Khi khảo sát giọng nói người Quảng Nam trong bài viết “Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ tỉnh Quảng Nam” (Tạp chí Ngôn ngữ số 2 - 1986), sau khi mô tả một cách tinh tế tiếng Quảng Nam ở vùng bờ biển Hội An, một vùng “có thể coi là tiêu biểu cho tiếng Quảng Nam, nghĩa là nó tập trung được một số lớn những nhận xét khiến con người ở các tỉnh khác nhận ra người nói là người Quảng Nam”, Giáo sư Cao Xuân Hạo đi tới nhận xét: “Trong các phương ngữ của tiếng Việt mà chúng ta từng biết không có một phương ngữ nào cho thấy một sự chuyển đổi nguyên âm đi xa như vậy… Khi tôi (Cao Xuân Hạo) trình bày một số hiện tượng trên đây cho A. G Haudricourt, nhà ngôn ngữ học Pháp thấy đó là một điều lạ không những đối với các phương ngữ của tiếng Việt mà ngay cả đối với toàn thể khối ngôn ngữ trên bán đảo Ấn - Chi, vì ở khu vực này các hệ thống nguyên âm, dù là của những thứ tiếng khác nhau về nguồn gốc, đều rất giống nhau và đã tỏ ra rất bền vững trong lịch sử. Ở khắp vùng Đông Nam Á, theo Haudricourt, hình như chưa từng thấy ở đâu có miêu tả một sự chuyển biến đi xa như vậy”.
Trong bài viết: “Một nhận xét về phương ngữ Quảng Nam còn để ngỏ của Giáo sư Cao Xuân Hạo” Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Trí Dõi lại cho rằng: “Dựa vào một số công trình nghiên cứu đã có, chúng ta thấy rằng hiện tượng mà giáo sư Cao Xuân Hạo chỉ ra không phải là một hiện tượng đơn nhất (tác giả TTD tự nhấn mạnh) và cách xử lý bất thường như vậy không chỉ liên quan đến nguyên âm của âm tiết mà đụng chạm đến các bộ phận khác của ngôn ngữ âm này trong tiếng Việt”(200).
PGS-TS. Trần Trí Dõi đưa ra một ví dụ để dẫn chứng là trường hợp thổ ngữ Cao Lao Hạ(201) để làm ví dụ và kết luận: “Trong trường hợp này, nếu nhìn ở khía cạnh lịch sử cũng có thể dùng cách nói của giáo sư Cao Xuân Hạo khi nói về phương ngữ Quảng Nam: ‘hình như chưa từng thấy ở đâu có miêu tả một sự chuyển biến đi xa như vậy’”.
Không bàn đến chuyện, trong khi GS. Cao Xuân Hạo đề cập đến hệ thống các nguyên âm thì PGS-TS. Trần Trí Dõi lại đề cập đến các phụ âm thuộc âm răng, âm gốc lưỡi; chỉ nhân đây, việc bàn đến thổ ngữ Cao Lao Hạ, chúng tôi dường như chợt phát hiện ra một điều không phải mới, mặc dù cả hai ngành lịch sử và ngôn ngữ đã đề cập đến địa danh này khá nhiều lần, trong hầu hết các công trình về Chămpa hoặc ngôn ngữ tiếng Việt, thể nhưng nối kết hai sự kiện ấy thành một thì hầu như chưa có ai đề cập đến! Đó chính là Khu Túc của ngành lịch sử và Cao Lao Hạ của ngành ngôn ngữ học!
Khi đề cập đến thổ ngữ Cao Lao Hạ tác giả Hoàng Thị Châu nói: “Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà ở Bình Trị Thiên cũng có xã Cao Lao nói một thổ ngữ 4 thanh điệu” và tác giả lý giải điều đó có thể “bắt nguồn từ các ngôn ngữ Chàm, Mã Lai”(202). Cảm nhận này đã không được tác giả Hoàng Thị Châu khai thác để khẳng định rằng giọng nói người Cao Lao Hạ chính là giọng nói người Chàm nói tiếng Việt từ rất sớm, chí ít là khi thuộc về Đại Việt vào năm 1069, nếu không nói là ngay từ năm 446, thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi đã hạ thành này. Câu hỏi đặt ra là cả vùng đất Nam đèo Ngang đến Huế chính thức thuộc Việt vào thế kỷ XIV và tất cả đều tiếp nhận phương ngữ vùng Nghệ An Hà Tĩnh, vậy cớ sao chỉ có Cao Lao Hạ lại trở thành vấn đề về ngữ âm, giọng nói?
Câu trả lời có thể chấp nhận được là: Chính vì Cao Lao Hạ là thành Khu Túc(203), mà Khu Túc là một thành vô cùng lớn, Thủy Kinh Chú có ghi quy mô và kích thước thành Khu Túc như sau: “Thành có chu vi 6 dặm 170 trượng (3.920m), có nhiều lỗ vuông, có 5 tầng gác, có lầu cao 7, 8 trượng, có 13 cửa, nhà có hơn 2.100 gian, chợ búa dân cư ở chung quanh.”(204). Một thành có chu vi 4 cây số, theo ước lượng không hề nhỏ hơn Tử Cấm Thành của kinh thành Huế thế kỷ XIX! Trong thành có 2.100 gian nhà, tối thiểu mỗi gian nhà có 5 người ở ta cũng có con số để hình dung là 10.000 người thường xuyên ở trong thành, chưa kể các dân cư chợ búa quanh thành. Lịch Đạo Nguyên soạn Thủy Kinh Chú năm 527, lúc ấy dân cư, dân số Lâm Ấp hay Giao Chỉ đều rất thưa thớt, thế nhưng Khu Túc qua mô tả này thì đó là một thị trấn đông đúc người Chàm sinh sống.
Và đây là tất cả những gì chúng ta quan tâm. Chính bởi vì có một cộng đồng dân cư đông đúc, cùng dùng một ngôn ngữ là tiếng Chàm, nên người Chàm ở đây chẳng việc gì phải chuyển sang nói tiếng Việt cho sớm. Họ đã kiên trì giữ tiếng nói của cha ông cho đến khi không thể. Như ốc đảo tiếng Hoa Chợ Lớn giữa Sài Gòn, đã qua đến thế hệ thứ ba, thứ tư nhưng nhiều người vẫn không biết tiếng Việt. Phải chăng người Chàm ở Cao Lao đã kiên trì giữ được nếp sống Chàm của mình cho đến chí ít là năm 1553, Dương Văn An chép vào Ô Châu Cận Lục: “Kẻ dâm phụ làng Cao Lao, ác tâm giết cả chồng; phải chăng tập tục bất thường mà sinh ra thế”. Chuyện vụ án, chuyện hình sự, giết chồng, giết cha mẹ… thì có thể xảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ thời nào, thế nhưng âm hưởng phê phán chính của Ô Châu Cận Lục là phê phán các “thói lễ bỉ lậu”, “tập tục bất thường” chứ không nhằm vào chuyện vụ án hay hình sự nhất thời. Có nghĩa là người Cao Lao đến thế kỷ XVI vẫn còn giữ nhiều tập tục xa lạ trong con mắt nhìn của nhà nho Dương Văn An, hay nói cách khác, số người Chàm đông đúc ở thành Khu Túc xưa vẫn giữ được bản sắc của mình, trong đó có cả tiếng nói dân tộc mình, chí ít là đến lúc ấy.
“Người làng La Giang còn nói tiếng Chiêm, mặc váy Chiêm thì gái làng Thủy Bạn”. Chưa biết La Giang ở đâu nhưng đã biết Thủy Bạn nay ở Trung Giang, Gio Linh, Quảng Trị.
Trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, tác giả Hoàng Thị Châu đã có một khảo sát khá kỹ các thổ ngữ các làng cát ven biển quanh Cửa Tùng ở Quảng Trị và phát hiện ra nhiều làng, nhiều ốc đảo thổ ngữ lạ lẫm. Không thấy bà để ý đến câu trên trong Ô Châu Cận Lục. Tuy chưa biết La Giang ở đâu nhưng Thủy Bạn thì ở cách địa điểm tác giả Hoàng Thị Châu khảo sát không xa. Thế kỷ XVI quanh Cửa Tùng còn nhiều làng nói tiếng Chiêm, mặc áo Chiêm; vậy 4 thế kỷ sau người Chiêm ở các làng ấy “biến” đi đâu nếu không nói chính họ đã tự quên tiếng nói, quên gốc gác và hòa nhập toàn diện với người Việt trong cả ý thức về dân tộc!
(Xem thêm: Văn bản “Thủy Thiên” và vấn đề người Chàm ở lại vùng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế ở trang 75)
Và tất cả, như đã nói, đủ để chúng ta có thể hình dung rằng các thổ ngữ này chính là giọng nói của người Chàm chuyển sang nói tiếng Việt, cụ thể ở đây là tiếng Việt của phương ngữ II chỉ 4-5 dấu thanh, mà thành.
Không giống như ở Quảng Nam, người Chàm nói tiếng Việt chí ít từ đầu thế kỷ XIV, và tiếng Việt họ tiếp nhận thời nhà Trần mang nhiều yếu tố vùng đồng bằng Bắc Bộ, tức đủ dấu thanh, đồng thời do những lát cắt lịch sử, bị cắt đứt quan hệ với nguyên gốc do những biến động chính trị có lúc kéo dài đến hơn 100 năm, người Chàm và người Việt cộng cư đã tự nói, tự điều chỉnh, tự nghe, tự hiểu cùng nhau đã sản sinh nên giọng nói Quảng Nam không còn giống với bất cứ nguyên gốc nào.
Ở vùng cát Quảng Bình, Quảng Trị thì không phải vậy. Những ốc đảo người Chàm đã bảo lưu được tiếng nói của cha ông mình nhưng đến một lúc thì đã không thể. Họ chuyển sang nói tiếng Việt trong môi trường phương ngữ II, giọng nói người khu 4 “bủa vây” chung quanh. Phương ngữ II có 4-5 dấu thanh và người Cao Lao Hạ nói còn 4, cùng với những sai biệt về phụ âm đầu, phụ âm cuối, cùng với nhiều từ địa phương không đâu có, đã tạo nên một ốc đảo thổ ngữ bất cứ ai nghiên cứu ngôn ngữ cũng phải tìm đến.
Tác giả Hoàng Thị Châu gọi hiện tượng thổ ngữ Cao Lao Hạ cùng với một số thổ ngữ ở các làng chài ven biển Nghệ Tĩnh “Phải chăng đây là dấu vết của những người Nam Đảo không có thanh điệu phải nói một ngôn ngữ có thanh điệu cho nên mới có sự pha trộn độc đáo đến thế?”; chúng tôi nghĩ sự tìm kiếm thật ra không cần phải đẩy đi xa đến vậy, họ đúng là những người nói ngôn ngữ Nam Đảo nhưng không phải ở các đảo Philippine hay Indonesia, Mã Lai mà chính là người Chàm chủ nhân một thời của đất này. Chỉ có điều thời gian đã trở nên quá xa xôi khi ta dùng từ “chủ nhân” ấy. Xa đến mức sự hình dung là người từ Nam Đảo đến đối với nhà khoa học lớn như Hoàng Thị Châu vẫn còn dễ hiểu, dễ hình dung hơn là bảo đó chính là người Chàm chủ nhân mảnh đất này còn ở lại đến hôm nay!