4/ 1407-1445: Đứt mạch nguồn với bản quán lần II

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 453 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4/ 1407-1445: Đứt mạch nguồn với bản quán lần II

❊ ❊ ❊

Đến 1445 thì quân Đại Việt đánh một trận lớn đến tận Trà Bàn (Quy Nhơn), bắt vua Chiêm là Bí Cai về Thăng Long. Vua Lê Nhân Tông là một ông vua nhân từ, bao nhiêu tù binh ông đều thả sau khi làm lễ cáo thắng trận ở Thái Miếu.

Lát cắt 1407 là một lát cắt lịch sử cần thiết để số người Việt mới vào dưới triều Hồ và không chạy về, đã ở lại thêm một lần nữa mất quan hệ với quê hương bản quán mãi đến 1445. 40 năm không phải là dài trong lịch sử nhưng cũng không phải là ngắn với các thế hệ thứ hai thứ ba vừa hình thành do ở lại, quan hệ mật thiết với cộng đồng người Chàm đông đúc áp đảo chung quanh.

Đây là lần thứ hai đáng ghi nhớ về quan điểm phân kỳ về việc bị đứt sự liền mạch với quê hương bản quán, khiến những người đã vào phải hòa nhập triệt để hơn với văn hóa bản địa đồng thời người bản địa cùng với văn hóa Việt đã bị “đông cứng” lại do không được bổ sung thêm trong một vài thế hệ. Đây chính là điều kiện ắt có và đủ để định hình một bản sắc, chí ít là ngữ âm, vững bền đến 600 năm sau cũng không phai mờ.

Ngay cả vào các thời kỳ sau, chúng ta thấy nếp sinh hoạt trong ăn, ở miền Bắc luôn là sự nghèo khó. Đến thời Minh Mạng người đàn ông còn mặc khố phổ biến(36). Trong khi đó người Xứ Đàng Trong theo các ghi chép từ Ô Châu Cận Lục đến các ghi chép của các giáo sĩ phương Tây thì quần là áo lượt năm bảy lớp. Thực sự là người Việt giai đoạn này đã “tiếp thu” chí ít là trong sự ăn mặc của người Chàm cũng là điều dễ hiểu.

Khi quân Minh đến hỗ trợ cho Chiêm Thành lấy lại đất cũ. Chính quyền Chiêm Thành lấn ra trở lại tới vùng Thuận Hóa (Bắc Hải Vân) dưới thời thuộc Minh, dân Chiêm số người bỏ đi cũng trở lại quê hương bản quán, nhưng các di dân Việt đã vào dưới thời Hồ Quý Ly không phải vì thế mà bỏ đi cả. Năm 1407, SKTT chép “Đến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ dân di cư sợ chạy tan cả”(37). Tất nhiên là như vậy rồi và cũng dễ để hình dung thái độ của người Chàm đối xử với dân Việt lúc họ thu lại đất cũ người Việt đã chiếm đóng khi Hồ Quý Ly đưa dân vào các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Ngay việc chạy của dân di cư ấy ta cũng phải xét đó là dân mới vào, mới xây dựng chính quyền Quảng Ngãi ngày nay hay cả dân đã ở lâu với người Chàm, có gia đình đã 4-5 thế hệ, ở vùng Bắc Quảng Nam cũng chạy? Chúng tôi không nghĩ rằng một câu ấy của SKTT lại có thể phản ánh được toàn bộ tình hình người Việt. Trường hợp Nguyễn Rỗ được Chiêm cho làm quan to(38) cho phép ta hình dung tình hình không đến nỗi khó khăn lắm đối với các Việt kiều. Gia phả họ Hồ ở Cẩm Sa(39), Điện Nam, Điện Bàn là một ví dụ. Gia phả này đã chép được vị thủy tổ dòng họ này đã vào Quảng Nam từ thời đó, dưới triều Hồ Hán Thương và ở đó liên tục, con cháu đến nay cũng đã đến đời thứ 26-27.

Và một sự kiện lớn như thế Gia phả tộc Phan làng Đà Sơn không thể không ghi chép, và ta đọc thấy: “Khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ đem đất Chiêm Động Cổ Lũy trả lại cho Chiêm Thành thì người Việt do họ Hồ điều vào nay lại chạy ra Hóa Châu (gần TP Huế nay), ông Phan Công Nhân vẫn khôn khéo xử trí để bảo đảm cho người Việt được an toàn”(40).

Người Việt ở lại đất này sau khi người Chàm thu lại đất cũ là chuyện không phải bàn nữa. Suốt từ đó, 1407, cho đến 1446 thì Nam Hải Vân hoàn toàn dưới sự cai trị của người Chàm, vùng chịu nhiều cảnh binh đao là Hóa Châu, vùng Quảng Trị - Thừa Thiên ngày nay. 44 năm yên bình đối với vùng Quảng Nam. 44 năm hoàn toàn không có những di dân mới vì Chiêm Thành đã thực sự giành được tự chủ trong khi Đại Việt bị sự đô hộ của nhà Minh. Nếu có những di dân thì đó là những người bỏ chạy ách đô hộ của nhà Minh và dĩ nhiên họ không có bất cứ quyền lực nào trên vùng đất mới. Khi họ không có quyền lực thì cũng có nghĩa họ hoàn toàn lệ thuộc vào sự cai trị của người Chàm. Và với cái nhìn này ta sẽ hiểu được tại sao “Chiếu bình Chiêm” viết năm 1471 lại có những câu như: “Cấm mổ thịt làm khốn khó dân trời, cấm nấu rượu việc tế thần phải bỏ”. Cần hiểu mổ thịt đây là mổ thịt bò. Người Chàm theo đạo Bà La Môn thờ thần bò và không bao giờ ăn thịt bò và cũng không uống rượu. Và ngay cả thịt heo cũng vậy, lúc này một số người Chàm đã theo đạo Hồi. Trong khi với người Việt thì đó là hai thứ thịt không thể thiếu. Hãy thử hình dung, hai làng ở cạnh nhau nhưng làng này thì thờ bò còn làng kia thì đánh trống inh ỏi khi mổ bò; làng này bày heo ra cúng nhưng làng kia lại sợ thịt heo như phạm tội thánh! Phải chăng sự xung đột văn hóa kéo dài dai dẳng hàng trăm năm này đã tạo nên tính cách người Quảng Nam? Mời xem các khảo sát kỹ hơn ở các chương sau.

Một việc nữa “Đến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ” thì đất cũ, hay đất Chiêm Thành thu lại đó là đất nào, đến đâu có lẽ cũng là một yêu cầu cần xác định. Sau 1407, SKTT nhiều chỗ chép Chiêm Thành lại quấy nhiễu hoặc đánh cướp thành Hóa Châu. Thành Hóa Châu ngoại ô TP. Huế hiện nay. Có nghĩa là vùng Bắc Hải Vân nhà Minh vẫn kiểm soát được. Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ là ý nói vùng Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; tức nam sông Thu Bồn; và có thể mở rộng đến cả Bắc sông Thu Bồn, tức đến chân núi Hải Vân, lúc này (trước 1445) đều thuộc quyền kiểm soát của Chiêm Thành.

Khi so sánh với hiện tượng văn bản Thủy Thiên chúng tôi nhận ra vùng Quảng Trị đã thực sự không bị tác động bởi sự kiện cắt đứt với mạch nguồn bản quán năm 1407 như các địa phương Nam Châu Hóa, rõ nét hơn là Nam Hải Vân. Và chắc chắn yếu tố này quyết định không nhỏ đến sự khác nhau giữa giọng nói hai miền Huế và Quảng.

Đã có 2 thế hệ người Việt lớn lên bên cạnh người Chàm, những cuộc hôn nhân giữa hai dân tộc chắc chắn là nguồn mối của sự tồn tại. Những người Việt có thể phải nói tiếng Chàm ngoài xã hội nhưng trong gia đình những con dâu, con rể người Chàm có thể cũng phải nói tiếng Việt. Người Việt nói tiếng Chàm không thể giống như người Chàm và dĩ nhiên ngược lại người Chàm nói tiếng Việt cũng chẳng giống như người Việt vùng Thanh Hóa - Nghệ An. Dĩ nhiên giai đoạn này tiếng Chàm là ngôn ngữ chính thống của vùng này.

Dấu ấn của cộng đồng Chàm-Việt, hình ảnh xã hội rõ nhất mà chúng ta có được giai đoạn này nằm ở câu: “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính hung hãn, quen khổ sở. Triều trước (nhà Trần) dùng họ để ngừa người Chiêm” của Lý Tử Tấn chép phần thông luận trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi khắc in năm 1435(41).

Nhát cắt của nhà Minh khiến Đại Việt suy yếu, Chămpa làm chủ hoàn toàn vùng đất vừa thu lại, chí ít đến Hải Vân nếu không nói cả thành Hóa Châu thuộc đất Thừa Thiên - Huế ngày nay; cho đến 1445 là một nhát cắt với cội nguồn “cần thiết” để những yếu tố văn hóa của những người Việt vào trước hòa nhập với nền văn hóa mới rồi sản sinh, hình thành rồi ổn định một bản sắc đến độ người Việt đến sau 1471, dầu đông, cũng phải “hòa nhập” vào chứ không còn đủ lực để “cải hóa” hoặc “hoàn nguyên” số người Việt vào trước nữa. Sau này, sau khi có lũy Trường Dục, chúng ta cũng sẽ thấy điều này, sự cắt đứt với mạch nguồn văn hóa từ nguyên quán, sẽ tạo điều kiện cho những nét văn hóa mới được hình thành và củng cố, lặp lại một lần nữa, ở bình diện vững chắc hơn.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.