Sau 1471, giọng nói người Quảng Nam, phương ngữ III đã định hình và không còn có thể thay đổi được nữa, cho dù người Việt sau 1471 di dân vào có đông đúc bao nhiêu đi nữa thì họ cũng phải hòa nhập vào vùng ngôn ngữ mới. Có thể thế hệ cha ông là vẫn giữ giọng quê hương bản quán nhưng đến thế hệ con cháu thì hoàn toàn hòa nhập, vấn đề giọng nói người Quảng Nam giai đoạn này không có nhiều chuyện để bàn. Sau đây là vài sử liệu được ghi chép trong giai đoạn này, những sử liệu giúp chúng ta có thể khẳng định được một cách tương đối chắc chắn là giọng nói Quảng Nam, hay nói rộng hơn là phương ngữ III đã hình thành từ trước đó, tức trước 1471.
5-1/ Tự điển Việt - Bồ -La của Alexandre de Rhodes cho thấy giọng nói Quảng Nam đã phổ biến rộng rãi, đại diện cho cả tiếng Việt trong cái nhìn của Alexandre de Rhodes vào những năm đầu thế kỷ XVII. Alexandre de Rhodes đến Việt Nam vào cuối năm 1624 và vùng đất ông đặt chân lên là Hội An. “Khi tôi đến Đàng Trong, nghe người bản xứ nói với nhau, đặc biệt là các bà, tôi nghe dường như tiếng chim líu lo, khiến tôi thất vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ học được thứ tiếng ấy”. Tuy nói vậy nhưng dầu muốn hay không ông cũng phải học tiếng nói ấy. Và người dạy ông học tiếng Việt là một cậu bé Quảng Nam 13 tuổi. Khi Alexandre de Rhodes soạn bộ tự điển Việt-Bồ-La thì ông ở Đông Kinh (Hà Nội) và chính điều này đã góp phần không nhỏ vào sự chuẩn hóa trong ký âm tiếng Việt. Thế nhưng những dấu vết tiếng Việt của người Quảng Nam vẫn còn khá nhiều mà hôm nay chúng ta có thể dễ dàng nhận ra chẳng mấy khó khăn:
Tôi = tui, tau
Bán bao nhiêu = bán mấy
Qua = tôi
Bậu = bạn, mầy
Các anh = Bay, chúng bay
Đọc = đăọc
Học = hăọc
Kêu = keo
Vui vẻ = dui dẻ
Chốc lát = chặp
Trứng vữa - tlứng dửa
Bận việc = Mắc việc
Mừng hỉ, thương hỉ, khó hỉ = mầng hẻ, thương hẻ, khó hẻ.
Ông nọ ông tê.
Công việc = công uiec(176)
…
5-2/ Trước Alexandre de Rhodes gần 100 năm, tức 1553, trong Ô Châu Cận Lục, Dương Văn An cũng đã nhiều lần phân biệt tiếng nói của vùng Châu Hoan và Châu Hóa. “Xét châu Ô, Lý ta… khảo cứu tận ngọn nguồn thì đất này từ đời Hồ, Lê trở đi, triều đình mới đặt thành quận, huyện. Từ sau khi nhà Trần, nhà Hồ ra chiếu cho dân chuyển đến sinh sống, thì về ngôn ngữ gần giống dân Châu Hoan” (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay)(177). Gần giống với Nghệ An, Hà Tĩnh chính là giọng Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, thuộc phương ngữ II. Ở chỗ khác, chủ yếu là các huyện, xã thuộc Châu Hóa, phía nam vùng đất Ô, Lý thì Dương Văn An rất nhiều lần dùng cụm từ “nói tiếng Châu Hóa”. Ví dụ như vùng huyện Tư Vinh: “Lại Thị nói tiếng Châu Hóa, mặc áo Chiêm, thói lễ bỉ lậu”(178). Lại Thị thuộc huyện Tư Vinh. Huyện Tư Vinh lúc ấy bao gồm cả các huyện Bắc Hải Vân (Phú Lộc nay) và Nam Hải Vân. Đà Nẵng ngày nay cũng thuộc huyện Tư Vinh lúc ấy. Câu: “Lại Thị nói tiếng Châu Hóa, mặc áo Chiêm, thói lễ bỉ lậu” phải chăng để nói về vùng Đà Nẵng?
Vùng Bắc Hải Vân chúng ta cũng có một làng Mỹ Lợi nói giọng Quảng Nam. Dương Văn An không nói đến giọng nói người huyện Điện Bàn (thuộc Châu Hóa), thế nhưng những gì ông nói về Châu Hóa như vậy, đủ để có thể hình dung cảm nhận của ông về phong tục, tập quán người Châu Hóa lạ lẫm trong mắt ông đến như thế nào, mặc dù họ vẫn được xem là người Việt với đầy đủ nghĩa của nó; đặc biệt về giọng nói ông đã phân biệt khá rõ giọng nói của người Châu Hoan là khác với người Châu Hóa. Giọng Châu Hoan là giọng nói của người Khu 4, phương ngữ II là điều có thể chắc chắn; vậy giọng Châu Hóa là giọng gì, nếu không phải là giọng Quảng Nam?
Như vậy, theo Dương Văn An, người Châu Hoan nói giọng nói thuộc phương ngữ II và Châu Hóa là phương ngữ III. Phương ngữ III lúc này mới chỉ đến đèo Cù Mông. Như vậy tiếng Châu Hóa, hay tiếng Quảng Nam, đã được phân biệt khá rõ với tiếng nói người Châu Hoan, hay nói cách khác là đã được hình thành từ trước 1553 và đến nay chẳng thay đổi mấy.
Chưa tìm thấy thêm một sử liệu nào khác để có thể biết được tiếng Châu Hóa đã được sử dụng trước đó nữa, thế nhưng, theo chúng tôi như vậy cũng đã là đủ để có thể chắc chắn rằng giọng nói Quảng Nam đã hình thành từ trước thế kỷ XVI.