7/ Kết luận phần giọng nói người Quảng Nam

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 538 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7/ Kết luận phần giọng nói người Quảng Nam

❊ ❊ ❊

Với kết luận tạm rút ra: Sự khác nhau giữa các thổ ngữ thuộc phương ngữ III từ Quảng Nam đến Phú Yên chính là sự chuyển sang nói tiếng Việt của người Chàm sớm hay muộn mà thành:

Giọng nói người Bắc Quảng Nam hình thành trước 1402 Giọng nói người Nam Quảng Nam hình thành sau 1402 Giọng nói người Quảng Ngãi hình thành sau 1446 Giọng nói người Bình Định hình thành sau 1471 Giọng nói người Phú Yên hình thành sau 1611 Và sau 1639 là sự hình thành giọng nói của người từ Nha Trang trở vào.

Từ đây chúng ta cũng sẽ dễ dàng lý giải được các hiện tượng mà trước đây nhiều người cho rằng đó là do thổ nhưỡng, nước uống mà giọng nói khác nhau! Ví dụ mà nhiều người hay nói đến là làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế, sống giữa một “biển” người nói giọng Huế, phương ngữ II, thì chỉ có độc một làng này đột nhiên nói giọng Quảng Nam, phương ngữ III. Thật ra ở dải cát một bên là biển, một bên là phá Tam Giang khá rộng thuộc các xã Vinh Mỹ, Vinh Hiền, Vinh Giang có nhiều làng không nói giọng Huế mà ngữ điệu câu nói như mất hết sự “trầm bổng” của tiếng Huế. Lý giải làm sao hiện tượng này? Theo chúng tôi đó chính là các làng mà Dương Văn An đã nói đến vào năm 1553, nói tiếng Chiêm có làng… mặc áo Chiêm có làng… phong tục mây mưa vẫn còn lề thói cũ cả làng… do điều kiện địa lý khá cách ly với chung quanh họ đã có điều kiện bảo lưu ngôn ngữ của mình và chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt thời gian gần đây, khoảng thế kỷ XVIII, XIX.

Ở Đà Nẵng, các làng như Nam Ô, Nại Hiên Đông, Mân Thái, Thọ Quang cũng vậy, là giọng Quảng Nam nhưng không giống với giọng Quảng Nam phổ thông, âm sắc khác lạ rất dễ nhận ra ở cả ngữ điệu, một số từ vựng và nguyên âm. Điều lý thú là trong các tranh du ký của các họa sĩ phương Tây vẽ người dân Đà Nẵng vào các năm cuối thế kỷ XVIII, chúng ta vẫn còn thấy người dân ở đây mặc y phục như của người Chàm, tức đàn ông mặc váy, đầu vấn khăn khá to còn đàn bà mặc váy dài nhiều tầng, nhiều màu như mô tả của C. Borri hay Barrow, và nhiều phụ nữ ở trần như mô tả của Maspéro.

Liệu chăng, đến cuối thế kỷ XVIII, khi còn bảo lưu được các nét văn hóa đặc trưng trên y phục như vậy số người Chàm ấy vẫn bảo lưu được ngôn ngữ của mình?

Có nghĩa là ngoài sự phân loại theo lịch sử Nam tiến với hai vùng ngữ âm chính là Bắc và Nam sông Thu Bồn ta cần chú ý đến những ốc đảo ngữ âm do những làng Chàm chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt rất muộn, nhất là các làng chài ở ven biển miền Trung.

Nhìn vấn đề ở góc độ như thế, chúng ta cũng dễ dàng hiểu được tại sao người Quảng Nam lại có một vốn từ vựng nghèo nàn đến tội nghiệp, cả về số lượng từ, (nhất là các tính từ, trạng từ và thán từ) sắc thái ngữ nghĩa, ngữ điệu biểu cảm, nhất là các tính từ và trạng từ, so với các vùng phương ngữ khác. Cứ xem trên ti vi, một khi phỏng vấn đến người Quảng Nam ta sẽ thấy sự nhọc nhằn của họ trong diễn đạt ý tưởng. Một người ngoại quốc nói tiếng Việt hẳn nhiên là vốn từ sẽ thua xa người bản địa. Đó là chưa nói lũy Trường Dục đã làm một lát cắt, một rào chắn quá dài để xứ Đàng Trong mất hẳn sự liên tục của nguồn cội trong một thời gian dài để rồi hình thành nên một vùng phương ngữ thiếu và khác nhiều như ta đã thấy.

Khó mà có thể khẳng định được điều gì, tuy nhiên điều quan trọng nhất, trên cơ sở thống nhất cái nguyên tắc về sự hình thành các ốc đảo ngữ âm, là từ đó ta có thể dựng lại cái không gian xã hội Chàm - Việt xen kẽ nhau trên đất Quảng Nam trong những năm trước và sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Chỉ xét về mặt ngữ âm thôi chúng ta đã có như vậy là gần 20 làng, nếu xét thêm về gia phả, số đời của các tộc họ hoặc các bằng chứng rõ ràng khác chúng ta hoàn toàn có thể vẽ lại cái bản đồ da báo các làng Chàm - Việt sống bên cạnh nhau suốt 500 năm đằng đẵng ấy. Và đó mới là điều chính yếu, điều quan trọng nhất để có thể bàn đến vấn đề tiếp thu, tiếp biến hoặc hòa đồng giữa hai nền văn hóa Việt-Chàm để hình thành nên bản sắc văn hóa, tính cách của người Quảng Nam hôm nay.

Và vì vậy, cái tóm lại cuối cùng cần phải nói chính là cái khái niệm thời gian 500 năm cần phải nắm. Tại sao lại có những vùng thổ ngữ khác nhau từ Hải Vân đến đèo Cả? Tại sao lại có những ốc đảo ngữ âm giọng Quảng Ngãi ở Quảng Nam? Tại sao có những ốc đảo Mỹ Lợi giọng Quảng Nam giữa đất Thừa Thiên - Huế? Tất cả những điều đó chỉ có thể tìm thấy câu trả lời ở chính thời gian sớm muộn khi tiếng Việt được chấp nhận trong giao tiếp của các làng Chàm đã kỳ công lưu giữ tiếng nói, văn hóa suốt nhiều trăm năm.

Chim sa vườn thị

Thỏ chạy vườn trâm

Nhớ thương tiếng nói mấy trăm năm vẫn còn

Khi mạo muội dùng công cụ ngôn ngữ để góp phần lý giải việc hình thành và phát triển của phương ngữ III gắn liền với những giai đoạn lịch sử Nam tiến ở vùng Quảng Nam chúng tôi không có ý định cố chứng minh bất cứ điều gì ngoài một điều duy nhất rằng lịch sử Nam tiến của dân tộc đã thực sự để lại dấu vết trên giọng nói người miền Trung từ Quảng Nam đến Bình Định, Phú Yên. Sự đồng thuận yêu cầu ở đây chính là việc nhìn nhận thổ ngữ, ốc đảo ngữ âm các làng ở Quảng Nam chính là các làng Chàm chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt sớm muộn mà thành. Việc chấp nhận đây như một công cụ sẽ giúp chúng ta không phải lần giở tra tìm lại các văn bản, bằng chứng gốc về lai lịch tiền hiền của một làng nào đó mới có thể hướng sự tra cứu vào thời gian nào là hợp lý nhất.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.