, không Tứ Thư cũng Ngũ Kinh… và điểm quan trọng nhất của hệ thống tư tưởng này chính là thái độ xem thường hoặc khinh miệt tất cả các chuẩn mực văn hóa khác nằm ngoài hệ quy chiếu của mình, gọi đó là man di, lạc hậu, đi ngược thuần phong mỹ tục, cần được giáo hóa. Chúng ta hãy xem đạo dụ ông ban năm Minh Mạng thứ 21, 1840, về việc học sau đây để thấy nhân sinh quan Nho giáo của ông là sâu sắc đến như thế nào: “Vua Nghiêu vua Thuấn giữ đạo trung, vua Vũ vua Thang dựng đạo lớn để dạy dân đều là việc học. Những việc chỉnh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, thật không có việc học nào lớn hơn thế”(114).

Suốt 21 năm ngồi trên ngai vàng gần như không năm nào ông không nhắc bộ Lễ chú ý khen thưởng những người vì trung, trinh, tiết, nghĩa hoặc hiếu, thuận, hạnh, trinh trong lối sống và gọi đó là “để làm hưng khởi phong tục tốt đẹp tinh túy(115)”. Năm Minh Mệnh thứ 9, 1828, Trấn thần tỉnh Quảng Nam là Đặng Chương vào tâu, nhân việc Hoàng đế ban dụ rằng: “Các người có trách nhiệm chăn dân, nên nghĩ đến việc tuyên dương giáo hóa, dạy trước điều lễ nhượng, bảo rõ việc nên ưa ghét, để làm hưng khởi phong tục tốt đẹp, tinh túy”. Sau đó sai bộ Lễ đặt ra việc cấp biển ngạch khen thưởng những người có Hiếu, Thuận, Hạnh, Trinh; mỗi danh hiệu đều được cấp biển lớn có khắc chữ “Hiếu hạnh khả phong”, “Hiếu thuận khả phong”, “Hạnh nghĩa khả phong”, “Trinh tiết khả phong”. Hệ quả của việc này là gì nếu không phải để đề cao những chuẩn mực lễ giáo phong kiến của Khổng Nho. Người Chàm với phong tục mẫu hệ, văn hóa Ấn Độ không chú ý nhiều đến việc trung trinh thì bị gọi dâm tà, phong tục lạc hậu cần được giáo hóa(116) còn tìm đâu được chỗ đứng dưới ánh mặt trời này nữa!

Không chỉ là những lời khuyên bảo, năm 1835, Minh Mạng còn ban ra hẳn sách “Thập Điều” (10 điều răn) như cẩm nang bỏ túi phổ biến toàn quốc cho toàn dân theo đó học tập, noi theo:

1/ Đôn nhân luật: Trọng tam cang ngũ thường.

2/ Chính tâm thuật: Làm việc gì cũng cốt phải giữ bụng dạ cho chính đáng trong sạch.

3/ Vụ bản nghiệp: Giữ bổn phận, chăm chỉ với nghề của mình.

4/ Thượng tiết kiệm: Đặt chữ tiết kiệm lên trên hết trong mọi việc.

5/ Hậu phong tục: Giữ cho phong tục được thuần hậu.

6/ Huấn tử đệ: Phải dạy bảo con em.

7/ Sùng chính học: Chuộng học đạo chính nghĩa.

8/ Giới dâm thắc: Răn giữ những điều dâm tà.

9/ Thân pháp thủ: cẩn thận mà giữ pháp luật.

10/ Quảng thiện hạnh: Rộng sự làm lành.

Hoàng đế truyền mệnh cho khắc in để ban hành, “đặt ra chế độ tháng mạnh xuân thì quan tuyên lệnh rao truyền ở ngoài đường, tháng giêng thì quan châu trưởng tuyên đọc pháp chế, khiến cho nhà nhà hiểu rõ”(117). Sau đó sai bộ Lễ soạn “Nghi chú” tức hướng dẫn thực thi nội dung như sau: “Phàm trong kinh và các ngoài tỉnh, cùng các phủ, huyện, châu và Quốc tử giám, học chính, giáo thụ, huấn đạo, khi có huấn điều đưa đến đều phải chọn ngày lành để tuyên đọc một lần. Đến ngày đã định, đều đặt một cái án sơn đỏ ở gian giữa cung đình, đem nguyên bản đặt lên. Các quan phủ, huyện, châu trong địa phương tề tựu; các quan văn võ, học thần cũng đều tề tựu; các học trò đang theo học đều khăn áo chỉnh tề, đến sân lạy 5 lạy, rồi chia ngồi hai bên. Trưởng quan tuyên đọc, trước giảng lời dụ chỉ, sau giảng đến huấn điều, diễn dịch từng câu, cốt cho nghĩa lý rõ ràng tường tận, để người nghe có thể hiểu rõ và có thể tiếp thu đại khái được. Giảng xong lại để nguyên bản lên án, lạy 5 lạy rồi lui ra…. Từ đó, hằng năm các địa phương thì chọn ngày lành mà hội giảng theo nghi tiết… các thôn xã cứ nhằm ngày mùng 1 trong 4 tháng quý (tức tháng 3, tháng 6, tháng 9, tháng 12) đặt làm kỳ hạn, đều họp ở đình, một người trưởng mục hoặc hương thân có văn học đứng ra tuyên đọc; nhân dân ngồi yên mà nghe giảng. Việc bày án cũng làm như trên”(118).

Hai năm sau, 1837, Minh Mạng lại nhắc đến 10 điều răn này trong một chiếu dụ khác: “Việc thay đổi phong tục phải làm dần dần, mới hợp với thành hiệu của vương đạo. Nay chuẩn cho các quan địa phương phải đem những huấn điều đã ban bố từ trước (tức nhắc đến Thập điều răn) ra khuyên bảo nhân dân luôn luôn”(119). Điều này có nghĩa là Thập điều đã thực sự được phổ biến đến toàn dân, đến từng mỗi thôn xóm. Vấn đề là những sinh hoạt này tác động thế nào đến đời sống nhân dân các làng Chàm còn lại trên đất Quảng Nam Đà Nẵng? Nó có góp phần làm mai một dần niềm tự hào văn hóa mà cha ông họ đã dẳng dai gìn giữ suốt nhiều trăm năm qua? Hỏi tức là trả lời, người Chàm còn lại thật khó mà bảo lưu được vẻ đẹp văn hóa dân tộc mình khi mà trong xã hội, từ quan chí dân, từ vua trên cao không thấy mặt đến người hàng xóm gặp nhau mỗi ngày đều đặt họ vào vai trò cần giáo hóa, cần phải hiểu biết “mỹ tục thuần phong” theo quan điểm Nho giáo. Đó là chưa nói lúc này chính những người Chăm cũng đã bắt đầu học chữ Nho, chữ của thánh hiền, nghĩa của luân lý rồi bước ra làm quan và quay lại giáo huấn chính người dân của họ cần phải thay đổi phong tục theo niềm tự hào của nhà nho.

Và đây là một sắc chỉ của Minh Mạng về việc khuyến khích người Man, người bản địa học chữ Hán để ra làm quan: “Thổ dân đã ở trong sổ hộ khẩu, từ nơi tối tăm ra nơi sáng láng, nên khai hóa dần dần, mới hợp với nghĩa đem văn minh biến đổi man rợ… Lại hạ lệnh cho các thổ dân học tập ngôn ngữ phong tục người Kinh, quen tai quen mắt lâu ngày sẽ có cơ hội đồng hóa, không cần quá vội… Như thế, làm việc có thứ tự, sẽ thấy phong tục dù khác nhau, cũng dần dần đổi thành tốt đẹp, cùng chung văn hóa, cùng chung luân lý vậy”(120).

Khi đi chơi chùa Thiên Mụ năm 1836, xem đàn chay, Minh Mạng bảo thị thần rằng: “Họ Thích (tức Thích Ca, hay ý nói chung về đạo Phật), dùng thần đạo để đặt ra tôn giáo, còn giáo lý của Khổng Tử là mối luân thường dùng đến hằng ngày. Song điều cốt yếu đều dạy người làm thiện… Họ Thích lấy họa phúc báo ứng làm phép dạy, không thể nhất thời cho là dị đoan”(121).

Đọc những lời này của Minh Mạng ta hiểu ông là người chỉ biết Nho học, hiểu biết rất ít về Phật giáo; Phật giáo trong mắt ông cũng chỉ làm thiện lấy phước, không hơn cách hiểu của các bà già miệng móm mém nhai trầu là mấy. Chính vì lý do này, khi mà con người ta đã tin vào các chuẩn mực về luân thường đạo lý của Khổng Tử, Nho gia (tam cang ngũ thường, tam tòng tứ đức; nhân lễ nghĩa trí tín) và xem đó là thước đo văn minh thì việc xem các nền văn hóa khác là man di, các tôn giáo khác là dị đoan hay cuồng tín cần phải được giáo hóa thay đổi cho cùng phong tục là hệ quả tất yếu, không thể khác.

Minh Mạng là người tự tin, quyết đoán. Việc ra lệnh đốt sách “Lê sử tục biên” cho ta thấy ông khá tự tin trong các quyết sách: Cấm dân gian chứa dấu riêng bộ “Lê sử tục biên” (còn gọi là “Lê sử bản kỷ tục biên”) với lý do rằng: “Từ ngày nhà Lê trung hưng trở về sau, quyền bính thuộc về họ Trịnh. Vua nhà Lê chỉ giữ khí dụng suông. Những việc ghi chép trong “Lê sử tục biên” đều là tôn họ Trịnh và ức chế nhà Lê, định phận đảo điên, không có gì quá hơn thế nữa. Nếu cất giấu bộ sử ấy đế truyền riêng cho nhau xem sẽ đưa đến việc đắm đuối lòng người. Vậy thông dự cho quan lại sĩ dân nếu nhà ai còn cất giấu bộ “Lê sử tục biên” đều phải đưa lên quan để tâu, rồi đốt”(122).

Đạo Phật đã vậy, đến sách sử thời Lê - Trịnh cũng phải chịu số phận như vậy thì thử hỏi những làng Chàm còn bảo lưu văn hóa của mình sau 500 năm vào đâu được nữa để không bị gọi là lạc hậu, man di mọi rợ? Dầu đã cố gắng nhiều nhưng chúng tôi vẫn chưa thể tìm ra những sắc chỉ hoặc sắc dụ cụ thể nào của các vua triều Nguyễn, nhất là Minh Mạng, về điều chỉnh lối sống phong tục văn hóa của những người Chăm ở vùng đất Quảng Nam Đà Nẵng; thế nhưng xét cho cùng, trong văn hóa, nếu cưỡng bức thay đổi thì chưa chắc sẽ hiệu quả bằng việc “Việc thay đổi phong tục phải làm dần dần, mới hợp với thành hiệu của vương đạo” như Minh Mạng chủ trương.

Tỉnh Quảng Nam tâu có người thọ đến 110 tuổi. Bộ Lễ tâu lên vua rằng: “Thật nhờ Hoàng thượng thu góp phúc đức đem ban cho dân khiến người đời nay tiến lên cõi thọ. Miền đất gần kinh kỳ (Quảng Nam cách Huế chỉ một con đèo), nhớ ơn hàm dục, mới có bậc cao niên ấy, thật là phúc lành cho nước sống lâu… Hoàng đế cho lời tâu ấy là phải”(123). Ở đây chữ “hàm dục” có nghĩa là “lấy giáo dục mà chuyển dời phong tục tỉnh Quảng Nam có phong tục gì xa lạ với đạo quân tử, với lễ nghĩa Khổng Mạnh mà vua phải dùng đến nghĩa “lấy giáo dục mà chuyến dời phong tục”! Câu hỏi này chắc chắn sẽ chạm đến lòng tự hào giòng dõi Việt tộc của các vị trưởng thượng, hào mục xứ Quảng Nam thế nhưng lại cho chúng ta biết về cái nhìn của Minh Mạng và các vị quan trong triều về cái xứ đàn ông còn mặc váy, đàn bà còn cởi trần này.

Khi nghĩ rằng mình đã chuẩn về đạo lý người ta cũng sẽ nghĩ mình đã đạt sự văn minh chuẩn mực về cả các phong tục lối sống khác. Minh Mạng nhiều lần ra sắc dụ chỉnh sửa y phục, chúng ta hãy đọc những lập luận của ông khi ban bố những sắc lệnh này: “Ngày trước từ Linh Giang trở ra Bắc, dân vẫn mặc y phục như tục cũ. Đã ban dụ truyền lệnh sửa đổi theo y phục từ Quảng Bình trở vào miền trong để phong tục đồng nhất… Vả lại, từ tỉnh Quảng Bình trở vào Nam mũ khăn quần áo đều theo cách của nhà Hán, nhà Minh, xem khá tề chỉnh… Hạn trong năm nay phải nhất tề thay đổi. Nếu đầu năm sau còn giữ theo y phục cũ sẽ bị tội”. Cùng việc lệnh đốt “Lê Sử Tục Biên”, đây rõ ràng là một sự tự tin thái quá. Ngay lúc đó, tỉnh thần Lạng Sơn, nơi có nhiều sắc dân thiểu số, y phục khác nhau đã tâu lên rằng: “Y phục trong dân gian vượt quá phép tắc, xin cấm lệ này”(124).

Năm Minh Mệnh thứ 8, 1827, truyền mệnh cho dân châu Bố Chánh, dinh Quảng Bình (tỉnh Quảng Bình nay) đổi y phục. Hoàng đế phán bảo bộ Lễ rằng: “Châu Bố Chánh là đất phụ thuộc về kinh kì, nhưng y phục của dân gian vẫn còn khác biệt, không hợp với nghĩa cùng chung quê quán, cùng chung phong hóa. Hạ lệnh cho dinh thần Quảng Bình truyền bảo khắp dân gian trong châu, phải mặc quần áo theo đúng cách thức với dân ở sông Linh Giang trở vào miền trong, khiến cùng chung phong tục”(125).

Chúng ta chưa hiểu tại sao dân Quảng Bình lại phải chịu một sắc lệnh riêng về y phục như thế này. Việc thay đổi y phục với người dân miền Bắc thì sau lần này 10 năm Minh Mạng cũng đã có một sắc chỉ nữa về việc đàn ông mặc khố, thế nhưng với Quảng Bình thì chúng ta chưa hiểu Minh Mạng muốn phê phán lối y phục nào. Cần nhớ trong dân gian thời này cũng đã hình thành câu ca dao qua đó có thể lý giải, giúp ta hiểu phần nào sắc chỉ của Minh Mạng:

Quảng Bình là đất Ô Châu

Ai đi đến đó quẩy bầu về không.

Đề cao lễ giáo nhà Nho, xiển dương không thôi sống theo chuẩn mực phong kiến Nho giáo, luôn quy định cách ăn mặc, thờ cúng, lễ hội trên các chuẩn mực Khổng Mạnh, cổ súy việc học chữ Hán nói tiếng Kinh… như vậy đã đủ chưa một chính sách “cùng chung văn hóa, cùng chung luân lý” mà Minh Mạng theo đuổi để rồi nhất thống cả xứ Quảng Nam thành một nền văn hóa lấy các chuẩn mực Trung Hoa làm trung tâm, tự hào với gốc gác xa xôi nào đó bên Tàu chứ dứt khoát không chịu một mối quan hệ cận huyết nào với người “man di” sát bên bờ rào nhà mình, làng mình?

(Xem thêm “Một ký ức bị từ chối” trang 232)

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.