Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 538 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. “DÂN KINH CỰU”

❊ ❊ ❊

Rất ngẫu nhiên, trong Đại Nam Thực Lục, năm 1835, chúng tôi bắt gặp một chi tiết vô cùng lý thú nói về những người Việt vào sớm, ở lại với người Chàm như sau: “Tương truyền xưa kia nhà Trần gả con gái cho vua Chiêm Thành, hơn 10 người thân thuộc đi theo, về sau lấy người Chiêm Thành sinh con đẻ cháu đời đời ở đây. Lại nữa, đầu bản triều ta (tức Nguyễn Hoàng), khi đánh lấy được Chiêm Thành, phái lính Kinh đến đồn thú đất ấy, giả hoặc có người ở lại, không về, sau lấy vợ Chiêm Thành, sinh con cháu, đều gọi là dân Kinh cựu(185).

Chi tiết này cho thấy các sử quan thời Minh Mạng đã dùng khái niệm “dân Kinh cựu” để chỉ những người Việt vào sớm ở hòa lẫn với người Chàm lâu đời từ thời Huyền Trân (1306) kéo dài đến thời chúa Hiền - Nguyễn Phúc Tần sai quân đánh lấy Phan Rang năm 1653. Lúc này, 1835, khái niệm dân Kinh cựu hẳn còn sử dụng đâu đó trong đời sống, đây có thể là trường hợp sử dụng đến cụm từ này lần cuối cùng và có thể là duy nhất trong lịch sử. Theo chúng tôi, với những phân tích sau chúng ta sẽ thấy cụm từ “dân Kinh cựu” sẽ chủ yếu là dành cho những người Kinh vào Nam từ trước 1471 chứ đến những năm chúa Nguyễn Phúc Tần đánh lấy Phan Rang thì có lẽ những người này không giữ vai trò gì lớn.

Vị sử quan chép câu này cũng hoàn toàn dựa theo truyền thuyết chứ thực tế thiết nghĩ chỉ 10 người thì khó mà tạo nên được điều gì khả dĩ, ngoại trừ họ ở nơi hoang đảo. Cho dầu đúng như vậy đi chăng nữa, số người Việt theo Huyền Trân chỉ đúng 10 người, thì đến 1402 nhà Hồ đã tổ chức cho hàng ngàn người vào Thăng, Hóa, Tư, Nghĩa. Đến 1471 hoặc 1602 với những làn sóng di dân sau này thì họ, những người vào từ thời nhà Hồ đó, cũng đã trở thành dân Kinh cựu. Vì vậy, nếu nói như vị sử quan nọ, dân Kinh cựu là từ 10 người theo Huyền Trân “lấy người Chiêm Thành sinh con đẻ cháu đời đời ở đây” là không thỏa đáng. Mặc dù vậy cũng xin biết ơn vị sử quan nọ vì ông đã kịp lưu giữ lại một tên gọi mà nếu không chúng ta hoàn toàn mất đi một thuật ngữ mà qua đó như phản ảnh cả một giai đoạn lịch sử lâu dài và cũng nhiều thăng trầm, chứa giấu bên trong bao số phận hầu như bị lãng quên của lịch sử dân tộc.

Nói đến những người Việt vào sớm này Lý Tử Tấn trong sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi (1435) cũng có một cách mô tả khá ấn tượng như sau: vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính hung hãn, quen khổ sở. Triều trước (nhà Trần) dùng họ để ngừa người Chiêm”(186). Ghi chép này của Lý Tử Tấn mặc dù câu chữ có phần miệt thị nhưng vẫn cho ta thấy vai trò không hề nhỏ của “dân Kinh cựu”, tức những người Việt ở lại.

Và đây đó ta lại thấy số phận long đong và cả nỗi hưng phế, thịnh suy của những người Việt vào sớm, ở lại cùng với những người Chàm này:

Khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần thì số phận những người thân họ Trần ở lại được phản ảnh trong Phan tộc phổ chí: “Đến khi nghe viên tướng họ Hồ dời đổi ngôi nhà Trần, Tiên công gọi hai con về, nói: hai con là cháu ngoại nhà Trần, nhà Trần đã bị suy yếu, dời đổi, hai con ắt nguy, hãy sớm lo liệu cách nào để khỏi gặp họa… Ông con trai thứ thâu hết giấy tờ sổ sách đến yết kiến quan nhà Hồ, nói dối là chào mừng chính quyền mới và vâng lĩnh công việc triều Hồ để tránh hiềm nghi. Viên quan nhà Hồ thiết đãi yến tiệc rồi giao cho ông nhận số lưu dân Giao Chỉ, tha dòng tôn thất nhà Trần, dân phản nhà Ngô (tức người Hoa lưu dân) chia ở các trại để khẩn ruộng. Ông nghĩ đến tộc Trần là tộc mẹ, ông bằng lòng nhận lời, về xuất lúa trong kho, cho làm nhà để ở, mỗi bếp cấp năm, bảy mẫu ruộng để quản nghiệp”(187).

Năm 1407, Sử Ký Toàn Thư chép: “Đến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ dân di cư sợ chạy tan cả”(188). Và điều vô cùng lý thú là cũng sự kiện này ta lại thấy trong gia phả tộc Phan làng Đà Sơn - Đà Ly: “Khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ đem đất Chiêm Động Cổ Lũy trả lại cho Chiêm Thành thì người Việt do họ Hồ điều vào nay lại chạy ra Hóa Châu (ngoại ô TP. Huế nay), ông Phan Công Nhân vẫn khôn khéo xử trí để bảo đảm cho người Việt được an toàn”(189).

Lần dùng khái niệm “dân Kinh cựu” trong ĐNTL lần này có thể là lần cuối cùng tên gọi này được dùng đến, sau này không thấy dùng đến nữa và cũng không có cơ hội dùng đến nữa, trong khi trước đó trong nhiều trăm năm tên gọi này hẳn được nhắc đến thường xuyên. Vào giai đoạn trước 1471 chắc chắn những người thuộc dân Kinh cựu này là một lực lượng quan trọng không chỉ góp phần vào các cuộc tiến đánh của Đại Việt mà còn là lực lượng quan trọng trong việc hỗ trợ những nhóm người di dân đến sau, bảo vệ, bao che cho người Việt mới vào một khi quân Chiêm Thành chiếm lại đất hoặc bài xích, hoặc xua đuổi, truy đuổi. Và quan trọng nhất chính họ là người đã tạo ra và gieo mầm cho một phương ngữ mới hình thành và tồn tại trên nửa nước, phương ngữ III. Và còn hơn thế nữa chính họ, những người “nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính hung hãn, quen khổ sở” đã tạo nên cả một vùng văn hóa với những nét bản sắc độc đáo nhưng chưa được hiểu thấu đáo.

Thực sự chúng tôi đã rất vui khi như là lần đầu tiên tìm thấy hẳn một tên gọi riêng để nói về những người tiên phong văn hóa này. Nếu cân nhắc thật chính xác thì vai trò của họ là vô cùng quan trọng trong thời kỳ 1306 đến 1471. Thời gian dài cũng gần như sự chia cắt của lũy Trường Dục, thế nhưng đó thực sự là những năm tháng quan trọng để hình thành nên bản sắc Quảng Nam nói riêng, Nam Trung Bộ nói chung và lớn hơn nữa là cả xứ Đàng Trong góp phần không nhỏ trong việc hình thành bản sắc Việt Nam hôm nay.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.