1/ Trước 1306

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 453 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1/ Trước 1306

❊ ❊ ❊

Việt - Chàm đã có mối quan hệ lịch sử rất dài gần 1.000 năm trước khi Huyền Trân bước chân qua khỏi đèo Hải Vân.

Trước thế kỷ X kinh đô vương quốc Chiêm Thành là vùng Trà Kiệu, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam hiện nay. Giai đoạn này về trước Chiêm Thành là một quốc gia hùng mạnh, họ nhiều lần đánh ra bắc đèo Ngang, lúc này thuộc nhà Đường, và dĩ nhiên bắt rất nhiều tù binh người Việt mang về. Ít nhiều những tù binh này tạo được một cái nhìn quen thuộc cho những cư dân Chiêm vùng kinh thành và điều này sẽ khiến người lao động Chiêm Thành, tức những dân quê ít học, ít quan tâm đến chính trị không cảm thấy quá sợ hãi khi những đại quân Việt kéo đến sau này: Thậm chí ngay từ đầu những năm lập quốc của quốc gia Chiêm Thành một người Giao Châu (Việt?) là Phạm Văn đã làm vua xứ này và tạo thành một vương triều thứ hai kéo dài gần 100 năm. Phạm Văn vốn người Giao Châu (lúc này thuộc Đường) có cơ hội sang Trung Quốc học hỏi nên lúc về Lâm Ấp đã giúp vua Lâm Ấp là Phạm Dật xây dựng cung điện, làm thành trì và khi Phạm Dật chết thì Phạm Văn tự xưng lên làm vua Chiêm Thành. Quả thực trong mắt của người Việt thì người Chiêm xa lạ, khó hiểu hơn nhiều so với người Chàm nhìn người Việt. Điều này cũng dễ hiểu bởi bản sắc văn hóa của hai dân tộc, trong khi người Chàm vùng Quảng Nam nay quá đậm nét văn hóa Ấn Độ với những vị thần khó hiểu(16) thì người Việt vùng Thanh - Nghệ, lúc thuộc Đường, còn khá mờ nhạt nét văn hóa Trung Hoa, đời sống tâm linh khá hiền lành, đơn giản… Chính điều này sẽ khiến người Việt sau này (sau 1306) khi vào sống cạnh người Chiêm họ sẽ không gây cho người Chiêm những khó chịu, những áp lực tâm lý đến mức không thể chung sống mà phải bỏ đi.

Và khi Lê Đại Hành (Lê Hoàn) lên ngôi rồi đem quân đánh Chiêm lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, năm 982, ông cũng đã đem quân vào đến kinh đô Chiêm Thành lúc này là Đồng Dương (huyện Thăng Bình ngày nay) đóng quân ở đó một năm mới trở ra. Thậm chí một vị quan quản giáp của Lê Đại Hành là Lưu Kế Tông đã trốn ở lại khi đại quân kéo về rồi tự xưng làm vua nước Chiêm Thành cai trị vùng đất miền Bắc nước này. Sau cuộc thất bại này người Chiêm dời kinh đô vào Đồ Bàn (Bình Định). Bao nhiêu binh lính người Việt cùng với Lưu Kế Tông ở lại sau sự kiện 982? Một năm đóng quân ở đất này chuyện gì xảy ra giữa hàng vạn binh lính và dân Chiêm bản xứ? Lưu Kế Tông làm vua có quyết định dùng tiếng Việt thay cho tiếng Chàm trong các quan hệ xã hội? Có buộc người dân ăn ở theo nếp Việt? Có khuyến khích người Việt di dân vào và có tạo ra một sự ưu đãi nào đó cho những di dân đầu tiên ấy?

Năm 1020 Lý Thái Tổ cử người đi đánh Chiêm Thành nhưng chỉ đến Bố Chính, Quảng Bình ngày nay. Năm 1044 Lý Thái Tông dẫn 12 vạn quân đánh thẳng vào đến sông Thu Bồn, chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu ở đây rồi dẫn đại quân vào Đồ Bàn, cho sứ đi khắp các nơi vỗ yên, phủ dụ dân chúng Chiêm Thành. Tầng lớp thượng lưu, giáo sĩ, chính trị hẳn đã bị chú ý thu gom, trừng phạt nhưng đa số dân trong các xóm làng là đối tượng của cuộc phủ dụ này. Năm 1069 Lý Thánh Tông phạt Chiêm lần thứ hai, bắt vua Chiêm là Chế Củ giải về Thăng Long. Chế Củ phải xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để được tha. Biên giới Đại Việt lúc này là Quảng Bình và một phần Quảng Trị bây giờ.

Từ đó đến 1306, tức 237 năm, không có cuộc tiến đánh nào của người Việt. Một phần do hợp tác đối phó với nhà Nguyên nên mối quan hệ Việt - Chiêm khá tốt, thậm chí vua Trần Nhân Tông đã vân du, một chuyến du lịch đến Chiêm Thành, lúc hữu hảo đã vui miệng, hay thực sự quý mến vua Chiêm mà hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ. Nhiều người cho rằng hai châu này thực ra đã thuộc về Việt.

237 năm không chiến tranh (thực ra là có nhưng chỉ là những cuộc cướp bóc của những toán thổ phỉ, cướp biển mà người Chiêm thời nào cũng có, thậm chí ở biển Đông và vịnh Thái Lan bây giờ cũng không thiếu) đủ sức, đủ thời gian để người Việt lấn dần từng bước dưới sự hỗ trợ của những Việt kiều vào trước như đã nói. Cái sự dâng hai châu Ô, Lý của Chế Mân để lấy được một người đẹp là chuyện lịch sử nhân loại ít thấy. Tuy vậy ta vẫn có thể hiểu được hành động này qua trường hợp tương tự của Mạc Đăng Dung khi cổ buộc dây thừng, đi chân đất đến phủ phục trước mạc phủ quân Minh xin hàng và dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù. Thực ra, theo “Đại Việt Địa dư Toàn Biên” thì 6 động ấy chưa bao giờ thuộc về Việt, năm Tuyên Đức thứ 2 người các động ấy làm phản, về với Giao Chỉ. Nay nhà Mạc lấy đất của họ mà trả cho họ, đó là một động tác chính trị và nhà Minh cũng chỉ cần cái danh ấy để không phải động binh lúc này đang rất khó khăn với quân Thanh. Chế Mân hẳn biết rằng so sánh tương quan lực lượng sẽ không bao giờ giữ được Ô, Lý nữa chi bằng làm thế để tăng mối hòa hiếu may ra giữ yên được vùng đồng bằng Quảng Ngãi trở vào trù phú hơn nhiều so với vùng Thừa Thiên, Quảng Trị.

Giai đoạn này có mấy sự kiện nổi bật cần chú ý:

Khó có thể xác định được điều gì về các mối giao lưu văn hóa Việt - Chàm giai đoạn này. Chỉ với hai sự kiện người Việt làm vua đất Chiêm Thành tạo nên hai triều đại khá dài lâu ta có thể hình dung phần nào vị trí người Việt trong xã hội người Chàm. Giai đoạn này cuộc Nam tiến của người Việt diễn ra chủ yếu trên vùng đất giữa hai đèo Đèo Ngang và Hải Vân. “Dấu vết” cuộc “giao lưu” này còn lại khá rõ ở một số ốc đảo dân cư nằm rải rác ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Thừa Thiên - Huế, ví dụ như các ốc đảo thổ ngữ ở các làng Cao Lao Hạ, Mỹ Lợi… lâu nay như một câu hỏi không lời đáp thì nay có thể giải thích được qua việc phân kỳ này(17). Gần đây, các cuộc khảo cổ hoàng thành Thăng Long giai đoạn Lý Trần cho thấy nhiều yếu tố Chàm trong các kiến trúc, điêu khắc; và ở ngay Mỹ Sơn cũng đã tìm thấy nhiều chữ Hán (chữ Trần) ẩn trong các viên gạch, đá ở tháp G1, có niên đại xây dựng trong thế kỷ XIII chứng tỏ mối quan hệ Việt Chàm, là sâu sắc và gắn bó hơn rất nhiều những gì chúng ta nghĩ, nó cần một sự nghiên cứu thấu đáo và toàn diện hơn những gì vừa nhìn thấy trong lớp gạch ngói đổ nát vừa tìm thấy ở Thăng Long(18).

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.