3/ 1402-1407: Ước tính số lượng người Việt di dân dưới triều nhà Hồ

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 529 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3/ 1402-1407: Ước tính số lượng người Việt di dân dưới triều nhà Hồ

❊ ❊ ❊

Năm năm mang đậm dấu ấn của ý chí nhà Hồ trong việc mở rộng bờ cõi, xác định chủ quyền, ổn định chính trị trên vùng đất mới. Không có đủ cứ liệu để hình dung số lượng người Việt vào Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa trong 5 năm này; thế nhưng việc ước đoán số dân Việt di dân vào Nam dưới thời nhà Hồ là một yêu cầu không thể bỏ qua.

Năm năm là quãng thời gian vô cùng ngắn để những di dân có thể định cư sâu rễ bền gốc ở nơi ở mới. Ngày nay chúng ta khó có thể hình dung đời sống xã hội của vùng đất Thăng Hoa ngày ấy, tức nam sông Thu Bồn đến Quảng Ngãi ngày nay, là như thế nào. 5 ngàn hay 10 ngàn, hay 20 ngàn người Việt đã đi theo các chiếu dụ của cha con Hồ Quý Ly?

Tính toán ước đoán số lượng người Việt vào Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa trong 5 năm 1402-1407 là một yêu cầu bắt buộc phải làm nếu muốn nói được điều gì đó về dấu ấn bản sắc, chí ít là trong ngữ âm, hình thành ở Nam Thu Bồn. Có vài sự kiện cho phép ta hình dung phần nào lượng người Việt di dân vào đây giai đoạn này:

Mùa xuân, tháng 2 (1403), Hán Thương đem những người không có ruộng mà có của dời đến Thăng Hoa, biên chế thành quân ngũ. Quan lại ở các lộ, phủ, châu, huyện phải chia đất cho họ ở. Người ở châu nào thì thích hai chữ tên châu ấy vào hai cánh tay để làm dấu hiệu. Đến năm sau đưa vợ con đi theo, “giữa đường, bị bão chết đuối, dân phần nhiều ta oán”“Hán Thương mộ dân nộp nhiều trâu để cấp cho dân mới dời đến Thăng Hoa, người nộp được ban tước”(28). Các sự kiện này cho thấy quyết tâm của nhà Hồ trong việc quản lý và cai trị vùng đất mới. Và khi mà triều đình đứng ra tổ chức các cuộc di dân như vậy hẳn số lượng người đi không thể là một vài so với các triều đại sau chỉ dùng vùng đất này như một chốn lưu đày cho các tội phạm. Cuối năm 1403 này, Hán Thương còn tổ chức một cuộc Nam chinh với 20 vạn binh lính thủy bộ, âm mưu đánh đến tận vùng Phan Rang, Thuận Hải. Quân vây thành Chà Bàn, sắp lấy được nhưng vì thiếu lương ăn và Phạm Nguyên Khôi không đủ tài nên phải rút(29). Cuộc tiến quân này cho phép ta hình dung điều kiện vô cùng thuận lợi để thực hiện các cuộc di dân và bố trí, sắp xếp các lưu dân vào các nơi ở mới thuộc Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay.

Có một vài sự kiện giúp chúng ta hình dung phần nào số lượng người Việt đến vùng đất này trong các năm từ 1402-1407, đó là khi quân Minh chiếm Thanh Hóa, hai cha con Hồ Quý Ly chạy vào đến Tân Bình (Quảng Bình), sai Hoàng Hối Khanh đang cai trị Thăng Hoa lấy một phần ba số dân di cư trước đây, gộp với quân lính địa phương tổ chức lực lượng cần vương cho nhà Hồ(30). Trong tình hình nước sôi lửa bỏng, tập hợp được vài trăm người thì không đáng để cha con Hồ Quý Ly kỳ vọng, vài ngàn người thì mới có thể gọi là một lực lượng cần vương. Chúng tôi chọn lấy số 3.000 người là khả năng thấp nhất. Cứ 4-5 dân có một đinh, 2-3 đinh có một lính thì số dân di cư trên dưới 10 ngàn, nếu không nói là 20-30 ngàn người là điều có thể chấp nhận được.

Trên cái diện tích gần như tương đương với hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay, thì bao nhiêu người Việt đưa vào mới gọi là tương đối để cai quản vùng đất mới, vùng đất nhiều bất an, đầy bạo loạn và chưa hề có ý định thuần phục, và quan trọng nhất là ý chí xây dựng một vùng kháng chiến, một căn cứ địa lúc nguy nan của cha con họ Hồ? Vài chục ngàn người chúng tôi nghĩ là không đủ với ý chí của Hồ Quý Ly lúc ấy!

Năm 1407 “Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ, dân di cư sợ chạy tan cả”(31), chính câu này của Sử Ký Toàn Thư khiến ta tin rằng số lượng người di cư là đông như ước tính, vì có thể, chỉ với số lượng lớn đến như vậy nó mới tạo nên được sự kiện để được ghi vào sử sách.

Ở phía người Chàm ở lại ta thấy Hồ Quý Ly không xua đuổi người Chàm mà ra một chính sách như thường thấy ở vùng đất mới: “Người Chiêm Thành nào đi thì cho đi. Người ở lại thì bổ làm quan”(32). Việc người Chiêm Thành ở lại làm quan cai trị, chiêu dụ dân Chiêm Thành là một chi tiết cho thấy người Chiêm Thành ở lại là chính và họ chiếm tuyệt đại đa số, người Việt vào là “ở lẫn”(33) với người Chàm, thuận theo phong tục người Chàm, chịu sự cai trị của người Chàm là chính.

Thưa thớt đến nay còn vài gia phả chép rằng tổ tiên họ đã vào đất này từ thời Hồ Quý Ly. Ý chí Hồ Quý Ly như chiêu mộ người có của nhưng không có ruộng vào đây, “Hán Thương mộ dân nộp trâu để cấp cho dân mới dời đến Thăng Hoa, người nộp được ban tước”; và cũng tổ chức “cho thuyền chở vợ con vào theo”(34) là chưa từng có kể cả các triều đại sau này. Thế nhưng sự thành bại lại không nằm ở ý chí ấy.

Ngoại trừ một số họ Chiêm ghi theo âm Hán đọc thành Phan, Phạm, Đặng thì Hồ Quý Ly còn ban cho họ Đinh với một số người Chiêm hàng phục(35).

(Xem thêm: “Dân Kinh cựu” trong phần Tổng luận, trang 190)

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.