Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 566 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3.1 Giọng Quảng Nam ở Bắc Thu Bồn (trước 1402)

❊ ❊ ❊

Thế nhưng ở vùng đất Nam Hải Vân thì hình thành nên một phương ngữ hoàn toàn khác không chỉ là thanh âm, điệu tính, ngữ điệu mà hầu như phần lớn các nguyên âm đều biến đổi xa đến mức như chưa hề có trên thế giới!

Cần nhớ rằng Bắc Hải Vân và Nam Hải Vân thời thuộc Châu Hóa là có cùng thời điểm sáp nhập vào Đại Việt thế nhưng giọng nói người hai miền (tức giọng Huế và giọng Quảng) thì khác nhau trời vực. Điều này cho thấy sự chia cắt bởi đèo Hải Vân là không quan trọng mà vấn đề nằm ở thời điểm hình thành thuộc về các yếu tố lịch sử dân cư tác động vào. Chúng ta hãy cùng xét xem yếu tố nào nổi bật đã tạo nên giọng nói Quảng Nam qua đó quan trọng nhất là nhận diện được chân dung cái cộng đồng dân cư tạo nên vùng thổ ngữ đó.

Hãy dõi theo từng năm kể từ 1306 cho đến 1402.

Lý thú là các địa phương phía nam sông Bà Rén có giọng nói khá gần với giọng nói người Thanh Hóa với những “lỗi” giống nhau mà người phía bắc sông Bà Rén không mắc phải; tức dấu ấn 1402 ấy đã để lại khá rõ ở các huyện nam Thu Bồn gồm Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước hiện nay, chúng ta sẽ khảo sát sau vì câu hỏi lúc này là: Giọng nói người Bắc sông Thu Bồn bao gồm các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An, Đại Lộc và TP. Đà Nẵng đã hình thành, có mặt trên dải đất hẹp miền Trung này từ lúc nào?

Sau 1306, Chiêm Thành vẫn kiểm soát phía nam Hải Vân mặc dù đất này đã thuộc Châu Hóa của Đại Việt. Vấn đề là cho đến nay chúng ta có rất ít tư liệu về những cư dân Việt vào sớm và ở lại đất này cùng với dân Chàm để tạo nên thổ ngữ Bắc Thu Bồn ngoài vài dòng tư liệu ít ỏi đã được khảo sát ở mục “Dân Kinh cựu” (trang 188).

“Phan tộc phổ chí” cho ta biết bên cạnh việc cô công chúa nhà Trần về làm dâu họ Phan ở Đà Sơn còn có nhiều bà vợ mang họ Việt khác làm vợ 4 đời kế tiếp được ghi trong gia phả gồm có các bà: Phạm Thị Xuân Quang, Phùng Thị Đính, Nguyễn Thị Thông, Nguyễn Thị Phước Chỉ, Lê Thị Tài, Lê Thị Ngọc Mỹ, Phạm Thị Hoài, Ngô Thị Huy, Ung Thị Thận, Đỗ Thị Nhựt Tân… không thể biết chắc chắn các bà là người Việt thuần hay người Chàm mang họ Việt nhưng cũng đủ để ta biết chắc bên cạnh tộc Phan còn có những tộc này nữa như: Phạm, Phùng, Lê, Ngô, Ung… Hơn thế nữa Phan tộc phổ chí cũng còn cho ta biết một số tộc họ khác nữa cũng cùng ở trên mảnh đất Đà Sơn như: Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ (cùng là tiền hiền làng Đà Sơn)… Điều đó có nghĩa lúc ấy, trước 1402, ở vùng đất thuộc Đà Nẵng nay nhiều tộc họ người Việt đã định cư và ở bên cạnh người Chàm một cách thân thiết, mối quan hệ thông gia trai Chàm lấy vợ Việt hoặc ngược lại hẳn không phải là chuyện hiếm, qua đó cho phép chúng ta có thể tin rằng tiếng Việt đã được sử dụng không phải ở mức độ cá biệt, đơn lẻ.

Một trường hợp khác cũng tạo nên nhiều khả năng hòa hiếu giữa cộng đồng hai dân tộc ở vùng đất này. Năm 1397, tướng Chiêm Thành là Chế Đa Biệt cùng với em là Mộ Hoa Từ Ca Diệp đem cả nhà sang hàng. Quý Ly ban họ Đinh cho anh em nhà này. Đa Biệt đổi tên thành Đinh Đại Trung và cho trấn thủ Hóa Châu(160). Đinh Đại Trung tham mưu cho nhà Hồ rất nhiều khi quân nhà Hồ tiến đánh Chiêm Thành. SKTT ba lần đề cập đến Đinh Đại Trung, trong đó có những mô tả khá chi tiết như “Đinh Đại Trung cưỡi ngựa đi trước các quân”(161) cho thấy ông như một công thần mặc dù sau khi tử trận không còn được nhắc đến nữa. Đinh Đại Trung trấn thủ Hóa Châu cũng có nghĩa người Chàm thân Việt ở lại không ít và người Việt không hề gặp khó khi định cư sống cạnh người Chàm trong các năm trước 1402.

Giai đoạn này người Việt là số ít nhưng trong 5 năm ấy họ là người nắm quyền lực. Họ có thể phải nói tiếng Chàm trong giao tiếp với người bản địa và ngược lại người Chàm cũng đã bắt đầu phải sử dụng tiếng Việt nhiều hơn trong các hoạt động thường ngày so với trước đó. Họ là số đông nên không có nhu cầu phải phát âm cho đúng giọng người Việt. Và như nhà ngôn ngữ Meillet nói: “Khi một ngôn ngữ biến đổi nhiều, tạo ra một bộ mặt mới khác với trước đó thì rất có thể là có một bộ phận dân cư đã thay đổi ngôn ngữ”. Cái cách người Chàm nói tiếng Việt giai đoạn này phải chăng là tiền đề để hình thành nên giọng Quảng và phương ngữ III sau này?

Vấn đề vẫn cần phải nhìn sâu hơn là người Chàm đã học nói tiếng Việt lúc ấy là thứ tiếng Việt của giọng Bắc hay giọng Nghệ, tức phương ngữ I hay phương ngữ II?

Tiến sĩ Huỳnh Công Bá trong công trình “Cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII? đã gần như bỏ qua lớp di dân trong toàn bộ thế kỷ XIV và nửa đầu thế kỷ XV (1306-1446). Lập luận của ông là: “Do chiến tranh kéo dài, lại nằm trên hành lang quân sự Chiêm - Việt và thiếu nhân lực khai phá, Bắc Quảng Nam phần lớn trở lại hoang hóa”(162). Có thể nói quan niệm người Việt vào Nam là vào vùng đất hoang, chốn không người đã được nhiều thế hệ từ người bình dân đến cả giới nghiên cứu thừa nhận như một mặc định tất yếu. Mặc dù Huỳnh Công Bá đã trích dẫn được câu “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm” của Lý Tử Tấn trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, nhưng ông vẫn không từ đó để có thể truy tìm sâu hơn “số phận” cũng như số lượng người Việt đã ở đây cũng phải đã đông đúc đến mức nào đó đủ để chép vào Dư Địa Chí! Mời xem thêm mục “Dân Kinh cựu” ở trang 190.

Và chúng ta có thật ít những cứ liệu để có thể từ đó suy luận hoặc cảm nhận được điều gì thật chắc chắn. Trong Phương ngữ học của Hoàng Thị Châu chúng ta tình cờ thấy ở thôn Đông Tỉnh ở xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình: “các nguyên âm tròn môi ô, o được kéo dài và theo sau là những phụ âm -ng, -k không ngậm môi. Trẻ em hát câu đồng dao “cho dê đi học, cho cóc ở nhà, cho gà bới bếp…” thành ra “… cho dê đi hoọc, cho coóc ở nhà, cho gà bới bếp…”(163). (Âm cóc, học bình thường là một âm khép môi về cuối, các bạn không nắm chắc ngữ âm học nên đọc thử chữ coóc không ngậm môi cuối âm sẽ nhận ra nét đặc trưng này. Và người Quảng Nam đều nói vậy, không khép môi về cuối, với các chữ như tóc, móc, trong, (phát âm gần như tác, mắc, traong…).

Là một người Quảng Nam, chúng tôi cảm nhận sự tương đồng sâu sắc ở ví dụ các nguyên âm bị kéo dài và không khép môi này. Câu đồng dao trên nếu được nói thành gòa thì hoàn toàn là một giọng Quảng Nam không nhầm lẫn. Mặc dù không thể từ đó kết luận được là giọng nói người Quảng Nam ảnh hưởng bởi một yếu tố nào đó từ Thái Bình, thế nhưng điều đó vẫn cho phép ta hình dung về giọng nói người Bắc Quảng Nam đã được hình thành do những người Chàm tiếp nhận từ nhóm người Việt nào đó không chỉ Thanh Hóa mà còn cả các tỉnh khác ở đồng bằng Bắc Bộ.

Chưa tìm thấy trường hợp âm [a] được nói là [oa] trên đất Bắc, ngay cả trên toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ, hay ngay cả trên toàn thế giới cũng vậy, âm [a] là một âm chuẩn và dân tộc nào, cộng đồng nào, phương ngữ nào, thổ ngữ nào cũng có một âm [a] chuẩn; chỉ riêng Quảng Nam thì không! Và nó đã trở thành như một đặc điểm riêng có, không nhầm lẫn của giọng nói người Quảng Nam.

Mặc dù không thể truy nguyên sự biến đổi âm [a] này chúng ta vẫn thưa thớt vài ví dụ như âm [o] kéo dài và không khép môi ở trên để nói về nguồn gốc Bắc Bộ của những di dân người Việt vào đây trước 1402. Bên cạnh đó hiện tượng mất hẳn điệu thức cũng như ngữ điệu của câu nói (những lỗi người nước ngoài nói tiếng Việt thường mắc phải) vẫn đủ một cách tương đối cho chúng ta hình dung phần nào những gì đã xảy ra trong nhưng năm “mờ mờ nhân ảnh” ấy.

Như vậy có thể tạm kết luận: Người Chàm giai đoạn này nói tiếng Việt và tiếng Việt họ tiếp nhận thời nhà Trần mang nhiều yếu tố vùng đồng bằng Bắc Bộ, tức đủ 6 dấu thanh (việc người Quảng Nam nhập hai dấu hỏingã thành một như đã phân tích trên, là không quan trọng bằng việc người Khu 4 nhập hai dấu sắcnặng thành một). Bên cạnh việc người Chàm nói tiếng Việt thì chuyện người Việt nói tiếng Việt sang đến thế hệ thứ 2-3 trên vùng đất mới, trong điều kiện không còn quan hệ với bản quán cũng là yếu tố để tạo nên một phương ngữ mới.

Hiện nay, chúng ta mới chỉ có cuốn gia phả của tộc Phan làng Đà Sơn là cuốn gia phả cổ nhất và cũng đáng tin nhất, trong đó ngoài chuyện nói rõ có các tộc Phan, Nguyễn, Kiều, Đỗ của người Việt vào khai hoang lập ấp ở lẫn với người Chiêm Thành chúng ta còn thấy tên họ của các bà vợ được ghi khá rõ như: Trần Ngọc Lãng (công chúa nhà Trần), Phạm Thị Xuân Quang, Phùng Thị Đính, Nguyễn Thị Thông, Nguyễn Thị Phước Chỉ, Lê Thị Tài, Lê Thị Ngọc Mỹ, Phạm Thị Hoài, Ngô Thị Huy, Ung Thị Thận, Đỗ Thị Nhựt Tân… Điều này chứng tỏ người Việt đã có mặt ở đây trước năm 1402 là khá đông và nhiều tộc họ. Cứ một người quan hệ với hai ba người Chàm, dạy cho một người Chàm nói tiếng Việt trong vòng 5 năm thì ta cũng có ít nhất vài chục ngàn người Chàm bắt đầu nói tiếng Việt.

Từ 1306 đến trước khi Chế Bồng Nga tử trận (1390), Chiêm Thành cực mạnh và họ hoàn toàn làm chủ vùng đất này. Có thể nói giai đoạn này hoàn toàn không có những di dân người Việt mới. Người Việt cũ, chí ít là những tộc họ được ghi trong “Phan tộc phổ chí” là những người Việt vào trước tức “dân Kinh cựu” đã tự nói, tự điều chỉnh, tự nghe, tự hiểu cùng nhau đã sản sinh nên giọng nói Quảng Nam không còn giống với bất cứ nguyên gốc nào. Điều cần chú ý ở đây chính là việc sau đám cưới Huyền Trân không có những làn sóng di dân lớn, thậm chí ngay sau khi Chế Mân chết vùng đất này đã thuộc về lại với người Chàm, đến thời Chế Bồng Nga càng không có di dân mới. Chính 100 năm mất quan hệ với quê hương bản quán là nguyên nhân trước hết, một điều kiện cần phải có để những người kinh cựu thế hệ 2-3 cũng phải từ bỏ giọng nói của cha ông để nói theo thứ tiếng Việt của người Chàm bản địa.

Và dĩ nhiên thứ tiếng Việt do những người Chàm đã từ bỏ tiếng mẹ đẻ để nói tiếng Việt này, tạo nên giọng nói không hề có trên cõi đời này trước đó, nay mới xuất hiện là đầu tiên, là thứ nhất. Và sau đó, giọng Nam Thu Bồn, giọng Quảng Ngãi rồi Bình Định Phú Yên mới thứ tự hình thành theo những bước đi của lịch sử về sau này.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.