Cuộc tiến đánh thành Đồ Bàn của Lê Thánh Tông năm 1471 xét ra cho cùng cũng chẳng khác mấy với các lần tiến đánh thành Đồ Bàn của quân Đại Việt trước đó trong lịch sử. Cũng bắt vua, răn đe dân Chiêm Thành rồi rút quân về và giao cho người Chàm tự cai trị vùng đất của họ. Chỉ khác chăng là lần này ông chính thức vẽ bản đồ đưa biên giới Đại Việt vào đến đèo Cù Mông và đặt tên cho vùng đất mới.
Ngày mồng 7 (tháng 3 năm Tân Mão-1471), lấy người Chiêm đầu hàng là Ba Thái làm Đồng tri châu Thái Chiêm, Đa Thủy làm Thiêm Tri châu. Vua dụ họ rằng: “Hai châu Thái Chiêm và Cổ Lũy trước là đất của ta, đời gần đây bị mất về nước Chiêm, nay lấy lại được hết, đặc cách sai bọn các ngươi trấn giữ. Có kẻ nào không theo, cho giết trước rồi tâu sau”.
Ngày 11, lấy Đỗ Tử Quy làm Đồng tri châu Thái Chiêm quân dân sự, Lê Ỷ Đà làm Cổ Lũy châu tri quân dân. Người Chiêm nào dám chống hay làm loạn thì cho giết rồi tâu sau(93).
Trước nay, nhiều người nghĩ rằng các quan người Chiêm đầu hàng ấy đã được vua Lê Thánh Tông cử cai trị toàn bộ vùng đất từ Quảng Nam vào đến hết Bình Định ngày nay. Thế nhưng qua những gì SKTT chép ở trên ta thấy: Ngày mồng 1 tháng 3 đánh thành Đồ Bàn thì sang ngày mồng 2, vua thấy đã phá được thành Chà Bàn, liền xuống chiếu đem quân về(94). Và cứ theo đó mà biết thì ngày mồng 7 vua đã ra đến Cổ Lũy, và ngày 11 thì đến Chiêm Động rồi ra các sắc chỉ trên.
Điều này cho thấy người Chàm vẫn là số đông dân cư của vùng đất từ Thanh Chiêm vào Cổ Lũy, tức Nam Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay.
Vậy vùng đất thuộc Bình Định ngày nay, vùng đất có kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành lúc ấy, thì sao? SKTT cũng như Cương Mục, Thực Lục, Nhất Thống chí đều không đề cập đến vị quan tổng trấn là Chàm hay Việt, cũng không thấy hỏi đến các hoạt động của bộ máy hành chính, quân sự cùng các địa điểm đặt lỵ sở của dinh trấn vùng đất cực Nam sau sự kiện 1471.
Tại bảo tàng TP. HCM, phòng lịch sử đời Lê thế kỷ XV-XVIII, có trưng bày một chiếc ấn đồng với mặt ấn có 12 chữ triện “Quảng Nam Đẳng Xứ - Tán Trị Thừa Tuyên - Sứ Ty Chi Ấn”. Chiếc ấn được tìm thấy trong lòng đất ở nơi là thành Châu Sa cũ (nay là xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Năm chế tạo chiếc ấn được xác định với dòng chữ trên cạnh trái là “Hồng Đức nhị niên, nguyệt nhật” (tháng 5 năm 1471)(95). Như vậy là bằng chứng “sờ được” về chính quyền Đại Việt trên đất Quảng Nam xưa (Đạo Thừa tuyên Quảng Nam kéo dài từ sông Thu Bồn đến đèo Cù Mông nay) là đã được khẳng định, chỉ một thắc mắc nhỏ còn lại là, SKTT chép đến tháng 6 vua mới ra lệnh thành lập đạo Quảng Nam, thế nhưng trên chiếc ấn này thì đó lại là tháng 5. Chế tạo một chiếc ấn đồng không thể làm một ngày, một tuần mà xong, vì vậy ta có thể thấy việc thiết lập một chính quyền đại diện cho nhà nước Đại Việt trên vùng đất mới theo ý chí của vua Lê Thánh Tông là khá mạnh và quyết đoán, nó đi trước cả những sắc dụ về hành chính mang tính công bố chính thức về lãnh thổ.
Vấn đề chỉ còn là ai là Tổng trấn, là trấn thủ đạo thừa tuyên Quảng Nam lúc ấy? Đó là người Chàm hay người Việt? Theo nhà nghiên cứu Thạch Phương, thì đó chính Phạm Nhữ Tăng (dựa trên gia phả và các sắc phong của tộc Phạm làng Hương Quế, xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) đã được vua Lê Thánh Tông chỉ định làm trấn thủ đạo thừa tuyên Quảng Nam, kiêm quản phủ Hoài Nhơn trong các năm từ 1471 đến 1477(96).
Thế nhưng sau Phạm Nhữ Tăng chúng ta có đến 50 năm “khoảng trống lịch sử”, không có bất cứ một ghi chép hoặc bằng chứng nào cho phép đoán định vị trí dinh trấn Quảng Nam cũng như ai là trấn thủ dinh trấn này, cho đến khi Mạc Đăng Dung cử em là Mạc Quyết vào trấn thủ Thuận Quảng (1527) và đặt dinh trấn tại xã Chánh Lộ, thuộc địa phận thị xã Quảng Ngãi ngày nay. Ngay chiếc ấn được chế tạo tháng 5 năm 1471 ấy cũng được tìm thấy ở vị trí là thành Châu Sa cũ (nay là xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi), tận phía bắc của tỉnh Quảng Ngãi.
Liệu Phạm Nhữ Tăng đã đặt dinh trấn ở ngay trên đất kinh đô Chiêm Thành cũ là Đồ Bàn hay ngay từ đầu đã đặt dinh trấn ở Châu Sa? Gia phả tộc Phạm làng Hương Quế chép, Phạm Nhữ Tăng đã được vua chỉ định làm trấn thủ Đạo thừa tuyên Quảng Nam kiêm quản phủ Hoài Nhơn (Bình Định nay). Đất Hoài Nhơn đã thuộc đạo Quảng Nam, đã làm quan trấn thủ Quảng Nam tại sao lại còn kiêm quản phủ Hoài Nhơn? Phải chăng điều này cho phép ta hiểu rằng ở mức độ nào đó, Hoài Nhơn vẫn chưa thực sự thuộc Quảng Nam, Hoài Nhơn vẫn còn một “chút” quyền tự trị?
Thật vậy, người Chàm ở lại trên kinh đô Đồ Bàn cũ là quá đông để có thể “quy thuận” một sớm một chiều; Thậm chí, họ đã nổi loạn, để một năm rưỡi sau: “Ngày mồng 8 tháng 11 (1472), lại đi đánh Chiêm Thành. Bắt được chúa nó là Trà Toại và bè lũ đem về kinh”(97).
Kể từ đây, SKTT chép về các sự kiện có liên quan về Chiêm Thành và người Chàm ít hẳn, và sau đây là tất cả các sự kiện được SKTT hiếm hoi đề cập đến:
3 năm sau 1471, vào năm 1474, bọn Nghiên Nhân Thọ, Nguyễn Đình Mỹ tâu việc Chiêm Thành tan vỡ quấy nhiễu biên giới.
Năm 1477 có Nguyễn Tế tâu việc địa phương Chiêm Thành.
Năm 1498 đặt thêm các sở hiệu của ba vệ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn thuộc Đô ty Quảng Nam.
Năm 1499 có một sự kiện vô cùng quan trọng để có thể hình dung nên đời sống xã hội trong cộng đồng dân cư Chàm-Việt được chép trong SKTT mà trước nay ít được nhắc tới, đó là dưới triều Lê Hiến Tông (năm Cảnh Thống thứ 2-1499): tháng 8, ngày mồng 9, có chiếu rằng: Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu. Đó là theo lời tâu của Hộ khoa đô cấp sự trung Vũ Lộc(98). Có thể nói đây là bằng chứng duy nhất khiến việc người Việt lấy vợ Chiêm Thành không còn là sự phỏng đoán hoặc suy luận mà có. Những chi tiết được SKTT ghi lại này cho phép hiểu chiếu dụ ban ra có giá trị trước hết ở kinh đô, vì lối sống xã hội ở kinh đô mà ra chiếu dụ ấy. Và vì thế nó cũng cho phép ta hiểu: ở kinh đô còn vậy thì chuyện lấy vợ người Chiêm Thành ở Quảng Nam sẽ còn là phổ biến hơn nữa.
Chúng ta hãy thử hình dung các chuẩn mực xã hội dựa trên các giai tầng, thành phần xã hội của các tộc người lúc ấy để có thể xảy ra hiện tượng lấy vợ Chiêm Thành đến mức phổ biến như vậy. Đối với tầng lớp phong kiến như Vũ Lộc thì họ, những người Chiêm Thành, bị xem là thấp kém, nhưng trong tầng lớp lao động thì có như vậy không, họ có bị xem là thấp kém đến mức như “mọi” để người đàn ông phải cảm thấy xấu hổ khi lấy họ làm vợ? Hay đó thực sự là một mốt thời thượng khá vui và sang trọng trong lối sống?
Việc vua Lê Hiến Tông ra hẳn một chiếu dụ về việc lấy vợ người Chiêm Thành cho thấy sự việc đã trở thành phổ biến chứ không còn đơn lẻ, những người vợ Chiêm Thành ấy đã mang cả nền văn hóa của dân tộc họ vào trong gia đình mới, liệu dấu ấn của một sự kiện lớn như vậy có còn đế lại dấu vết của nó đâu đó trong đời sống của người Việt nói chung, người Quảng Nam hôm nay nói riêng?
Và một điều nữa cần phải nhắc, rằng người Chiêm Thành không phải chỉ có đàn bà con gái! 28 năm sau ngày gần như chính thức xóa bỏ đất nước Chiêm Thành mà còn ra cái sắc chỉ như vậy cho thấy người Chàm ở lại khá là yên ổn trong chính quyền mới. Thậm chí họ vẫn còn khá mạnh, khá đông để âm mưu nổi loạn như các sự kiện sau trong SKTT:
Năm 1509: Sai bọn Đô đốc Bảo Lộc bá Lê Tử Vân và Vũ Cảnh đi kinh lý vùng Quảng Nam.
Trước đây, năm Hồng Đức thứ 1, Thánh Tông thân hành đi đánh Chiêm Thành bắt được Trà Toại và vợ con nó đem về nước ta an trí ở ngoài cửa Bảo Khánh gần 30 năm. Đến thời Cảnh Thống, con là Trà Phúc mang trộm hài cốt của cha là Trà Toại trốn về nước, để lại một người chị ruột, đến khi có binh hỏa mới chết. Đến nay, nô lệ người Chiêm của các nhà thế gia, công thần ở các điền trang cũng bỏ trốn về nước.
Vũ Cảnh cho chạy trạm tâu vua là người Chiêm làm loạn. Vua hạ lệnh giết người Chiêm đến gần hết, không biết rằng kẻ làm loạn chính là bọn người Chiêm Chế Mạn. Đến sau bắt được bọn người Chiêm Ma Mặc phiêu dạt ngoài biển, giam ở thừa chế, họ lại cung khai rằng năm trước, Trà Phúc đã trở về nước sai Con là Ma La sang cầu viện nhà Minh, lại đóng nhiều thuyền, chứa nhiều lương. Do đó, vua sai bọn Cảnh đi kinh lý(99).
Và đó là những dòng cuối cùng mà SKTT còn nói đến từ Chiêm Thành!
Tất cả các ghi chép đó cho thấy sau 1471, cho đến ít nhất là năm 1510, người Chàm vẫn luôn muốn nổi loạn, đến 1509 mà còn đóng nhiều thuyền, chứa nhiều lương thì có thể biết họ chẳng chạy đi đâu cả, họ vẫn ở lại vùng đất có kinh đô Đồ Bàn của họ, cả đàn ông lẫn đàn bà, vẫn tiếp tục sinh con đẻ cái và dạy dỗ con cái niềm tự hào về dân tộc, về văn hóa của cha ông.
Kể từ lúc này, các nguồn sử liệu bắt đầu thiếu vắng hẳn, vì vậy thật khó để hình dung về số phận những người Chàm này. Họ ở lại và họ đã biến đi đâu mà cho đến hôm nay không còn một dấu vết? Liệu có thể hình dung nên không gian xã hội cộng cư của hai tộc người, của hai nền văn hóa khá khác nhau giữa Việt và Chàm lúc ấy?
Sau 1509, sau những dòng chữ cuối cùng mà SKTT chép về Chiêm Thành, thì mãi đến 1553 ta mới lại có được vài dòng mô tả lối sống của cư dân Chàm qua Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An. Chuyện gì đã xảy ra cho những lưu dân Việt trên vùng đất mới? Số phận những người Chàm ở lại là ra sao?
Những năm ngay sau 1471, đất đai thì đã thuộc Đại Việt nhưng những vị quan cai trị thì vẫn là người Chàm. Sự kiện đáng chú ý nhất là sau đánh thắng Trà Bàn, khi rút quân về ngang Cổ Lũy và Chiêm Động, tức vùng Điện Bàn đến Quảng Ngãi nay, vua Lê Thánh Tông đã bổ cho người Chàm làm quan cai trị vùng đất này. Trong gia phả các tộc họ ở Quảng Nam rất nhiều tộc họ đã vào và định cư trên đất phương Nam này ngay sau 1471. Có nghĩa rằng trong giai đoạn ngay sau 1471, người Việt đã vào và sống bên cạnh người Chàm, dưới quyền cai trị của một quan người Chàm! Ở đâu không biết chứ ngay vùng Ngũ Xã Trà Kiệu, cách dinh trấn Thanh Chiêm chừng 10 cây số, nơi có 13 vị tiên tổ của các tộc như Lê, Nguyễn, Đinh, Võ, Phạm, Trương… đã vào định cư tại đó ngay sau 1471; thì họ đã sinh cơ, lập nghiệp ngay dưới quyền cai trị của một trong các quan người Chàm đầu hàng: Ba Thái, Đa Thủy, Đỗ Tử Quy, Lê Ỷ Đà.
Có nghĩa rằng, sau 1471, mô hình “da báo” các làng Chàm - Việt là một sự thật khó chối bỏ. Ở Bình Định người Chàm là số đông tuyệt đối; ở Quảng Ngãi thì các quan người Chàm vẫn nhiều, có nghĩa rằng người Chàm cũng là đa số; vùng Quảng Nam thì người Việt đã đông, tuy vậy, dựa trên số gia phả có được số đời trên 21 thế hệ rất là hiếm chúng ta có thể biết cho đến năm 1500, người Việt trên đất Quảng Nam vẫn chưa phải số đông. Họ là số ít ở bên cạnh các làng người Chàm và “nương” theo khá nhiều các phong tục, tín ngưỡng, văn hóa của người Chàm bản địa.
Đó là nói theo cái nhìn “phi phân kỳ” kiểu 500 năm dồn lại một ngày, sự thật thì những người Việt sống bên cạnh hay nương nhờ các làng Chàm lâu đời ấy chỉ giữ được bản sắc Bắc Bộ của mình không lâu thì phải hòa nhập, và sang đến thế hệ thứ hai, thứ ba thì những người Việt này đã nhiễm, như Lý Tử Tấn chép Thông Luận trong Dư Địa Chí (khắc in năm 1435) của Nguyễn Trãi: “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính hung hãn, quen khổ sở. Triều trước (nhà Trần) dùng họ để ngừa người Chiêm”(100). Con cái họ phải hòa nhập vào cộng đồng phương ngữ mới, nhất là trong điều kiện không có thêm những di dân mới do lũy Trường Dục là một giới tuyến nội bất xuất ngoại bất nhập kéo dài từ 1671 đến Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần thứ nhất năm 1786. 115 năm không đi lại giữa hai miền Nam Bắc, 4-5 thế hệ người Việt “thuần chủng” đã sinh ra liệu họ có còn giữ được sự “thuần chủng” trong mọi nếp suy nghĩ với cộng đồng người Chàm, người “lai” và cả người Việt đã đến và hòa nhập từ 300 năm trước?