2/ 1306-1402: Đứt mạch nguồn với bản quán lần I

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 453 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2/ 1306-1402: Đứt mạch nguồn với bản quán lần I

❊ ❊ ❊

Nhưng lịch sử không như Chế Mân nghĩ, chỉ 1 năm sau, vụ giải thoát công chúa Huyền Trân đã khiến người Chàm nổi giận, họ liên tục quậy phá vùng biên giới đến mức 5 năm sau ngày đám cưới, vua Trần Anh Tông đã thân chinh tiến đánh Chiêm Thành. Toàn bộ Chiêm Thành trở thành một châu của Đại Việt(19). Vua nhà Nguyên phản đối nhưng vua Trần vẫn tự cho mình có quyền tông chủ đô hộ trên đất Chiêm Thành, và cũng làm nhiệm vụ là một tông chủ thực sự: Năm 1313 Tiêm La lấn cướp Chiêm Thành vua Anh Tông cử người đem binh đi ứng cứu Chiêm Thành.

Ngay sau 1306 thành Châu Hóa được xây dựng và suốt từ đó về sau thành Hóa châu luôn được nhà nước Đại Việt kiểm soát: Năm Đại Trị thứ 5 đời Trần Dụ Tông (1362), sai Đỗ Tử Bình sửa sang thành này(20). Năm 1362 đã sửa sang thành có nghĩa là thành này đã được xây dựng trước đó nữa. Điều này có nghĩa rằng ngay sau 1306 một chính quyền với cơ quan hành chính, quân sự tập trung đã được nhà Trần thiết lập trên vùng đất phía bắc Hải Vân kéo dài đến sông Thu Bồn.

Điều cần xác định rõ nhất của giai đoạn này là biên giới Chàm - Việt sau đám cưới Huyền Trân là sông Thu Bồn, trước đây gọi là sông chợ Củi(21), tức sông Thu Bồn nay.

Suốt giai đoạn này, vùng đất Bắc Thu Bồn - Nam Hải Vân(22) thuộc Việt, thuộc quyền cai quản của thành Hóa Châu (ở ngoại ô thành phố Huế hiện nay), mặc dù Đại Việt chưa bao giờ thực sự cai quản được vùng đất này(23) một cách thực chất nhưng trên danh nghĩa nó vẫn thuộc Việt. Mãi đến cuối thế kỷ này vùng đất Quảng Nam ở phía nam Thu Bồn mới thuộc vào Việt (được gọi là Châu Thăng). Dấu ấn lịch sử phân kỳ thuộc Việt sớm (trước 1402) và Việt muộn (sau 1402) này hình như đã để lại dấu vết đâu đó trong giọng nói của người Bắc và Nam sông Thu Bồn. Giọng nói của người Điện Bàn, Đại Lộc, Hội An và giọng nói của người Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ(24).

Sau 1306, nhà Trần 2 lần đem đại quân vào Chiêm Thành, một lần trừng phạt sự nổi loạn và một lần giúp Chiêm Thành đánh lại Xiêm La.

Giai đoạn này nếu có những người Việt sinh sống ở đây thì chắc chắn mọi nếp sống, sinh hoạt của họ đều phải theo Chàm. Như sử đều ghi, vị quan cai trị Châu Hóa (lỵ sở đóng ở ngoại ô TP. Huế nay) luôn là người Chàm. Người Việt ở Bắc Quảng Nam và Đà Nẵng nay cũng phải nói tiếng Chàm trong giao tiếp với cộng đồng Chàm đông đúc lúc ấy.

Giai đoạn này chủ yếu các xung khắc nếu có đều xảy ra phía bắc Hải Vân.

Nửa sau thế kỷ XIV này thì Chiêm Thành phát triển cực mạnh và họ đẩy các cuộc giao chiến ra đến tận vùng sông Mã Thanh Hóa, thậm chí Chế Bồng Nga đã 5 lần đánh ra Bắc, trong đó 4 lần kéo quân vào Thăng Long, có lần đóng quân ở đó đến 9 tháng trời!

Đó là những điều kiện chắc chắn để chúng ta tin rằng giai đoạn này vùng Bắc Quảng Nam tuy đã thuộc Việt nhưng ưu thế là hoàn toàn thuộc về người Chàm.

Sau cái chết của Chế Bồng Nga, Chiêm Thành loạn lạc. Hồ Quý Ly đem quân tiến đánh và chúa Chiêm là Ba Đích Lại xin dâng đất Chiêm Động, trọn tỉnh Quảng Nam ngày nay cho Đại Việt. Hồ Quý Ly bắt ép phải dâng nộp cả động Cổ Lũy (trọn tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Nhà Hồ chia đất ấy thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đặt người cai trị. Theo “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh thì Châu Thăng ấy tương đương vùng đất Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành ngày nay (kể cả Quế Sơn, Tiên Phước ở phía tây).

Và gần đây, việc phát hiện ra gia phả tộc Phan làng Đà Sơn-Đà Ly phía bắc Đà Nẵng đã cho chúng ta đôi nét hình dung về cuộc sống của người Việt trong không gian xã hội của người Chàm trong những năm sau 1306 này.

Trong “Phan tộc phổ chí”, gia phả tộc Phan làng Đà Sơn, Đà Ly có đoạn:

“Trong nước, các tướng họp với các ông châu trưởng, động trưởng tôn lập ông Bí động trưởng làm quốc chúa. Ông Chúa Bí cầu hôn nhà Trần, khi ông Chúa đi làm rể, viên tướng Sạ Đẩu chiếm ngôi quốc chúa, cử binh đánh Trần, tranh đất Đà Giang. Vua Trần tức giận, cử binh đánh bắt được Sạ Đẩu. Quân binh nhà Trần đến nước ta (Chiêm Thành), thấy phong tục nước ta lạc hậu, trở về tâu vua, vua Trần khuyên Tiên Công ta và Bí chúa nên theo phép của vua mà lãnh quan tước trở về bàn với các ông tộc trưởng, tù trưởng thuận hiệp Chiêm Thành và Giao Chỉ thành một nước để cùng tiến hóa đợi đến lúc giàu mạnh sẽ chia ra tự chủ. Tiên công ta tự nghĩ rằng nước ta Chúa đã chết, tướng làm phản, đất hẹp, dân nghèo, thế khó tự chủ nên theo lời vua Trần. Vua Trần phong cho Tiên công chúng ta chức Đô chỉ huy kinh lược chiêu dụ xử trí sứ, coi trong 13 châu. Ông lãnh chỉ đi chiêu dụ, quân dân các châu động đều quy thuận. Ông trở về xin (vua Trần) cấp trâu bò, dụng cụ làm nông, đồng thời xin một số dân Giao Chỉ đã thuần thục nghề nông và hiểu biết chữ nghĩa. Vua Trần cho ông trông coi các xứ, thiết lập trang trại chia nhau để ở, dạy cho thổ dân chúng ta học hành và cày cấy… về dân số thì dân Giao Chỉ và dân địa phương cùng chung một ngạch tịch… Trong số các dân địa phương có người còn chắp nê tập tục cũ, không thuận theo sự khai hóa ấy thì chia ra ở riêng… Đến khi nghe họ Hồ dời đổi ngôi nhà Trần… Ông con thứ thâu hết giấy tờ sổ sách đến yết kiến quan nhà Hồ. Viên quan nhà Hồ thết đãi yến tiệc rồi giao cho ông nhận sổ lưu dân Giao Chỉ, tha dòng tôn thất nhà Trần (tức các con cháu ngoại nhà Trần thuộc tộc Phan Đà Sơn), dân phản nhà Ngô (người Hoa di dân) chia vào các trại để khẩn ruộng “(25).

Sau 1306, Chiêm Thành vẫn kiểm soát phía nam Hải Vân, thế nhưng chúng ta có nhiều ví dụ cho thấy người Việt sinh sống ở đây không phải ít.

Trên danh nghĩa đất Hóa Châu kéo dài đến sông Thu Bồn ngày nay nên việc có nhiều người Chàm thân Việt là điều hoàn toàn dễ hiểu. Qua đó số người Việt sống trên đất này trước 1402, ví dụ duy nhất được ghi chép là cô công chúa họ Trần làm vợ Phan Công Thiên, cho phép chúng ta có thể tin chắc rằng tiếng Việt đã được sử dụng không phải ở mức độ cá biệt, đơn lẻ. “Phan tộc phổ chí” còn cho ta biết nhiều bà vợ người Việt có chồng tộc Phan trong bốn đời đầu tiên, những người được ghi rõ là “triều Trần phong chức…” (khả năng trước 1402) gồm có các bà: Trần Ngọc Lãng (công chúa nhà Trần, chưa thể kiểm chứng), Phạm Thị Xuân Quang, Phùng Thị Đính, Nguyễn Thị Thông, Nguyễn Thị Phước Chỉ, Nguyễn Thị Dung, Lê Thị Tài, Lê Thị Ngọc Mỹ, Phạm Thị Hoài, Ngô Thị Huy, Ung Thị Thận, Đỗ Thị Nhựt Tân… Như vậy là ta có chí ít các họ Việt như Phạm, Phùng, Nguyễn, Lê, Đỗ… là sui gia với tộc Phan Đà Sơn. Bên cạnh đó Phan tộc phổ chí cũng còn cho biết các tộc Việt cùng ở trên mảnh đất Đà Sơn như: Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ(26). Điều đó có nghĩa lúc ấy, trước 1402, ở vùng đất thuộc Đà Nẵng nay nhiều tộc họ người Việt đã định cư và ở bên cạnh người Chàm một cách thân thiết, mối quan hệ thông gia trai Chàm lấy vợ Việt và trai Việt lấy vợ Chàm không hề là một trở ngại cho các đôi nam nữ khác dân tộc.

Vấn đề người Việt sống bên cạnh người Chàm, thậm chí dưới quyền cai trị, quản lý, bảo trợ và cả “tội đồ của ta chúng hết thảy bao dung(27)” của người Chàm là khá rõ ràng qua ghi chép này. Cần nhớ rằng đó là những ghi chép hiếm hoi về các mối quan hệ Chàm - Việt trước 1402. Ngay cả sau 1402 hoặc 1471, chúng ta cũng không có được những ghi chép tương tự như vậy. Mặc dù trong các khảo sát ở phần nội dung chúng tôi thiên về nhiều các sự kiện có khả năng góp phần tạo nên bản sắc người Quảng Nam đều sau 1402, thế nhưng những ghi chép này, trước 1402, của gia phả tộc Phan Đà Sơn đã thực sự phản ảnh được sự lệ thuộc lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau để chuẩn bị cho một cuộc giao hòa lớn sau này.

Tóm lại, giai đoạn 100 năm trước 1402 là một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng, sau khi khảo sát tất cả các giai đoạn phân kỳ, nhất là trong việc đi tìm hạt nhân hợp lý của sự ra đời giọng nói người Quảng Nam, chúng tôi chợt nhận ra hầu như toàn bộ cái mà ta hay gọi là bản sắc Quảng Nam là đã hình thành vào giai đoạn này. Chí ít, điều thấy rõ nhất đó là giọng nói của người Bắc Quảng Nam. Đơn giản một điều rằng sau 1402 đó là giai đoạn hình thành của vùng phương ngữ Nam Quảng Nam, giọng nói của người Quế Sơn, Tiên Phước. Giọng nói người Nam Quảng Nam bị “lỗi” ở những âm mà người Bắc Quảng Nam không mắc phải nhưng lại giống với những lỗi của người Thanh Hóa. Ví dụ như vần anh, vần inh. Và điều đó thì hoàn toàn tương thích với việc nhà Hồ tổ chức ở tầm quy mô cho người Thanh Hóa vào Thăng Hoa năm 1402. Những “lỗi” của phương ngữ Bắc Quảng Nam dường như thuộc về một giai đoạn sơ khai và xa xôi hơn nhiều!

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.