Ông tổng giám đốc MI-6 Anh quốc thường được gọi tắt là ông M., cũng như ông tổng giám đốc CIA Hoa Kỳ là ông Sìmít hoặc ông S. Đối với Văn Bình, ông M. không phải là nhân vật xa lạ. Chàng đã gặp ông nhiều lần từ Thế chiến thứ hai, hồi chàng còn phục vụ cho quân báo OSS, và ông M. còn điều khiển sở phản gián Anh quốc nhưng chưa được mệnh danh một cách kính nể là ông M.
Ông M. không xa lạ đối với chàng, nhưng không hiểu sao chàng vẫn thấy ông xa lạ. Thời gian trôi qua, con người phải thay đổi, gương mặt phải già đi, bụng phải lớn ra và vai phải còng xuống. Song ông M. vẫn chẳng hề thay đổi. Ông vẫn trẻ như hồi 20 năm về trước. Đứng trước mặt ông, chàng suýt buột miệng kêu " trời ". Về niên kỷ, ông lớn hơn ông Hoàng một giáp là ít. Tuy nhiên, người ta lại có cảm tưởng ông là em của ông Hoàng. Có lẽ tình báo Anh quốc được khai sinh từ lâu, nề nếp hoạt động đã có sẵn, ông M. chỉ có bổn phận hoàn bị và tối tân hóa cho thích hợp với đòi hỏi của thời đại mới. Do đó, ông M. ít lo nghĩ hơn ông Hoàng. Ông M. không già, 1 phần vì không phải chạy tiền chạy gạo từng bữa, nhưng phần chính cũng vì ông được giải phẫu cải lão hoàn đồng 1. Những nếp răn trên trán và ở đuôi mắt đã được thay thế bằng1 lớp da phẳng lì. Tóc ông cũng chỉ bạc lơ thơ tuy ông không ruộm. Y sĩ của MI-6 đã chích cho ông 1 thứ bạch tố làm tóc bạc trở thành đen.
Ông M. mỉm cười khi thấy Văn Bình bước vào. Văn phòng ông đã hoàn toàn thay đổi. Không phải là văn phòng có cửa sổ với chấn song sắt lớn bằng ngón chân cái và cửa ra vào gắn ổ khóa Vachette loại đặc biệt chống gian phi như ngày trước. Không phải là văn phòng bày biện mọi tiện nghi, gần như kênh kiệu như ngày trước với cái bàn giấy rộng mênh mông bằng gỗ đánh vẹt ni bóng loáng, bên trên đầy ắp hồ sơ và điện thoại đủ màu, và 2 cái ghế bành khổng lồ kê trước mặt.
Tất cả cửa sổ và cửa ra vào đã biến đâu mất. Gian phòng là 1 cái hộp bê tông vuông vức. Phòng ông Hoàng cũng không có cửa, và cũng được điều hòa khí hậu như vậy, nhưng lại thua về phương diện thiết trí bên trong. Vào văn phòng ông Hoàng ở Sàigòn -từng được coi là tân tiến nhất nhì thế giới- chàng còn thấy đèn giấu trong tường, trên trần, nhưng vào văn phòng ông M. chàng không thấy đèn đâu cả mặc dầu vẫn sáng như ban ngày ở ngoài vườn. Thì ra nền phòng và trần được lót 1 loại gạch phản quang đặc biệt, tự nó phát ra ánh sáng.
Ông M. ngồi giữa 1 cái bàn tròn bằng sắt sơn đen. Hình thù cái bàn thật kỳ dị. Nó giống như cái bàn tròn của tiệm ăn Tàu, chỉ khác là nó được che kín tứ phía và ăn sâu xuống đất, chính giữa được đục 1 lỗ tròn đường kính 1 thước. Ông M. ngồi lọt vào lỗ tròn đó. Trên bàn, Văn Bình không thấy hồ sơ, không thấy máy điện thoại, thẩm chí giấy bút cũng không thấy. Thay vào đó là những giãy nút khác cỡ và khác màu.
Trong phòng, ngoài cái bàn quái gở ra, chàng không thấy 1 đồ đạc nào hết. Trên tường, không có 1 bức hình hoặc tấm lịch để coi ngày tháng. Trước bàn, cũng không có ghế. Văn Bình ngơ ngác như lạc vào thế kỷ thứ 25. Ông M. ngồi giữa cái bàn tròn này để làm gì dĩ nhiên là để làm việc, nhưng làm việc cách nào Ông làm cách nào để nhảy vào giữa cái lỗ tròn ấy ông M. mời chàng vào bàn việc mà phòng không có ghế, vậy chàng ngồi đâu Chàng đành đứng sững giữa phòng. Ông M. vẫn ngồi yên, không đứng dậy, giọng sang sảng đượm vẻ thân mật :
-Chào anh. Xin lỗi anh nhé, tôi phải kéo lá chắn lên mới có thể bắt tay anh được.
Té ra chàng giận Ông M. quá sớm. Vì phương diện an ninh, Ông M. phải ngồi giữa bức tường bằng pha lê, nhưng vì pha lê trong suốt nên chàng không trông thấy. Một tiếng rè rè nổi lên. Cái hộp tròn vây quanh cái bàn tròn được kéo lên trần phòng rồi biếtn mất. Cái bàn tròn nứt ra làm hai, ghế Ông M. đang ngồi từ từ lăn đến gần Văn Bình. Ông M. đon đả chìa bàn tay trắng nõn nà như bàn tay đàn bà quý phái ra bắt Văn Bình. Vừa bắt tay xong, chưa kịp nói gì thì ông M. đã nói :
-Mời anh ngồi.
Nói chuyện lâu tất phải ngồi, nhưng ông M. muốn chàng ngồi ở đâu mới được chứ chẳng lẽ ông M. ngồi ung dung trên ghế, còn chàng phải ngồi bệt xuống đất dầu ông là tổng giám đốc 1 cơ quan điệp báo hùng mạnh, chàng chỉ là nhân viên của ông Hoàng, chàng cũng không thể hạ mình đến thế. Vì vậy, chàng tiếp tục đứng như trời trồng. Ông M. lại giục, chàng đành thốt ra :
-Thưa ông, không có ghế thì tôi ngồi đâu ?
Ông M. vẫn cười :
-Anh là thượng khách của tôi, tôi không sắm ghế mời anh sao được Anh thử nhìn xem đã có ghế chưa ?
Văn Bình toát bồ hôi. Ngay sau lưng chàng, 1 cái ghế bành bọc nệm đỏ, loại ghế khổng lồ mà ông Hoàng thửa riêng cho chàng ngồi ( vì chàng mắc bệnh đau lưng ? ) đã được kê chễm chệ không biết từ khi nào, không hề gây tiếng động. Và bên cạnh cái ghế bành, chàng còn thấy 1 cái bàn hình chữ nhật, bên trên có đầy đủ thuốc Salem và rượu huýt ky thượng hạng, nghĩa là những thứ chàng vốn ưa thích. Ông M. rót rượu mời chàng rồi giải thích :
-Tôi biết rằng những biện pháp an ninh của cơ quan tôi đã làm anh bực mình. Nhưng tôi không thể nào giản dị hóa hơn nữa. Không riêng MI-6, trong năm nay ông Hoàng cũng như ông Sìmít sẽ cho xây cất 1 văn phòng giống như của tôi. Sở dĩ chúng tôi phải gia tăng biện pháp an ninh là vì kỹ thuật giết người đã được tân tiến hóa tới mực độ vô cùng tinh vi. Cách đây 8 tháng, 1 cộng sự viên của tôi từ Mạc tư khoa trở về Luân đôn. Tại liên sô, y giả làm tài xế cho viên cố vấn sứ quán Anh nên không bị KGB để ý. Y đã giúp tôi được nhiều việc quan trọng. Tôi cho phép y hồi hương vì mẫu thân y đau nặng. Sau khi mẹ qua đời, y đến yết kiến tôi để nhận chỉ thị mới. Và trong khi trò chuyện, y rút súng lục bắn đạn xianuya ra ám sát tôi. Cũng may tôi không chết. Không chết vì 1 sự tình cờ kỳ lạ. Y sửa soạn rút súng lảy cò thì chuông điện thoại reo trên bàn tôi. Tiếng chuông kêu làm y sợ hãi, lóng cóng bắn trật ra ngoài. Bắn tôi xong, y quay họng súng lại để tự sát.
Vụ này không phải là 1 vụ tầm thường, vì hung thủ là người bạn thân của tôi. Y có liên hệ ruột thịt với tôi, lại được tôi nuôi nấng, cất nhắc từ tấm bé. Chính tôi kết nạp y vào cơ quan mật vụ, và đích thân huấn luyện cho y thành điệp viên hữu hạng. Y coi tôi như cha, y hoàn toàn trung thành với tôi, nếu tôi bảo y nhảy vào đống lửa y cũng sẵn sàng tuân lệnh và không cần hỏi là nhảy vào đống lửa với mục đích gì. Vậy mà y thản nhiên ám sát tôi.
Văn Bình đặt ly rượu xuống bàn :
-Nếu tôi đoán không sai, nhân viên này đã bị KGB giải phẫu thần kinh.
Ông M. lắc đầu :
-Đó là chuyện xưa. Chuyện 5, 10 năm trước. KGB áp dụng kỹ thuật mổ óc để biến người trung thành thành người phản bội, hoặc mổ óc và nhét vào trong óc 1 cái máy điện tử nhỏ xíu, khi cần KGB có thể ra lệnh cách xa hàng ngàn cây số cho đương sự, và đương sự sẽ làm bất cứ việc gì như thể người máy. Tuy nhiên, mổ óc phải có thời gian, nhân viên của tôi phải nằm bệnh viện ít nhất 1, 2 tuần lễ để điều trị 1 chứng bệnh nào đó rồi KGB lợi dụng tình trạng để đánh thuốc mê và đem đi giải phẫu. Nhưng trong thời gian y sống ở Mạc tư khoa, y luôn luôn khỏe mạnh, và chưa hề vào nằm bệnh viện 1 ngày, 1 giờ nào. Cho dẫu y bị mổ óc, tôi cũng có thể khám phá ra vì theo thông lệ, nhân viên từ phía sau bức màn sắt trở về đều được y sĩ khám nghiệm chu đáo. Y sĩ đã khám nghiệm y, và chẳng tìm thấy chi tiết nào khả nghi. Đến khi vụ ám sát xảy ra và y tự tử, tôi mới phăng ra nguyên nhân. KGB đã dùng phép thôi miên làm y mê man trong 1 đêm y lang chạ với 1 cô gái Nga. Sau khi bị thôi miên, y tỉnh lại và trở thành bình thường song mệnh lệnh của KGB đã in sâu vào tiềm thức y. theo mệnh lệnh, y phải ám sát một người có dung mạo như tôi, và như KGB dự tính, khi gặp tôi y rút súng ra bắn ngay. Không ngờ tiếng chuông điện thoại đã làm tiềm thức y rối loạn trong khoảnh khắc. Vì vậy tôi còn sống để tiếp chuyện anh hôm nay.
Ngừng 1 phút, ông M. nói tiếp :
- Sau vụ này, bắt buộc tôi phải thiết lập một hệ thống phòng thủ hữu hiệu ngay trong văn phòng và chung quanh bàn làm việc. Lá chắn pha lê mà anh vừa thấy có thể ngăn được đạn chống chiến xa.
-Nếu vậy ông còn cần gì người máy canh gác bên ngoài làm gì nữa ?
-Đó là hậu quả của mặt nạ cao su cải trang. Như anh đã biết, mặt nạ bằng chất cao su porotherme ngày nay có thể áp vào mặt người trông như thật. Tinh mắt cũng không thể biết là giả. Trong trường hợp tôi dùng vệ sĩ thông thường, đối phương có thể đeo mặt nạ porotherme giả làm vệ sĩ của tôi để lẻn vào văn phòng. Ba tháng trước, một điệp viên GRU đeo mặt nạ porotherme, cải trang làm viên trưởng ban Vật liệu đã lọt đến phòng bí thư, sắp sửa được dẫn đến gặp tôi thì bại lộ. Điệp viên GRU này có nhiệm vụ ám sát tôi. Từ đó, tôi bỏ hẳn phòng bí thư và chỉ dùng toàn rôbô điện tử. Những người máy có thể phân biệt được mặt thật, mặt giả trong vòng nửa giây đồng hồ. Nửa giây đồng hồ để nhìn xuyên qua quần áo khách xem có giấu võ khí hay không. Và nửa giây khác để xác nhận khách có đúng là người được tôi hẹn tiếp hay không. Tổng cộng người máy chỉ mất vỏn vẹn 1 giây rưỡi để kiểm soát an toàn, 1 việc mà con người phải mất 5, 10 phút. Hơn nữa, rôbô lại có sức mạnh phi thường. đạn bắn không xuyên thủng được áo giáp thép. võ thuật chỉ là trò đùa với rôbô. Dám rôbô lại được võ trang súng bắn đạn thuốc mê, thuốc tê hoặc hoặc thuốc độc và liên lạc thẳng với tôi bằng vô tuyến điện. Dùng 1 rôbô đắc lực hơn dùng 1 tiểu đội vệ sĩ. Trong tương lai, tôi sẽ có nhiều rôbô tân tiến hơn bọn rôbô anh gặp ngoài hành lang.
Ông tổng giám đốc MI-6 lại ngừng lời lần nữa. Có lẽ ông không quen nói nhiều. Ông châm điếu Salem hút 1 hơi dài. Văn Bình biết ông không hút Salem, chẳng qua ông hút để chiều lòng khách vì ông đã được ông Hoàng nói nhiều về bệnh ghiền Salem của chàng. Ông M. thở khói lên trần nhà, giọng nhỏ nhẹ :
-Tôi rất hân hạnh được anh cộng tác, vì công việc tôi sắp giao cho anh là công việc rất quan trọng và cũng rất khó khăn, phi anh không ai làm được. Tôi nhận thấy anh là điệp viên hội đủ điều kiện nhất. Anh là người Á đông, lại nói tiếng Tàu lưu loát…
Văn Bình ngắt lời :
-Ông muốn thả tôi xuống Hoa lục ?
-Thả thì không đúng, vì anh sẽ đến Hoa lục bằng phi cơ thương mãi đàng hoàng.
-Thưa, đến thẳng Bắc kinh ?
-Phải. Anh sẽ lưu lại Bắc kinh 72 giờ. Trong vòng 72 giờ ấy, anh phải cố gắng hoàn thành công tác. Anh sẽ đội lốt 1 người tàu sinh sống tại Anh quốc.
-Khoa học gia?
-Không phải. Anh thủ vai 1 chuyên viên về thôi miên học. đúng hơn, 1 y sĩ áp dụng khoa thôi miên vào việc trị bệnh, đặc biệt là bệnh liên quan đến những rối loạn sinh lý.
-Trời ơi, tôi có thể đội lốt ký giả, kỹ sư, thương gia, chứ còn y sĩ, nhất là y sĩ chuyên khoa thôi miên thì không hy vọng đánh lừa được ai. Phương chi Quốc tế Tình báo Sở là 1 trong các cơ quan điệp báo có con mắt quan sát tinh tế nhất thế giới.
-Anh thắc mắc cũng đúng, nhưng tôi đã nghiên cứu việc này kỹ lưỡng. Là ký giả, kỹ sư, thương gia, hay y sĩ dầu sao cũng chỉ là đóng kịch. Từ lâu, tôi vẫn khâm phục tài đóng kịch của anh.
-Thưa ông, tôi có thể cải trang tạm thời làm y sĩ vì tôi đã đọc nhiều sách về y học, cũng như được huấn luyện kỹ thuật điều trị cấp cứu thông thường. Nhưng về thôi miên học thì thú thật với ông, tôi mới là khóa sinh tập sự.
Ông M. cúi xuống tập hồ sơ trước mặt:
-Theo tài liệu ông Hoàng gởi cho tôi thì anh đã tốt nghiệp khóa F-2 trung cấp, nghĩa là anh đã có căn bản phong phú về thôi miên và ảo thuật, tạm đủ để tiến hành công tác này.
Nghe ông tổng giám đốc MI-6 nhắc đến khóa F-2, Văn Bình toát bồ hôi. Té ra ông Hoàng đã chuẩn bị từ lâu với ông M.! F là chữ Fakir viết tắt, mà Fakir là nhà quỷ thuật Ấn độ. Cách đây 4 năm, môn thôi miên và ảo thuật được ghi vào trong chương trình huấn luyện bổ túc. Chương trình này gồm 2 khóa, khóa cơ bản và khóa trung cấp. Khóa cơ bản kéo dài 1 tháng, còn khóa trung cấp kéo dài 3 tháng. Văn Bình cũng như 1 số đồng nghiệp cao cấp của Sở được học đủ mọi mánh khóe về thôi miên và ảo thuật. Sau khi tốt nghiệp, chàng có thể làm mọi người ngủ thiếp trong vòng 3, 4 phút đồng hồ. Tuy nhiên, phần lớn chàng chỉ học được cách "bịp" và khám phá ra cách "bịp" của giới ảo thuật quốc tế. Vì vậy chàng có thể đâm hàng chục cây kim xuyên qua da thịt mà không chảy máu, hoặc gây ra cảm giác đau đớn, viện cớ là vận dụng khoa học thôi miên. Sự thật, đó chỉ là ảo thuật "bịp". Trên cánh tay, bắp đùi, mông đít, trên má và lưỡi, con người có những điểm mà y học gọi là vô cảm, nghĩa là không có đường dây thần kinh cũng như không có mạch máu, mũi kim có thể đâm qua đâm lại như thường.
Văn Bình còn biết nằm dài trên cái bàn kim nhọn tua tủa, nhảy múa trên các mũi dao, trên thủy tinh sắc vụn, nhá đinh, nuốt rắn, và nuốt gươm mà thân thể không hề suy xuyển nữa. Nói đúng ra, không cần học phép fakir chàng vẫn có thể cởi trần nằm dài trên miếng ván có những cây đinh đóng cách nhau 10 phân tây vì da thịt chàng đã trở thành sắt thép nhờ phương pháp luyện công. Nhưng ảo thuật ở đây là "bịp" hoàn toàn. Một ngàn cây đinh đóng ngược đầu xuống bàn đều nhọn và sắc nhưng được đóng đúng phương pháp nên không làm cho nhà fakir bị thương. Văn Bình đang hồi tưởng lại chương trình huấn luyện thôi miên ảo thuật thì ông M. nói tiếp, giọng sang sảng:
-Tôi nghĩ rằng với số vốn phong phú thu thập tại khóa F-2 và kinh nghiệm nhiều năm hoạt động, anh có thể hoàn thành được nhiệm vụ "Người Yêu" tại Hoa lục.
Văn Bình cười tủm tỉm:
-Thưa, điệp vụ "Người Yêu"?
Ông M. cũng tủm tỉm cười lại:
-Phải. Tôi biết anh có ý châm biếm. trên thực tế, tôi cũng không nồng nhiệt với mật danh này nhưng vì trở ngại kỹ thuật, tôi không thể đổi tên được. Như anh đã hiểu, mỗi điệp vụ cần có 1 thời gian dài chuẩn bị, riêng điệp vụ này tôi sửa soạn từ 16 năm nay. Hồi đó, tôi đưa 1 nữ nhân viên xâm nhập Hoa lục. Khi rời Luân đôn lên đường, nàng xin tôi 1 ân huệ. Tôi chấp thuận liền. Theo truyền thống, nhân viên điệp báo được gởi đến các nước cộng sản đều được đãi ngộ đặc biệt. Tôi mở sẵn trương mục cho đương sự trong ngân hàng và chuyển vào 1 số tiền lớn để sau này, đương sự biệt tích, sẽ trao cho thân nhân thừa kế. Tôi đinh ninh nàng yêu cầu tôi sửa lại 1 điều khoản trong chúc thư để lại, song nàng chỉ xin 1 điều tầm thường, gần như hoàn toàn vô nghĩa. Nàng chỉ xin được đặt tên cho điệp vụ mà nàng có bổn phận thực hiện. Thể theo ý nàng, tôi đặt tên điệp vụ này là "điệp vụ Người Yêu".
Văn Bình chăm chú nghe ông M. giải thích, tàn thuốc lá Salem rớt cháy lủng ống quần mà chàng không để ý. Tuy chàng chăm chú nghe mà chẳng nghe gì cả vì tâm trí chàng đang suy nghĩ đâu đâu. Chàng được ông Hoàng kể lại ngày xưa ông M. là 1 thanh niên "bán trời không văn tự" có hàng đống người yêu. Ông đã đến tuổi gần đất xa trời mà vẫn chưa hết duyên thầm.
Ông M. gật gù nói tiếp:
-Kể ra mật danh "Người Yêu" cũng không cách xa sự thật là bao vì điệp viên của tôi đã hoạt động bên trong 1 động đào chứa hàng chục người đẹp ở Bắc kinh. Nhưng trước khi nói về động đào mỹ nhân, anh cần biết thêm 1 vài chi tiết về Soe-Fuk, nữ điệp viên của tôi.
Dĩ nhiên Soe-Fuk là tên Trung hoa hiện tại của nàng, và trong quá khứ, nàng mang tên khác. Nàng được phái vào đất Tàu năm 20 tuổi, 1 thời gian sau khi Mao trạch Đông kiểm soát toàn cõi Trung hoa. Soe-Fuk là người Tàu với phân nửa hoặc hai phần ba máu tây phương. Nói rõ hơn, mẹ nàng người Tàu chính cống, còn cha nàng là người Bắc Âu. Cha nàng từ Thụy Điển sang Viễn Đông lập nghiệp, trở thành giàu có, và cưới mẹ nàng làm vợ. Mẹ nàng là 1 danh ca Trung hoa. Về vũ, mẹ nàng cũng nổi tiếng. Sau khi lấy cha nàng, mẹ nàng bỏ nghề ca hát để vui hạnh phúc với chồng con trong tiền bạc. Nhưng chiến tranh Trung Nhật xảy ra, bom đạn đã làm sản nghiệp của cha nàng cháy ra tro. Tuy nhiên, gia đình nàng cũng chưa đến nỗi trở thành tay trắng nếu cha nàng không chết. Hai mẹ con mang nhau lên miền tây-bắc để tránh nạn binh đao. Mẹ nàng quay về nghề ca kỹ, còn nàng tấp tểnh theo nghề ruột của mẹ.
-Và mẹ nàng bị chết vì bom đạn?
-Anh nói đúng. ngoại trừ 1 số điệp viên chuyên nghiệp, điệp viên thiên bẩm như anh, nghĩa là sinh ra đã có khiếu điệp báo, và thích nghề điệp báo, còn hầu hết điệp viên trên thế giới đều là sản phẩm của nghịch cảnh. Soe-Fuk được liệt vào loại điệp viên nghịch cảnh. Nàng bước chân vào nghề vì "người yêu", vì nung nấu ý chí trả thù.
-thưa "người yêu" của Soe-Fuk bị quân đội Mao trạch Đông hạ sát?
-Phải. Năm nàng lên 15 tuổi, nàng đã biết yêu. Nàng hát rất hay, nàng vũ cũng rất giỏi, mặt nàng lại rất đẹp. Hồi ấy, mẹ con nàng đang sống ở Khai Phong, 1 tỉnh thuộc Hoa Trung, nằm giữa Bắc kinh và Nam kinh, tương đối ít bị khói lửa tàn phá. Như tôi đã nói, mẹ nàng đã lớn tuổi song dung nhan vẫn mỹ miều nên được nhiều nhân vật lớn tuổi trong vùng yêu thương. Mẹ nàng bắt tình với 1 viên tướng Quốc Dân Đảng. Đây không phải là tình yêu bay bướm của tuổi trẻ, song cũng không phải là tình yêu xác thịt của tuổi trung niên. Viên tướng này thành thật yêu mẹ nàng, và mẹ nàng cũng tìm thấy 1 niềm an ủi xứng đáng.
Nhưng cuộc nội chiến quốc-cộng lan đến Khai Phong. Viên tướng Quốc dân đảng bị giết, mẹ nàng bị bắt về làm của riêng của 1 sư đoàn trưởng quân đội Giải phóng. Mẹ nàng cương quyết không chịu để vùi hoa dập liễu nên đã bị hành quyết. Cái chết của mẹ nàng diễn ra 1 cách thê thảm: mẹ nàng bị trói giữa sân, gần cột cờ cho bọn vệ sĩ của viên tư lệnh Giải phóng hãm hiếp gọi là để làm lễ tế cờ. Mẹ nàng bị hãm hiếp đến chết, rồi thi thể bị vứt trong rừng rậm cho chim kên kên rỉa thịt.
Soe-Fuk đã nhanh chân thoát hiểm trong khi Giải phóng quân vây bắt mẹ nàng. Nàng núp trốn trong hang núi, chờ cho binh sĩ cộng sản rút đi nơi khác mới lẻn ra chôn cất mẹ. Hôm ấy là ngày rằm tháng bảy âm lịch, ngày xá tội vong nhân của người Trung hoa cũng như của người Việt Nam. Nhưng Soe-Fuk đã nguyện trả thù cho mẹ. Định mạng éo le đã khiến nàng yêu 1 lãnh tụ du kích Quốc quân trong vùng. Lãnh tụ này cũng bị giết, và cũng như mẹ nàng, nàng đã bị bắt về làm thê thiếp. Nhưng khác với mẹ nàng, nàng không phản đối kịch liệt, nàng ưng thuận nâng khăn sửa gối cho người chủ mới với hy vọng rửa được thù mẹ.
Nàng bắt liên lạc với phe Quốc dân đảng, tổ chức lấy tin tức và tiến hành phá hoại đắc lực ở hậu địch. Sau ngày quốc quân rút sang Đài Loan, nàng được giới thiệu với MI-6. Nàng giúp tôi được nhiều việc quan trọng. Nàng mắc bệnh gan, tôi phải đưa nàng qua Luân đôn điều trị. Khi hoàn toàn bình phục, nàng xin được trở về Hoa lục. Bằng tài nghệ và nhan sắc, Soe-Fuk đã len lỏi vào hàng ngũ của Quốc tế Tình báo Sở, và trở thành 1 trong những thê thiếp được sủng ái của đại tướng Kan-Yeh. Và trước kia, Kan-Yeh là tư lệnh sư đoàn giải phóng quân đồn trú ở Khai Phong.
-Soe-Fuk đã giết được Kan-Yeh để rửa thù cho mẹ?
-Chưa. Đến nay, Kan-Yeh vẫn còn sống, và hiện là yếu nhân của nền điệp báo Trung cộng. Hắn đang giữ chức phó tổng giám đốc, đặc trách hậu cần của Quốc tế Tình báo Sở.
-Thưa, nếu tôi không lầm, thì Soe-Fuk đã trở lại Hoa lục từ 15, 16 năm rồi, nghĩa là nàng đã ăn ở với kẻ thù giết mẹ nàng cả chục năm nay. Tôi nghĩ rằng thời gian này đã quá đủ để nàng phục hận. Cho nên tôi không hiểu tại sao đến nay, Kan-Yeh vẫn còng sống.
-Anh không hiểu được là phải, vì nội vụ chứa đựng quá nhiều uẩn khúc. Phải, nàng đã sống 16 năm tại Hoa lục, và đã ăn ở đúng 13 năm với tướng Kan-Yeh. Khoảng thời gian 13 năm này có thể được chia làm 2: trong 8 năm đầu, nàng vẫn gởi tin tức đều đặn cho tôi. Nàng thuộc loại nhân viên nằm lì nên không xử dụng điện đài, hoặc các phương pháp truyền tin thông thường. Mỗi năm, chúng tôi đưa 1 nhân viên giao liên vào đất Tàu để gặp nàng và nhận tài liệu.
Tôi xin thành thật xác nhận rằng Soe-Fuk là kho tin tức vô giá đối với MI-6, cũng như đối với các cơ quan điệp báo đồng minh. Nàng đã giúp chúng tôi tìm hiểu bề sâu của chế độ Mao trạch Đông, và nhất là tìm hiểu những mưu đồ bí mật của Quốc tế Tình báo Sở.
Nhưng đột nhiên đến năm thứ 9 thì nguồn tin này bị gián đoạn. Đúng ngày rằm tháng bảy âm lịch, nhân viên của tôi có mặt tại Bắc kinh được tiếp xúc với nàng, xong nàng không đến nơi hẹn. Nhân viên MI-6 đành trở về tay không. Năm sau, cũng ngày giờ ấy, 1 nhân viên MI-6 khác lại đến nơi hẹn. Và cũng như chuyến trước, Soe-Fuk không đến.
-Nàng đã chết?
-Không. Nàng còn sống. còn sống song đã mang bệnh bán thân bất toại. Sau nhiều tháng điều tra tại Bắc kinh, chúng tôi mới biết là Soe-Fuk bị tê liệt 2 chân, chỉ quanh quẩn trong phòng ngủ, không bao giờ bước ra khỏi nhà, dầu là trên xe có người đẩy. Tôi chỉ được biết đến thế vì Soe-Fuk ngụ tại 1 cấm khu được canh phòng cẩn mật. Tôi không có sẵn nhân viên tại chỗ nên đành bó tay. Tuy vậy, tôi vẫn không nản chí, hàng năm cứ đến rằm tháng bảy âm lịch ngày mẹ nàng bị giết, nhân viên MI-6 vẫn chờ nàng tại nơi hẹn, đúng 8 giờ tối, giờ mà mấy chục năm trước nàng chôn cất mẹ nàng trong tỉnh Khai Phong. Tôi hy vọng là nếu nàng bị bại liệt, không đích thân đến được thì sẽ cử người khác đến. Tôi chờ như vậy trong suốt 4 năm. Mãi đến cách đây 4 tháng, tôi mới được biết thêm về nàng.
Rằm tháng bảy âm lịch, nhân viên MI-6 ngồi chờ tại công viên. Đúng ra, theo nguyên tắc an ninh, y phải đến đúng giờ hẹn, hoặc chỉ được phép đến sớm nhiều nhất 5 phút. Không hiểu tại sao y lại đến đấy vào buổi chiều. y không sợ bị bắt vì dầu sao y cũng là nhân viên ngoại giao đoàn. Đành rằng tất cả nhân viên ngoại giao đoàn đều bị Tình báo Sở theo dõi ngày đêm, y vẫn đánh bạo đến công viên trước giờ đã định. Và y đã may mắn gặp được Soe-Fuk.
Nàng không nói chuyện được gì vì nàng ngồi trên xe, loại xe hơi mui trần, có tài xế và vệ sĩ. Tuy nhiên, nàng đã tìm cách ném được xuống nệm cỏ 1 mảnh giấy viên tròn. Trong giấy, nàng hẹn nhân viên MI-6 đến 1 "hộp thư chết" để lấy tài liệu. "Hộp thư chết" này là 1 cái hốc cây cũng ở bên trong công viên.
Tại "hộp thư chết", nhân viên MI-6 tìm thấy 1 bức thư viết bằng mật mã. Theo thư này, nàng yêu cầu tôi phái đến Bắc kinh 1 sứ giả đại diện để trực tiếp gặp gỡ nàng và thảo luận với nàng, cùng tiếp nhận 1 số tài liệu hệ trọng. Điều kiện để sứ giả của tôi có thể diện kiến Soe-Fuk là phải nổi danh về khoa chữa bệnh bằng thôi miên. Và tôi đã chọn anh.
-Thưa ông, thôi miên học ăn nhập gì đến vụ tôi gặp mặt Soe-Fuk?
-Nếu không phải là chuyên viên thôi miên nổi danh thì anh không có cách nào thâm nhập hậu cung của tướng Kan-Yeh.
-Hậu cung? Nghĩa là tướng Kan-Yeh có 1 cung viện chứa đầy cung tần mỹ nữ?
-Phải. Như tôi đã nói, Kan-Yeh phụ trách hậu cần, và 1 trong các nhiệm vụ hậu cần là cung cấp phương tiện giải trí xác thịt cho những nhân vật cao cấp của chế độ Bắc kinh. Từ lâu, tôi đã nghe nói đến 1 đặc ban của Tình báo Sở, bí số là đặc ban M-9 chuyên về gái đẹp song không qui mô của nó ra sao, cũng như không biết Kan-Yeh là nhân vật điều khiển. Một nguồn tin phát giác M-9 được thiết lập trong 1 trang trại rộng mênh mông ở sát ngoại ô Bắc kinh. Song tôi đã mất khá nhiều thời gian và công phu mà vẫn chưa tìm ra nơi tọa lạc của M-9. Mãi đến khi nhận được mật thư của Soe-Fuk, tôi mới biết nàng ở trong trang trại M-9.
Cùng ở với Soe-Fuk, còn có 1 cô gái được tướng Kan-Yeh sủng ái nhất, tên là Kim-My. Kim mắc 1 chứng bệnh sinh lý thường xảy ra ở tây phương: bệnh lãnh âm, bệnh lạnh lùng. Tướng Kan-Yeh trưng dụng những danh y ở Hoa lục để chữa chạy cho Kim-My song bệnh nàng vẫn tiếp tục gia tăng. Kan-Yeh được tin ở Luân đôn có 1 kiều dân Trung hoa giỏi thôi miên học, ứng dụng vào phép chữa bệnh sinh lý tên là Rô-bơn nên tìm cách mời Rô-bơn sang Bắc kinh để điều trị cho tiểu thiếp.
-Thưa, viên y sĩ thôi miên này là người Tàu, tại sao lại mang tên Rô-bơn?
-Là người Tàu nhưng lại theo đạo Tin lành. Mặt khác, y sinh sống từ tấm bé ở nước ngoài nên không mang tên Tàu.
-Tôi sẽ đội lốt Rô-bơn?
-Phải. Theo tin của Soe-Fuk, tướng Kan-Yeh đã bí mật ra lệnh cho tiểu tổ Tình báo Sở tại Luân đôn tiếp xúc với Rô-bơn. Cũng may tôi cài được nhân viên bên trong tiểu tổ tình báo này nên đã theo dõi được cuộc thương lượng từ đầu đến cuối. Thoạt đầu, Rô-bơn từ chối, viện lẽ bộ ngoại giao sẽ không cho phép y qua thăm Trung cộng. Sau đại diện của tướng Kan-Yeh đảm bảo về phương diện thông hành và chiếu khán, y mới chấp thuận. Dĩ nhiên y đặt điều kiện nặng nề. Về tiền y phí, y đòi 300.000 đôla. Mọi khoản chi tiêu di chuyển đều hoàn toàn do Tình báo Sở đài thọ. Đêm nay, nếu không xảy ra trở ngại giờ chót nào, Rô-bơn sẽ đáp máy bay từ giã Luân đôn, trên đường đến Pakíttăng, và từ đó đi thẳng đến Bắc kinh.
Rô-bơn chỉ lưu lại Hoa lục đúng 72 tiếng đồng hồ. Trong khoảng 72 giờ này, tôi hy vọng anh có thể bịp được tướng Kan-Yeh, đồng thời thực hiện được kế hoạch "Người Yêu".
Thú thật với anh, tôi chưa biết Soe-Fuk sẽ nói những gì, hoặc đề nghị những gì. Tuy nhiên, điều tôi có thể đoan chắc là nàng sẽ giao cho anh 1 số tài liệu tối mật. nhiệm vụ của anh là mang những tài liệu này về đây an toàn. Nếu Soe-Fuk yêu cầu được xuất nhập 2, anh hãy liệu cách đưa nàng ra khỏi Hoa lục.
-Thưa, tôi có cảm tưởng là tôi sẽ đến Bắc kinh bằng đường hàng không thương mãi, nhưng khi về tôi phải chọn con đường khác?
-Tôi cũng nghĩ như anh. Vì vậy, điệp vụ "Người Yêu" chỉ có thể giao cho anh, không thể giao cho người khác. Dầu anh chưa đọc hết tập hồ sơ liên hệ tôi sắp đưa đây, anh cũng có đủ kinh nghiệm để đoán biết rằng điệp vụ này rất khó khăn, phải là nhân viên tài ba xuất chúng mới có hy vọng hoàn thành.
-Ông sợ tướng Kan-Yeh sẽ thủ tiêu Rô-bơn sau khi tiểu thiếp Kim-My được chữa khỏi bệnh sinh lý lạnh lùng?
-Đúng. Quốc tế Tình báo Sở không phải là cơ quan điệp báo sòng phẳng. Trong dĩ vãng, anh đã thấy và nghe nhiều vụ lật lọng của Tình báo Sở. Khi thương lượng mua tài liệu và chiêu dụ điệp viên tây phương, họ thường hứa hẹn trên trời dưới biển. Nhưng đến khi vòng vây thắt chặt, họ liền trở mặt. Cách đây 6 tháng, 1 vụ trở mặt tương tự đã xảy ra: 1 điệp viên MI-6 được họ hứa trả 50.000 đôla nếu chịu bỏ nhiệm sở ở Hồng Kông và vượt biên vào Hoa lục. Điệp viên này bùi tai trốn qua Thượng Hải để rồi chẳng lãnh 1 xu teng nào cả, sau đó lại còn bị bắt nhốt về tội trá hàng để lũng đoạn tình báo Trung cộng nữa. Vụ này bị báo chí làm rùm beng, Tình báo Sở bèn lôi điệp viên này ra tòa kết án tử hình và đem bắn.
Anh thấy không? Mới có 50.000 đôla mà Tình báo Sở còn trở mặt, phương chi họ đã hứa trả cho Rô-bơn những 300.000 đôla thì nay Kan-Yeh lại càng phải thủ tiêu Rô-bơn vì 2 lý do khác nữa: thứ nhất, để bảo vệ bí mật trong hậu cung của Cục hậu cần Quốc tế Tình báo Sở ; thứ hai, Kim-My là tiểu thiếp riêng của Kan-Yeh, nếu tha cho Rô-bơn, nghĩa là phải thanh toán đầy đủ, hắn sẽ khó thể biện minh được với thượng cấp tại sao hắn phải tiêu 1 món tiền khổng lồ cho 1 chuyện sinh lý cá nhân.
Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là anh không thể trở về bằng cửa trước vì hiện nay sự trở mặt của tướng Kan-Yeh chỉ là sự phỏng đoán cho dẫu sự phỏng đoán này có nhiều triển vọng thành sự thật. Anh sẽ có toàn quyền định đoạt tại chỗ. Tôi đã trù liệu sẵn những lộ trình rút lui cần thiết trong trường hợp bại lộ hoặc không thể trở về bằng đường hàng không.
Trước khi kết thúc, tôi cần lưu ý anh điểm này: ngoài số tài liệu mang về, anh sẽ thu lượm được những tin tức vô cùng quý giá liên quan đến nếp sống tình dục của giới lãnh đạo Hoa lục. Chắc chắn họ sẽ không để cho anh trốn thoát, nhưng tôi tin cậy vào khả năng siêu đẳng của anh. Một lần nữa, tôi thành thật chúc anh thuận buồm xuôi gió. --------------------------------
| 1 | xin đọc " Đoàn vũ khỏa thân" do Tân Quang xuất bản, để hiểu thêm về ông M. |
| 2 | theo ngữ vựng chuyên môn điệp báo, đưa điệp viên vào lãnh thổ địch gọi là "tàng nhập" (infiltration, pénétration), đưa điệp viên này về gọi là "xuất nhập" (exfiltration). |
IIITHUẬN BUỒM XUÔI GIÓ
Lời chúc thuận buồm xuôi gió của ông tổng giám đốc MI-6 làm Văn Bình mỉm cười. Chàng đi Bắc kinh bằng máy bay phản lực, không phải bằng thuyền buồm, và cũng không phải chờ thuận gió. Chàng đã đến khu Notting Hill Gate, khu ăn chơi cặn bã của thành phố Luân đôn. Kế hoạch "Người Yêu" có khác, đến đâu cũng thấy tình yêu. Lát nữa chàng sẽ chứng kiến những màn tình yêu kỳ lạ.
Chàng quẹo trái vào đường hẻm sâu hun hút. Thành phố Luân đôn là 1 trong những thủ phủ xài điện nhiều nhất thế giới, vậy mà cái ngõ ống thăm thẳm này lại không có lấy 1 ngọn đèn, dẫu là ngọn đèn 5 nến ngái ngủ và ốm yếu. Chàng dừng trước cánh cổng đồ sộ của 1 tòa nhà giữa hẻm. Tính từ " đồ sộ " không ngoa ngoắt chút nào vì cánh cổng đồ sộ này rộng gấp đôi, và cao gấp rưỡi cánh cổng của dinh Gia long ở Sàigòn. Cửa cổng bằng sắt được che kín bên trong bằng tôn trông kiên cố và ảm đạm như cửa cổng khám đường, và được nối liền vào 1 bức tường đen sì, cao hơn 4 thước, nghĩa là cao đến mức mà gian phi phải có tài nhảy sào như lực sĩ thế vận hội mới vượt qua nổi. Văn Bình có cảm tưởng bên trong là 1 thế giới hoàn toàn riêng biệt, vì đứng ngoài chàng không thể nhìn thấy bên trong. Chàng đang dán mắt cào trụ cổng để tìm nút chuông thì 1 cái đầu cạo trọc tếu từ 1 lỗ cửa thò ra. Y buông ra 2 tiếng cụt ngủn :
-Hỏi ai ?
Văn Bình cũng đáp cụt ngủn :
-Tình yêu.
Cánh cửa nhỏ bên cổng lớn mở hé ra, vừa đủ cho chàng lách vào. Chàng chưa lọt vào bên trong là cánh cửa đóng lại. Một tia đèn bấm chiếu vào ngực chàng. Tia đèn bấm này từ tay gã đầu trọc phát ra. Chàng móc túi lấy ra 1 đồng xu tròn, giữa đục 3 lỗ nhỏ,và đắt gọn trên lòng bàn tay. Gã đầu trọc cúi xuống xem xét rồi hất hàm :
-Cám ơn, mời bạn theo tôi.
Xuyên qua ánh đèn bấm, Văn Bình đã quan sát được gã đầu trọc từ đầu xuống chân. Ông tổng giám đốc MI-6 cho biết chàng sẽ gặp nhiều chuyện lạ nên chàng không ngạc nhiên. Tuy vậy, chàng cũng không ngăn được sự tò mò khi thấy gã đầu trọc có lối phục sức của đảng " đầu trọc " (skinhead), 1 nhóm thiếu niên từ 13 đến 18 tuổi ( tuổi teen ), vừa xuất hiện trong những năm gần đây để chống lại cao trào hippi tóc dài. Đặc điểm của đảng " đầu trọc " là cắt tóc ngắn, thật ngắn. Ngắn nhưng không có vẻ nghiêm trang như tóc quân trường, mà là ngắn 1 cách lập dị, gần như trêu chọc thiên hạ. Nếu không húi cụt thì cạo trọc, hoặc đội 1 lớp da nhẵn thín trên đầu để giống như đầu trọc. Hầu hết đều mặc quần ống rộng chân voi, không dùng dây lưng mà là đeo dây bờrơten. Giày của họ là giày săng đá, lớn hơn chân 1 số, đế đóng cá sắt, đinh nhọn để làm võ khí 1. Bọn đầu trọc này từng làm cảnh sát Anh quốc điên đầu vì chúng đi đến đâu là gây ẩu đả đến đấy.
Gã đầu trọc dẫn Văn Bình qua 1 giàn cây leo um tùm rồi bước lên bao lơn. Tứ bề vẫn tối om, nếu không có ánh đèn bấm của gã đầu trọc, chàng đã vấp ngã. Đến khi hắn mở cửa hông, chìa tay mời, chàng mới thấy trong nhà đã đông người. Đèn trong nhà chỉ trơ trọi vài ngọn lù mù, cửa sổ lại được che riềm dầy kín mít nên tia sáng không lọt nổi ra vườn. Gian phòng chàng đặt chân vào là xa lông của biệt thự, rộng và cao hơn cả bên trong rạp xi nê lớn nhất Sàigòn.
Một cô gái da màu, có lẽ là người Phi châu, cúi đầu chào chàng cung kính và khoan thai theo kiểu Phù tang, đoạn đưa cho chàng 1 cái mặt nạ bằng giấy. Khi ấy chàng mới nhận ra cô gái cũng đeo mặt nạ bằng giấy. Toàn thể nam nữ trong phòng cũng đeo mặt nạ bằng giấy. Mặt nạ được chế cùng 1 cỡ duy nhất, màu đen, bao kín nửa mặt, chỉ để chừa cặp mắt. Chàng được tha hồ " rửa mắt " vì nàng chỉ mặc cái xiêm ngắn cũn cỡn, còn cũn cỡn hơn cả xiêm mini nữa. Phía trên nàng đeo 1 đồng xu tròn, giữa đục 3 lỗ nhỏ. Chỉ có thế thôi. Bộ ngực của nàng khá đẹp, tuy hơi quá khổ và 2 bên thiếu cân đối. Tuy nhiên, Văn Bình không tỏ vẻ sửng sốt. Chiêu đãi viên hở ngực là chuyện thông thường trong các nhà hàng tây phương. Tại Nữu ước hoặc Ba lê, chàng có thể chiêm ngưỡng những cô gái da trắng có bộ ngực đều đặn, nẩy nở và ngon lành hơn nhiều.
Đeo xong mặt nạ, chàng bắt đầu trà trộn vào đám đông đàn ông đàn bà đứng tụm năm tụm ba trong phòng. Tuy vậy, họ trò chuyện với nhau rất nhỏ, hầu như thì thào, khiến bầu không khí có vẻ trịnh trọng. Chàng đếm được cả thảy 50 người, số đàn ông gần gấp đôi đàn bà. Đàn ông phục sức chỉnh tề, phần đông đều mặc dạ phục. Còn đàn bà thì ai cũng như ai, xiêm ngắn cũn cỡn và bộ ngực phơi trần, lủng lẳng đồng xu tròn trên sợi dây chuyền bằng kim khí sáng loáng. Họ thấy chàng bước vào nhưng không ai chào hỏi. Dường như không ai để ý đến ai.
Cuối phòng, 1 bàn thờ son son thếp vàng như thể bàn thờ gia tiên của người Á đông, được đặt chễm chệ trên cái bục cao gần 2 thước, lót thảm đen. Trên bàn thờ, chàng thấy 1 cái lư trầm chân quỳ bằng đồng đen. Tất cả những vật bày trên bàn thờ đều đen. Cái khung ảnh đen, những cây đèn cầy đen, những vòng khói đen sực nức mùi trầm hương từ từ bốc lên, pha trộn vào bầu không khí trong phòng đã đầy ứ hơi người khiến Văn Bình cảm thấy khó thở.
Chàng đang bâng khuâng thì 1 tiếng hô lớn cất lên :
-Sửa soạn !
Những ngọn đèn điện lù mù trong phòng đều được vặn tắt. Gian phòng rộng và cao đang ấm áp bỗng nhiên lạnh ngắt. Mọi tiếng thì thầm bỗng rủ nhau im bặt. dường như mọi người đang chờ đợi 1 biến cố quan trọng. Chàng nghe tiếng quẹt lửa rồi như có pháp thuật 1 giãy đèn cầy được thắp sáng. Mỗi ngọn nến lớn bằng cổ tay. Bên phải, bên trái, trước mặt, sau lưng Văn Bình đều thấy nến đen. Gian phòng trở nên rực sáng. Tuy nhiên, ánh sáng lại lung linh, chập chờn như bóng ma.
Tiếng hô lớn lại cất lên :
-Buổi lễ bắt đầu !
Một cánh cửa khuất sau riềm đen ở bên hông mở ra. Ba người tiến vào. Họ đều là đàn bà. Người đi giữa mặc toàn đồ đen, còn 2 người kia đi bên lại mặc đồ trắng. Y phục của họ không thuộc loại y phục thông thường mà là y phục na ná như áo dài cưới của cô dâu phương tây, nghĩa là bằng voan mỏng trùm từ cổ xuống chấm đất, và có cái đuôi dài lê thê. Toàn thân họ đều che kín bằng voan, mặt họ, đầu họ cũng không lộ ra ngoài. Văn Bình không thể biết họ đẹp hay xấu vì không nhìn thấy mặt. Chàng có thể đoán được nhan sắc xuyên qua những đường cong cơ thể. Tuy nhiên, họ mặc đồ voan mỏng dính mà bên trong lại mặc độn thêm 1 đống vải dày khiến vòng ngực, cũng như vòng bụng, vòng mông đều bằng nhau, tròn xoe, thẳng tuột như cái ống. Nếu họ không bước đi uyển chuyển, chàng đã lầm họ là đàn ông. Họ bước qua ngưỡng cửa rồi đứng lại. Người mặc đồ đen ở giữa giang tay ra cho 2 người đi hai bên nắm lấy, rồi cả ba từ tốn trèo lên bục gỗ và đứng trước bàn thờ. Người thứ tư từ cửa hông đối diện bước vào phòng, và cũng bước lên bàn thờ lại là đàn ông. Hắn mặc đồ voan đen, giống như người đàn bà đi giữa. Khi hắn lên bàn thờ thì cả ba người đàn bà đều khom lưng chào hắn 1 cách cung kính. Lại tiếng hô lớn quen thuộc :
-Hãy chúc mừng giáo lãnh !
Toàn thể cử tọa trong phòng đều nói 1 lượt :
-Chúc mừng.
Dưới ánh sáng đèn cầy ẩn hiện, gã đàn ông được gọi là giáo lãnh đập 2 bàn tay vào nhau kêu bốp 1 tiếng điếc tai, đoạn lẩm bẩm lâm râm 1 hồi. Tuy đứng gần, Văn Bình vẫn không hiểu được hắn nói gì. Có lẽ hắn tụng kinh.
Anh quốc là xã hội của những người bảo thủ, nhưng cũng là xã hội của nếp sống thác loạn. Từ sau thế chiến thứ hai, nhiều quái tượng mọc ra trên đất Anh như tứ quái Beatles, như các cô nàng kiểu mẫu gày như que tăm, như những " câu lạc bộ ái tình ". Tòa nhà bí mật mà Văn Bình đến đêm nay cũng là 1 trong hàng trăm " câu lạc bộ ái tình ". Tuy nhiên, ái tình ở đây được pha lẫn với ảo thuật và tôn giáo. Rô-bơn là người tàu, theo đạo Tin lành, nhưng về phương diện tình yêu lại là tín đồ của 1 giáo phái kỳ quặc mệnh danh là " đạo thờ nhũ hoa ". Theo lời ông tổng giám đốc MI-6, giáo phái này hoạt động lén lút nhưng khá mạnh mẽ ở Luân đôn. Cảnh sát Anh biết rõ song không thể can thiệp vì các " tín đồ " không vi phạm luật pháp, nghĩa là không công khai khiêu dâm. Một trong nhiều nhà thờ quái đản của giáo phái " thờ nhũ hoa " tọa lạc trong khu cặn bã Notting Hill Gate. Tín đồ của giáo phái đều hở ngực, bất luận đàn bà hay đàn ông. Họ thường xuyên hội họp với nhau để làm lễ " kết nạp " tín đồ mới, và để du hí thả dàn, chết thôi.
Văn Bình quan sát gã đàn ông được gọi là giáo lãnh từ đầu xuống chân. Hắn cũng mặc độn quần áo dày cộm sau lớp voan đen nên thân thể hắn phì nộn 1 cách khác thường, nhưng con mắt tinh tế của chàng đã nhìn thấy đôi vai to ngang, và bộ ngực dày của hắn. Về tầm cao, hắn suýt soát bằng chàng. Về to ngang, hắn có vẻ đậm đà hơn. Bụng hắn lớn hơn bụng chàng. Sở dĩ chàng quan tâm đến hắn là vì lát nữa đây chàng phải thay thế hắn để lên đường đi Bắc kinh. Hắn là Rô-bơn, giáo lãnh tạm quyền của câu lạc bộ " thờ nhũ hoa ". Mọi việc đã tuần tự diễn ra theo kế hoạch của ông M. : Văn Bình lọt vào bên trong câu lạc bộ 1 cách dễ dàng, chàng sẽ chứng kiến 1 cuộc lễ " kết nạp " long trọng nhưng dâm dật, sau đó các tín đồ sẽ du hí suốt đêm.
Giáo lãnh Rô-bơn quay tròn 1 vòng trên bục rồi lật tung áo choàng đen trên người xuống đất. Bên trong, hắn mặc áo choàng khác bằng dạ đen dày. Hai người đàn bà mặc đồ trắng tiến đến bên người đàn bà mặc đồ đen quát lên 1 tiếng trước khi lột áo choàng đen, cũng vứt xuống đất như Rô-bơn. Và cũng như Rô-bơn, thiếu phụ bị lột áo cũng mặc đồ dạ đen nặng chình chịch. Rô-bơn cởi bỏ y phục bằng nỉ dày, hắn chỉ còn mặc quần, để hở bộ ngực trắng hếu nhưng mặt hắn vẫn che kín. Văn Bình suýt kêu lên vì bộ ngực của người đàn bà mặc đồ đen thuộc loại siêu văm XL, nghĩa là là vòng ngực hơn 100 phân, khá đều đặn, khá quyến rũ. Không những nàng chỉ cởi áo, nàng còn cởi hết, và đến khi nàng hoàn toàn khỏa thân, nàng đứng ưỡn thẳng cho mọi người chiêm ngưỡng. Rô-bơn cúi xuống, bế xốc nàng lên 2 cánh tay lực lưỡng rồi bước lên bục, vừa đi vừa đọc kinh. Những cây nến khổng lồ trong phòng lần lượt bị thổi tắt. Gian phòng rộng chìm vào cảnh tối om.
Văn Bình nghe rõ tiếng đàn ông, đàn bà ôm hôn nhau chùn chụt, họ nằm xuống trên những tấm nệm nhỏ trải rải rác trên nền nhà. Vẩy ốc nổi đầy da thịt chàng. Là thanh niên sung sức, chàng không thể giữ thái độ bình thản. Chàng có thể bình thản trước sự chết nhưng không thể bình thản trước những trò hoan lạc đang diễn ra chung quanh, trong tầm tay chàng. Chàng liếm mép và lùi dần vào tường để để khỏi bị " bắt cóc ". Nhưng chàng mới lùi được 1 bước thì 1 bàn tay mềm mại đã níu lấy vai chàng, kéo chàng ngồi xuống. Chàng còn đang tìm kế thoát thân (mặc dầu là thoát thân miễn cưỡng và ngu xuẩn ) thì 1 bàn tay khác, cũng mềm mại như bàn tay vừa bám chặt vào vai, đã túm lấy vạt áo vét tông của chàng. Vét tông của chàng may hợp thời trang, phía sau xẻ 2 chỗ nên bàn tay đàn bà nắm rất dễ. Bị tấn công cả phía trước lẫn phía sau, chàng đành ngồi bệt xuống nệm. Chàng tưởng nệm mỏng đau gân cốt, không ngờ lại êm ái ngoài sức tưởng tượng. Thiếu phụ phía trước ôm chàng hôn. Thiếu phụ phía sau cũng ôm chàng hôn. Chàng nhịn thở để lãnh 2 cái hôn phũ phàng. Chàng không cảm thấy chút xíu khoái lạc. Hồi nãy, chàng nổi vẩy ốc vì thèm khát, giờ đây chàng nổi vẩy ốc vì hoảng sợ.
Theo tục lệ trong "nhà thờ" của đạo thờ nhũ hoa, giáo lãnh chỉ mang cô gái khỏa thân ra ngoài đúng 5 phút đồng hồ rồi mang trở vào. Giáo lãnh sẽ lẳng lặng rút lui, trong khi các tín đồ tiếp tục giao hoan hưởng lạc. Đối với Văn Bình thì thời gian không thành vấn đề, 5 phút hay 1 giờ đồng hồ chàng vẫn đủ sức đương đầu, nhưng ác hại thay 2 nữ tín đồ này chắc chắn sẽ không buông tha chàng sau 5 phút. Cung phụng 1 nữ tín đồ đã nguy khốn, giờ đây chàng lại bị 2 con hổ cái khát vọng tình yêu dính chặt lấy da thịt, rồi biết đâu " tiếng lành đồn xa " những con hổ cái khác trong phòng sẽ ùa đến. Bởi vậy, dù máu nóng chạy rần rần 2 bên thái dương, tứ chi căng cứng, Văn Bình phải gỡ 2 thiếu phụ đeo mặt nạ ra. Trong bóng tối, chàng không thấy rõ mặt nhưng làn da trắng muốt, mềm mại của họ đã có tác dụng như ánh đèn khiến chàng khó thể ngoảnh mặt đi. Chàng đâm ra oán ghét ông Hoàng, oán ghét ông tổng giám đốc MI-6 và oán ghét cả chính chàng nữa. Trời ơi ! cờ đã đến tay, mỡ đã kề sát miệng mèo ( không phải 1 cờ, 1 miếng mỡ mà là 2 cờ mềm mại, 2 miếng mỡ thơm tho ) mà không được phất, không được ăn. Trời ơi là trời ! Tiếc ơi là tiếc ! Chàng vội gỡ tay các nàng ra vì thiếu phụ phía trước bắt đầu có những cử chỉ quá cuồng nhiệt. Nàng còn ghì cứng lấy chàng, miệng rên rỉ :
-Anh định trốn em hả Anh trốn em sao được đêm nay em rình anh từ nãy, đêm nay anh phải thuộc về em toàn vẹn.
Văn Bình ớn lạnh đến xương tủy. Cô gái đã biết chàng là ai rồi ư ? Chàng ẩy nàng ấy ra nhưng thiếu phụ phía sau đã xà tới. Ba phút đồng hồ đã trôi qua, chàng không thể nào kéo dài trò chơi nguy hiểm này nữa. Chàng bèn giang rộng cánh tay, ôm cả 2 thiếu phụ vào lòng. Trong nháy mắt, cả 2 trở thành khối thịt mềm nhũn. Ngón tay trỏ của chàng đã ấn vào mê huyệt sau lưng các ả. Chàng vội buông họ ra rồi đứng lên, lần mò ra phía cửa hông. Chàng nghe tiếng hô :
-Tình yêu vạn tuế !
Giáo lãnh Rô-bơn đã đưa cô gái khỏa thân trở vào phòng. Cô gái nhảy 1 chân, vừa nhảy vừa hát. Chàng không biết cô gái hát bản gì và điệu gì vì chỉ biết tiếng rú và tiếng é é liên hồi. Từ phút này trở đi, công việc của chàng sẽ rất quan trọng. Theo tục lệ của đạo thờ nhũ hoa, sau 1 đêm hoan lạc sấm sét, toàn thể tín đồ đều được nghỉ ngơi 1 tuần lễ. Và trong thời gian nghỉ khỏe này, mỗi người phải tìm 1 nơi kín đáo để ẩn núp. Rô-bơn lợi dụng 1 tuần lễ vắng mặt để qua Bắc kinh. Văn Bình mới đến tòa nhà này lần thứ nhất mà không sợ lạc vì ông M. đã đưa họa đồ cho chàng nghiên cứu kỹ lưỡng. Cánh cửa hông ăn thông sang 1 hành lang dài và trống trơn. Đi hết hành lang là đến 1 cánh cửa khác, phía sau là cầu thang xi măng lót gạch vuông lát tích dẫn lên lầu. Văn Bình bám sát Rô-bơn. Hắn bước nhanh như chạy. Chàng giật mình vì lối bước nhanh như chạy này chứng tỏ hắn đã luyện tập khinh công. Hắn giỏi khinh công tất phải giỏi quyền thuật, và ít ra cũng có thể gây khó dễ cho chàng.
Rô-bơn trèo lên cầu thang. Chàng đợi hắn lên đến tầng lầu nhất mới đặt chân lên bậc xi măng. Gió lạnh từ bên ngoài thổi vào, chạy luồn theo hành lang sâu thẳm, xoáy tròn từng cơn. Tự dưng Văn Bình cảm thấy lạnh. Tầng trên hoàn toàn tối đen. Giáo phái thờ nhũ hoa rất kị ánh sáng nên chỉ hội họp ban đêm, và không được thắp đèn. Đêm nay, Rô-bơn lại càng có lý do chính đáng để tiết kiệm điện hơn nữa. Rô-bơn biến mất sau 1 khung cửa đã mở sẵn. Văn Bình đứng im, dựa vai vào tường, mắt chàng bắt đầu quen thuộc với màn đen dày đặc. Chàng rón rén bước tới. Theo sự bố trí của ông tổng giám đốc MI-6, chàng chỉ cần chờ hắn ở khúc quẹo hành lang, dùng nhu đạo chẹn yết hầu hắn rồi vắt hắn tòng teng lên vai, lần mò xuống ga ra. Kế hoạch của ông M. rất giản dị, nhưng vì nó quá giản dị mà Văn Bình lo ngại.
Bất thần chàng nghe tiếng động. Chàng ngoảnh lại phía cầu thang và thấy 1 bóng đàn bà. Nàng đi chân không nên chàng chỉ nghe tiếng sột soạt nhè nhẹ. Chàng hơi giật mình vì nhận ra người đàn bà đi trong bóng tối này là cô gái có bộ ngực vĩ đại XL hơn 100 phân tây thoát y trên bàn thờ cách đây mươi phút. Nàng lên lầu làm gì ? Văn Bình không có thời gian tìm câu giải đáp nữa vì nàng vừa hụt chân té. Và trong khi mất thăng bằng, nàng lao đầu vào lòng chàng. Như chạm lầm dây điện 220 vôn, nàng rú lên. Không kịp suy nghĩ, Văn Bình giáng cạnh bàn tay vào cổ họng nàng. Tiếng rú của nàng bị tắt nghẽn. Nàng nhào xuống nền hành lang. Văn Bình phải mím miệng để khỏi thở dài. Chàng thường ghê tởm bọn đàn ông thượng cẳng chân hạ cẳng tay với phụ nữ. Vậy mà chàng đánh gục 1 cô gái vô tội. Chàng hy vọng nàng chỉ bất tỉnh 1 lát rồi hồi phục. Chàng chỉ hy vọng chứ không thể cúi xuống xem xét vì 1 lùm đèn sáng quắc đã chiếu vào giữa mặt chàng, kèm theo tiếng quát chắc nịch :
-Anh làm gì ở đây ?
Chết rồi. Văn Bình đã bị bắt quả tang, và người bắt chàng quả tang lại là Rô-bơn. Chàng không thể bào chữa là lạc phòng vì từ dưới nhà lên lầu chỉ có 1 lối đi độc nhất. Chàng cũng không thể bào chữa vì thân thể trần truồng của cô gái bị đánh mê man đang nằm sóng sượt trên nền hành lang dưới ánh đèn bấm soi mói. Rô-bơn hừ 1 tiếng rồi nói, giọng lạnh lùng 1 cách ghê rợn :
-À, đồ sát nhân ! Yêu cầu anh chắp tay lên đầu rồi đi vào phòng cho tôi hỏi chuyện.
Hắn đứng cách Văn Bình khoảng 6 thước. Mắt hắn lấp lánh như tỏa ra lân tinh. Dường như hắn đang tìm cách khuất phục chàng bằng luồng nhỡn tuyến vô địch. Nếu chàng không có đôi mắt cực mạnh, hắn sẽ sai khiến chàng. Tuy nhiên, chàng biết sớm muộn tài thôi miên của hắn cũng làm chàng mê man. Chàng nhún vai nhìn khẩu súng lục đen sì nằm gọn trong bàn tay gân guốc của Rô-bơn. Hắn tránh sang bên cho chàng bước vào trong phòng. Ngọn đèn đêm trên đầu giường ban phát 1 ánh sáng dìu dịu.
Trong loáng mắt, Văn Bình đo lường địa thế và sở đoản của Rô-bơn. Hắn chưa kịp khều chân cho cánh cửa khép lại thì chàng đã áp dụng 1 thế săm bô cực hiểm quật hắn ngã ngồi trên đất. Khẩu súng vẫn chưa chịu rời khỏi tay. Nếu chàng trì chậm 1 vi phân giây đồng hồ, hắn sẽ đủ thời giờ bóp cò nên chàng đành cấp thời hạ độc thủ bằng 1 cước vào yếu huyệt trên ngực. Hắn té nằm bất tỉnh.
Chàng dựng hắn dậy, xốc lên vai, 1 tay cầm cái cặp da đựng giấy tờ, tay kia xách va li quần áo để trên bàn, lấy mũi giày tắt đèn đoạn mò mẫm tiến ra ngoài hành lang. Tiếng thì thầm hoan lạc vẳng vào tai chàng. Chàng xô 1 cánh cửa ở nhà dưới, đi xuyên qua 1 căn phòng tối rồi bước xuống ga ra. Trong ga ra đã có sẵn 3 xe hơi mới, 1 cái Rolls-Royce cao lêu nghêu, kênh kiệu và ngông nghênh và 2 chiếc xe đua thấp lè tè. Văn Bình mở cốp xe Rolls nhét Rô-bơn vào trong, đậy nắp lại đoạn trèo lên chiếc Triumph mui trần. Lát nữa, nhân viên của ông M. sẽ mang Rô-bơn đi nơi khác. Ông M. đã dặn chàng nhẹ tay đối với Rô-bơn, vì tình thế bất khả kháng, chàng đã giết hắn. Chàng biết trước ông tổng giám đốc MI-6 sẽ càu nhàu. Ông M. là lãnh tụ điệp báo không thích bị thuộc viên cưỡng lệnh. Chàng chắt lưỡi :
-Mình có phải là thuộc viên của ông già M. kia đâu.
Chàng mở cửa ga ra, từ từ lái xe ra sân. Khu vườn bát ngát của tòa nhà bí mật vẫn chìm trong bóng tối dày đặc. Đến cổng, chàng gặp tên gác đầu trọc tếu đang tẩn mẩn cắn điếu xì gà to bằng cái lõi ngô. Thấy chiếc xe đua, hắn cuống quýt mở toang cửa và cúi đầu xuống. Cũng may, nếu ngẩng đầu hắn sẽ nhận ra chàng dễ dàng. Xe phóng ra khỏi cổng. Ba phần tư kế hoạch của ông M. đã được hoàn tất. Tuy vậy, Văn Bình lại lo ngay ngáy. Lệ thường, mỗi khi đội lốt người khác, điều cần thiết là phải giống diện mạo và thân hình, hoặc nếu không giống thì phải giải phẫu cho giông giống. Khuôn mặt bầu bầu của pháp sư Rô-bơn hiện rõ trong óc Văn Bình. Nhìn chung, hắn khá đẹp trai : mắt, mũi, miệng đều cân đối khiến đàn bà khó thể cưỡng lại sự tấn công của hắn. Nhưng hắn lại không giống chàng bao nhiêu. Về thân hình, mỗi người lại là 1 thái cực : mặc dầu bề dài và bề ngang sàn sàn bằng nhau, Rô-bơn có vẻ " xôi thịt " hơn Văn Bình, những bắp thịt nảy nở của hắn chỉ tạo ra cảm tưởng nhục tình.
Vừa lái xe, Văn Bình vừa suy nghĩ. Tại sao ông M. không yêu cầu chàng cải trang bằng mặt nạ cao su porotherme ? Mặt nạ bằng chất nhựa dẻo tối tân này có thể đánh lừa được những con mắt quan sát tinh tế. Ông M. cho biết sau khi ra khỏi tòa nhà bí mật tại Notting Hill Gate chàng sẽ được 1 nhân viên giao liên Tình báo Sở đón tiếp và hướng dẫn ra phi trường. Nhân viên giao liên cũng này phần tử trung thành của MI-6.
Văn Bình giật mình thon thót. Giác quan thứ sáu reo chuông báo động inh ỏi trong khối thần kinh hệ của chàng. Thôi rồi, chàng đoán không sai. Nhân viên giao liên này chỉ có thể là " nàng ". Đến địa điểm gặp gỡ, chàng đậu dạt xe bên phải. Tại Anh quốc, chiều lưu thông ở bên trái, việc đậu trên lề mặt là ám hiệu gặp gỡ. Trước mặt chàng, 1 chiếc Jaguar dài ngoằng đã chờ sẵn. Chàng mở đèn cốt báo hiệu. Tài xế Jaguar cũng nháy đèn trả lời. Văn Bình xuống xe bước nhanh về phía chiếc Jaguar. Chàng suýt vấp ngã mấy lần mặc dầu quãng đường từ xe chàng đến xe Jaguar chỉ vỏn vẹn 50 thước, và mặt đường rất bằng phẳng, không lồi lõm, cũng không có đá vụn. Sở dĩ chàng hấp tấp 1 cách vụng về là vì chàng nóng ruột được gặp lại nàng. Nàng là cô gái mỹ miều, ngực mông 95 phân, bụng 60 phân, nghĩa là hội đủ kích thước để chinh phục đàn ông sành sỏi. Nàng đã chinh phục chàng trong chớp mắt, chàng chưa tính chuyện làm ăn thì nàng đã bỏ đi đâu mất.
Mặt nàng ló ra khỏi cửa xe Jaguar. Chao ôi, chiếc Jaguar rộng rãi, tiện nghi, rất thuận lợi cho việc trai gái yêu nhau hối hả. Chàng bước nhanh như chạy. Chàng muốn hôn vào đôi môi làm nũng của nàng. Nàng từ chối, chàng cũng hôn bừa, rồi ra sao thì ra. Nếu nàng là hoa có chủ, và chủ hoa là quán quân thế giới về môn bắn súng, chàng cũng lao đầu vào bờ ngực êm ái của nàng. Nhưng chàng vội khựng lại. Chàng chưa kịp cất tiếng, nàng đã tuôn ra 1 hơi :
-Mau lên, anh Rô-bơn. Người ta đang chờ anh trên xe.
Nếu cô gái 95-60-95 phân ngon lành kia lái xe 1 mình, nàng đã không gọi Văn Bình là Rô-bơn. Vả lại, " người ta đang chờ trên xe " có nghĩa là nhân viên thật thụ của Tình báo Sở cùng đi với nàng. Văn Bình trèo lên băng sau và đụng 1 người Tàu mặc âu phục sẫm may tréo, đội mũ dạ sùm sụp, mắt không quên đeo kiếng đen. Hắn đon đả chào chàng :
-Hân hạnh được làm quen với giáo lãnh !
Văn Bình bắt tay thân mật. Cô gái giao liên nói :
-Như đã thỏa thuận trước, chính phủ Trung hoa chỉ thanh toán phân nửa y phí, số còn lại sẽ được trả sau khi anh rời Bắc kinh. Nếu phương pháp điều trị thành công, chính phủ Trung hoa sẽ biếu thêm 200.000 đôla nữa. Và đây là biên lai chuyển tiền vào trương mục của anh tại ngân hàng Chase Manhattan.
Văn Bình bỏ tờ biên lai cuộn tròn vào túi. Cô gái giao liên mở máy cho xe chạy. Hết đường hẻm, ra đến đường lớn, nàng nói :
-Tôi chỉ có nhiệm vụ giới thiệu anh với đại tá.
Gã Tàu được cô gái giao liên gọi là đại tá 1 cách kính nể thốt ra tiếng cười ngạo nghễ, rồi nói giọng vui vẻ :
-Cám ơn em. Em có thể trao tay lái lại cho anh.
Văn Bình nhức buốt đến tim. Gã đại tá vừa xưng anh anh em em âu yếm với nàng. Chàng đinh ninh vớt vát được tình thế, không ngờ lại là kẻ xấu số đến sau. Dĩ nhiên là công dân Anh, và là cộng sự viên của ông M. nàng khó thể được Tình báo Sở tin cậy và giao cho công tác quan trọng, nếu không chiếm được thiện cảm của giám đốc trú sứ Tình báo Sở tại Luân đôn. Gã đại tá mê gái đang ngồi bên chàng, rung đùi khoan khoái, chắc là giám đốc trú sứ nên cô gái MI-6 mới có thể hoạt động nghênh ngang như ra vào chỗ không người.
Gã đại tá hôn chụt 1 tiếng. Cái hôn của hắn kêu to như cái tát tai phũ phàng. Chàng có cảm giác như vừa bị hắn tát tai, 5 đầu ngón tay kếch sù in hằn trên má. Chàng cố hy vọng là nàng không hôn lại, hoặc chỉ hôn lại trong sự miễn cưỡng, tức tối, thẹn thùng. Nhưng hy vọng của chàng đã trở thành mây khói vì nàng đã ôm cứng lấy gã đại tá gián điệp Trung hoa. Và trời đất ơi, nàng không hôn trả vào má, mà lại hôn lên môi hắn. Cặp trai thanh gái lịch ôm nhau hôn ngay trước mắt chàng, cách chàng 2 gang tay, nơi băng trước của chiếc xe đua Jaguar sang trọng.
5 phút sau, phải, đúng 5 phút sau nàng mới chịu nhả hắn ra. trước khi bước xuống, nàng ngoái cổ chúc Văn Bình:
-Anh lên đường thuận buồm xuôi gió nhé. --------------------------------
| 1 | đảng " đầu trọc " du đãng, người Anh gọi là Skinhead. Phần lớn đảng viên " đầu trọc " đều chịu sự chi phối của Mặt trận Quốc gia, 1 tổ chức tân phát xít mới xuất hiện tại Anh quốc. |
IVTHÀNH PHỐ KARACHI, PAKTÍTĂNG
(thiếu 1 trang)
Gã đại tá Tình báo Sở đóng cửa xe đoạn nói :
-Tôi là Chou. Nhiệm vụ của tôi là hộ tống giáo lãnh đến Bắc kinh.
Văn Bình hỏi :
-Thế đã lấy vé máy bay chưa ?
Hắn nhúnvai :
-Rồi. Từ Luân đôn, mình sẽ bay thẳng đến Karachi. Và từ Karachi lên phi cơ của công ty hàng không Đại Hồi đi Bắc kinh. Dọc đường, tôi sẽ luôn luôn ở bên giáo lãnh.
Văn Bình ngắt lời :
-Tôi không thích được gọi là giáo lãnh. Xin ông dùng danh từ nào thân mật hơn.
Hắn cười :
-Vâng, tôi thành thật xin lỗi. Người Trung hoa chúng tôi vốn trọng chức tước. Ông cũng là người Trung hoa, nhưng chắc lập nghiệp lâu năm ở hải ngoại nên muốn sự giản dị. Nếu ông cho phép, bắt đầu từ giờ phút này chúng ta sẽ dùng tiếng mẹ đẻ để bàn bạc với nhau.
Hắn chỉ xin phép lấy lệ vì Văn Bình chưa tỏ thái độ gì, hắn đã tuôn ra 1 tràng tiếng Tàu. Đối với Văn Bình thì tiếng Tàu là 1 trong những ngoại ngữ chàng nói thông thạo nên chàng không phản đối. Xe phóng nhanh như đang ở trên vòng đua. Đại tá Chou vẫn đội mũ phớt xập xuống trán và đeo cặp kiếng đen sì. Tuy vậy, Văn Bình vẫn có thể quan sát được dung mạo hắn. Hắn trạc 30, da trắng, miệng đẹp, cử chỉ lịch sự chứng tỏ đã sống ở Tây phương 1 thời gian dài, và là sĩ quan tình báo có học thức. Thoạt nhìn hắn, ai cũng lầm hắn là dân ăn diện vì tuy hắn mặc âu phục màu sẫm nhưng đó lại là bộ nỉ đắt tiền. Hàng nỉ đã đắt tiền, lối may cắt còn đắt tiền hơn. Áo vét được xẻ 2 miếng sau lưng, ve nhỏ xíu, vai mỏng và chật, nghĩa là may đúng mốt trong năm. Tuy nhiên, Văn Bình lại thấy sự ăn diện kín đáo của hắn có vẻ giả tạo. Trong đời, có lẽ hắn mặc quân phục nhiều hơn thường phục, hắn là sĩ quan chuyên nghiệp điệp báo, căn cứ vào 2 bàn tay lớn, cứng, ngón tay vuông, bàn tay có thể giết người không cần khí giới, bàn tay đã từng được luyện tập atémi, nhu đạo hoặc săm bô sô viết.
Thành phố Luân đôn náo nhiệt lùi dần trong sương mù ban đêm lành lạnh. Văn Bình bỗng nhớ Luân đôn 1 cách da diết như thể nhớ mối tình xác thịt đầu tiên. Chàng không thể quên được những cái xiêm ngắn nhất thế giới và những cô gái khoe đùi dài nhất thế giới vì mini-jupe được khai sinh ở Luân đôn. Chàng không thể quên được những câu lạc bộ dạ lạc ở Sôhô trong đó vũ nữ nhảy múa hoàn toàn trần truồng, hoàn toàn là vì luật kiểm duyệt sân khấu đã được bãi bỏ ( sướng nhé, chẳng bù với Sàigòn ), và những sòng bạc công khai ( 1.000 sòng cả thảy ) đua nhau mọc lên như nấm sau khi đạo luật tự do … sát phạt được ban hành năm 1969. Luân đôn … Luân đôn … Văn Bình không thể quên được nhà hàng trên tháp cao 160 thước, nhà hàng quay tròn, mỗi giờ được 3 vòng, thực khách có thể quan sát mọi khu vực trong thành phố. Ngồi trong tiệm ăn cao vòi vọi này, chàng cảm thấy lâng lâng. Bỗng Chou quay mặt về phía chàng :
-Ông có hay về thăm nhà không ?
Văn Bình giật mình. Ông tổng giám đốc MI-6 không cho chàng biết Rô-bơn sinh trưởng ở đâu, họ hàng nội ngoại của hắn còn ở đất Tàu hay không, và nếu còn thì hiện ở đâu, gồm những ai, ông M. cũng không nói. Chàng chỉ biết từ ngày Mao trạch Đông nắm quyền sinh sát tại Hoa lục, giáo lãnh Rô-bơn chưa hề đặt chân về Bắc kinh. Chàng bèn lắc đầu :
-Không.
-Ông không thích về, hay là không được phép về ?
-Có lẽ đại tá quên tôi là người Tàu nhưng lại mang quốc tịch Anh. Vả lại, tôi còn công tác tín ngưỡng.
-Người ta nói với tôi rằng ông rất giỏi khoa thôi miên.
-Cũng thường thôi.
-Ông khiêm tốn quá. Nghe nói ông có cặp mắt nhìn thấu tâm can thiên hạ, và đặc biệt là bàn tay ông. Bàn tay xoa nắn của ông phát ra 1 luồng nhân điện có thể chữa khòi chứng bệnh sinh lý bất trị của phụ nữ, phải không ông Rô-bơn?
Văn Bình có cảm giác như bị hàng chục mũi kim đâm vào da thịt. Chàng chưa kịp đáp thì đại tá Chou đã nói tiếp :
-Ông biết không ? Tôi là con người vô thần, nghĩa là chỉ tin vào vào sức mạnh vật chất, không tin vào sức mạnh siêu hình mà chủ nghĩa mác xít gọi là dị đoan mê tín. Cho nên hồi hoạt động ở Pháp, tôi đã đích thân tiếp xúc với Noyès để tìm hiểu sự thật. Ông quen Noyès chứ
JL. Noyès từng được mệnh danh là " con người có đôi tay vàng ", đặc tính của hai bàn tay này là áp vào đâu bệnh tật biến đi đến đấy. Noyès nổi tiếng như sóng cồn ở Pháp quốc, thân chủ gồm nhiều nhà vô địch thể thao. Trẹo chân tay, bong gân, gẫy xương, những tai nạn mà y khoa Tây phương bắt bệnh nhân phải nằm lì trên giường 1 thời gian dài, Noyès chỉ chữa trong vòng 5, 10 phút bằng cách xoa bàn tay kỳ diệu trên chỗ đau là khỏi ngay. Thậm chí ông còn chữa được bệnh nội thương khó khăn như thận hư, hoặc thác loạn thần kinh. Nhữngcon ngựa đua danh tiếng thế giới cũng là thân chủ của ông. Văn Bình đã luyện phép xoa bóp huyệt của võ Thiếu lâm và thuật hồi sinh kuatsu của nhu đạo, lại có tính hiếu kỳ cầu tiến nên không thể không đến thăm Noyès. Chính Noyès đã điều trị cho chàng khi chàng gẫy xương chân trong khi trượt tuyết liều lĩnh ở miền đông nam nước Pháp ( JL. Noyès hiện còn sống, và hành nghề tại Ba lê ). Đối với chàng, Noyès không phải là bạn song cũng không phải là người lạ. Tuy nhiên, chàng không dám trả lời dứt khoát. Có thể đại tá Chou lân la trò chuyện để kiểm chứng xem chàng có thật là giáo lãnh Rô-bơn hay không. Biết đâu chàng có 1 vài cử chỉ hớ hênh làm hắn ngờ vực. Chàng bèn ừ hữ :
-Có lẽ quen sơ.
Đại tá Chou cười vui vẻ :
-Thoạt đầu, tôi không tin nhưng sau khi được Noyès vuốt xương sống 1 lát, tôi phải hay đổi tư tưởng. Không giấu gì ông, tôi uống quá nhiều rượu mạnh, lại thức rất khuya nên mắc bệnh đau xương sống. Mỗi khi thời tiết rục rịch biến chuyển là xương sống tôi kêu rào rạo như sắp bị gẫy nát. Khi ấy, tôi chỉ còn nằm dài trên giường, rên rỉ. Tôi đã gõ cửa hàng chục thầy thuốc ở Bắc kinh cũng như ở Luân đôn, toàn thể đều nói là tê thấp kinh niên khó thể chữa khỏi. Nhưng Noyès đã chữa hết sau 3 lần thoa bóp. Tôi khâm phục Noyès từ đó. Sở dĩ tôi nhắc đến Noyès vì tôi nghe nói ông có đôi tay kỳ diệu hơn Noyès nhiều. Cho nên chính phủ tôi đã không quản tốn kém và khó khăn, ra lệnh cho tôi mời ông kỳ được về Bắc kinh.
Văn Bình chêm vào 1 câu nói vô thưởng vô phạt :
-Ông yên tâm. Tôi hết sức cố gắng để xứng đáng sự trông cậy và biệt đãi của chính phủ Trung quốc.
Xe hơi không quẹo vào đường đi phi trường mà lại tiếp tục phóng thẳng, tốc độ mỗi lúc 1 gia tăng. Văn Bình hỏi đại tá Chou :
-Ông lái đến phi trường nào ?
Chou đáp :
-Vâng, tôi sắp sửa giải thích thì ông đã hỏi. Theo thỏa thuận chung, ông sẽ đáp phi cơ thương mãi của công ty BOAC đi Karachi, thông hành, chiếu khán, vé phi cơ đều đầy đủ. Nhưng vì lý do an ninh, vào giờ cót có sự thay đổi.
-Thay đổi như thế nào ?
-Phụ tá của tôi đã gọi điện thoại cho văn phòng BOAC báo tin trước giờ phi cơ cất cánh là ông bận việc.
-Nghĩa là hủy vé bay Luân đôn - Karachi
-Vâng.
-Vậy bao giờ mới lên đường ? Tôi cần nhắc lại với ông là tôi chỉ có thể vắng mặt ở Luân đôn từ 5 đến 7 ngày là tối đa.
-Tôi nhớ lắm. Vì vậy, tôi mới bố trí cho ông lên đường ngay bây giờ.
-Ngay bây giờ ? Ông nói tôi chẳng hiểu gì cả. Phụ tá của ông đã hủy vé máy bay thì làm cách nào để đi ngay bây giờ được ?
-Hủy vé máy bay của công ty BOAC, nhưng ta lại đáp máy bay của công ty khác. Ta sẽ không đi chung, mà là đi riêng, hoàn toàn riêng. Cách đây 60 dặm về phía bắc có 1 phi trường tư nhân, 1 phi cơ nhỏ do tôi thuê sẵn đang chờ chúng ta ở đó.
-Trời ơi, từ Luân đôn qua Karachi đường dài trên mấy ngàn dặm mà dùng phi cơ nhỏ thì thế kỷ nào mới bay đến nơi ?
-Không. Phi cơ nhỏ chỉ chở chúng ta đến eo biển, từ đó chúng ta sẽ lên 1 chuyến phản lực cơ thương mãi đi Karachi.
Đại tá Chou phóng xe nhanh hơn. Mặc dầu tốc độ gần 150 cây số mà hắn vẫn giữ vẻ mặt bình thản, thoải mái, dựa lưng thẳng vào ghế, chốc chốc lại quay nhìn Văn Bình, miệng điểm nụ cười. Văn Bình biết hắn là đối thủ có thực tài và rất nguy hiểm. Chàng bèn lắc đầu :
-Điều kiện căn bản của sự hợp tác nghiêm chỉnh và lâu dài là 2 bên phải tôn trọng thỏa thuận chung. Ông đã đồng ý cho tôi đáp chuyến bay BOAC, giờ đây lại muốn tôi dùng phi cơ nhỏ, như vậy tôi không thể chấp nhận được.
Đại tá Chou cướp lời :
-Xin ông bình tĩnh nghe tôi giải thích. Thật ra tôi chưa được hân hạnh thảo luận và cam kết trực tiếp với ông, mà chỉ có nhiệm vụ thi hành những điều mà chính phủ tôi đã cam kết. Cô Anna cho biết ông là người giàu lòng thông cảm, tuy vậy tôi cũng nhờ nàng thông báo sự thay đổi giờ chót này với ông, nhưng nàng lại nói không kịp.
Té ra người đẹp 95-60-95 phân ở 3 vòng đo hấp dẫn kia là Anna. Anna là cái tên dễ đọc và khá đẹp. Gã đại tá Tình báo Sở đã có may mắn hơn chàng vì hắn được nàng hôn, lại còn biết cả tên nàng nữa. Anna … Anna … nghe hắn nhắc đến cái tên thơm tho này, Văn Bình lại tức lộn ruột. Tại sao nàng không báo tin cho chàng? Chàng giả vờ thở dài thật lớn, át cả tiếng động cơ Jaguar, cốt cho đại tá Chou nghe, rồi hỏi lớn:
-Ông có thể cho biết lý do chương trình đáp máy bay bị thay đổi vào giờ chót không?
Hắn cười tự nhiên:
-Ông không hỏi thì tôi cũng xin nói. Và ngoài nhiệm vụ hộ tống ông an toàn, tôi còn có nhiệm vụ tạo điều kiện cho ông tin cậy chúng tôi nữa. Lần này rồi còn lần khác, phải không ông? Sở dĩ chúng tôi thay đổi chương trình là vì trong danh sách hành khách đáp phi cơ BOAC từ Luân đôn đi Karachi đêm nay có 1 nhân viên MI-6 cao cấp. Nhân viên này là trưởng ban Ngoại vụ. Thế tất y có vệ sĩ đi theo. Dọc đường, y sẽ được MI-6 lưu tâm đến. Tôi không tin là MI-6 theo dõi ông vì thật ra ông chẳng làm việc gì phi pháp. Nhưng vì thói quen ngề nghiệp, tôi không thể đưa ông lên chuyến phi cơ thương mại BOAC. Thuê phi cơ riêng đắt gấp 4, 5 lần mua vé thường vậy mà chúng tôi vẫn bỏ tiền ra thuê. Điều này chứng tỏ chúng tôi luôn luôn đặt vấn đề an ninh lên hàng đầu. Sau khi tôi giải thích, tôi tin là ông không còn thắc mắc.
Văn Bình cười lạt:
-Tôi bắt đầu hiểu rồi.
Câu nói của chàng có ý nghĩa hàm súc hơn nhiều. Hiểu ở đây không phải chỉ hiểu những lời giải bày của đại tá Chou, mà là hiểu rõ thâm tâm của ông tổng giám đốc MI-6. Nếu ông muốn chàng đi Karachi, tại sao ông lại phái viên trưởng ban Ngoại vụ qua Viễn đông trên cùng chuyến với chàng? Rõ ràng là ông đánh đòn gió để đại tá Chou chùn lại và thay đổi kế hoạch. Đại tá Chou phải huy động tổ chức Tình báo Sở tại Anh quốc để thuê máy bay riêng đưa riêng đưa Rô-bơn từ Luân đôn đến lục địa Âu châu. Thành ra, 1 mũi tên bắn 2 con chim, ông M. đã khôn ngoan lợi dụng cuộc Á du của chàng để khám phá ra đường dây hoạt động bí mật của Tình báo Sở. Đáo để thật! Ông tổng giám đốc MI-6 định qua mặt ông Hoàng, và qua mặt điệp viên Z.28 nữa sao? Chàng không biết rõ lần này MI-6 trả công cho Sở Mật Vụ của ông Hoàng bao nhiêu tiền, song chắc chắn là chỉ xì ra 1 món tiền ít ỏi. MI-6 vẫn khét tiếng là xi măng cốt sắt trong làng điệp báo thế giới, song dầu xi măng cốt sắt đến đâu, ông M. cũng vẫn phải trả thêm. Khi trở về Sàigòn, chàng sẽ yêu cầu ông Hoàng gởi điện sang Luân đôn đòi 1 phụ phí 20 phần trăm, cộng vào số tiền hứa trả. Dĩ nhiên ông Hoàng nể tình bạn cố tri với ông M. nên sẽ dĩ hòa vi quý. Nhưng chàng đã có cách. Trong trường hợp ông Hoàng chịu lép, chàng sẽ đích thân giáp mặt ông M. Chàng chỉ nói 1 câu, 1 câu thật ngắn, là ông M. sẽ bằng lòng thanh toán phụ phí. Chàng đòi 20 phần trăm, chứ nếu đi 40 phần trăm ông M. cũng phải cắn răng móc túi lấy cuốn chi phếu. Câu nói bắt bí của chàng như sau:
-Thưa ông, Tình báo Sở mất hàng triệu đôla và hàng 5, 6 năm mới lập xong đường dây từ Âu sang Á. Ông chẳng mất đôla nào mà vẫn biết được hết. Tôi không dám nài kéo nhưng nếu ông không trả phụ phí, tôi đành phải thất lễ ông mà …
Chàng sẽ bỏ lửng câu nói. Nghệ thuật bắt bí thượng cấp nằm ở chỗ đó. Ông M. rán sành ra mỡ, nói bóng gió ông sẽ giả vờ không hiểu để rồi chấp thuận, chứ nếu nói sàn sạt ông sẽ trở nên cứng rắn vì bị chạm tự ái. Ông M. thừa biết rằng 1 điệp viên lăn lộn, già dặn như chàng có thể kiếm hàng triệu đôla như chơi bằng cách tiết lộ về đường dây liên lạc của Tình báo Sở cho KGB, GRU sô viết, CIA. Hoặc chàng bán thẳng cho Tình báo Sở để chơi ông M. 1 vố cho biết thân. Trong nghề điệp báo, vỏ quít dày luôn luôn đi đôi với móng tay nhọn. Ngay giữa đồng minh thân thiết, người ta vẫn rình rập cơ hội để bóp chẹt nhau.
Đại tá Chou thắng gấp. Văn Bình giả vờ mất thăng bằng và ngã vào vai hắn. Xe đã đến phi trường: 1 phi trường nhỏ xíu như chiếc khăn tay nằm sau lưng 1 trang trại lớn. Phi trường bỏ túi này không phải của các công ty hàng không thương mãi, mà chắc là của 1 nhân viên xa gần liên hệ với Tình báo Sở. Đại tá Chou đưa chàng đến trường bay bí mật, nghĩa là giáo lãnh Rô-bơn có đi mà không có về. Văn Bình bỗng toát bồ hôi. Chính ông tổng giám đốc MI-6 đầu têu ra việc này. Ông M. không muốn cho chàng đáp phi cơ BOAC. Ông M. muốn chàng dùng bộ máy giao liên đặc biệt của Tình báo Sở mặc dầu ông thừa biết sau đó chàng sẽ bị thủ tiêu. Chàng cố lắc đầu xua đuổi sự nghi ngờ ra khỏi đầu óc. Ông M. cũng tiên đoán là Tình báo Sở không tha Rô-bơn. Nghề gián điệp là nghề vô tình cảm. Vả lại, chàng là lính đánh thuê, người ta trả lương cho chàng để chàng lao đầu vào cái chết.
Đèn phi đạo sáng rực. Phi cơ tư nhân cất cánh ban đêm là chuyện thường. Đại tá Chou lái xe hơi đến bên hông 1 phi cơ sơn trắng nhỏ xíu thì đậu lại. Loại phi cơ du lịch này chỉ đủ xăng bay ba, bốn trăm cây số. Tuy nhỏ, nhẹ và bay rất thấp, nó lại an toàn, có lẽ an toàn hơn cả phản lực cơ tân tiến nữa. Nó an toàn vì có thể đáp xuống bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Văn Bình vốn mê loại phi cơ du lịch tí hon này. Chán cái cảnh xe hơi nối đuôi thành hàng dài trên xa lộ Biên Hòa chàng đã tậu 1 tiểu phi cơ 3 chỗ ngồi để lái thẳng từ Sàigòn ra Cấp. Văn Bình đinh ninh hoa tiêu của phi cơ ra đón, nhưng sau khi đại tá Chou mở cửa xe, bước xuống sân bay xi măng chàng vẫn không thấy ai. Hắn bảo chàng:
-Mời ông lên trước.
Chàng giả vờ băn khoăn:
-Phi công đâu?
Đại tá Chou cười:
-Loại taxi bé nhỏ này không cần đến phi công, ai cũng lái được, chỉ học 1 vài buổi là biết. Ông đừng ngại, phi cơ chiến đấu, phi cơ thương mãi tôi còn điều khiển được dễ dàng, huống hồ cái taxi hạng bét này.
Gió thổi phần phật. Đại tá Chou ngồi trước cần lái, khoan thai buộc lưng ghế cho chàng. Thấy chàng run lẩy bẩy, hắn đề nghị:
-Tôi có mang sẵn huýt ky. Ông dùng 1 ly là hết lạnh ngay.
Thật ra, chàng run lạnh giả vờ. trời lạnh Bắc cực hà hơi là đọng lại thành băng chàng cũng chưa run, phương chi đêm lạnh Luân đôn chưa xuống đến không độ, quần áo chàng mặc cũng khá ấm áp. Giả vờ như vậy lại hên cho chàng vì chàng đang khát khô cuống họng. Những ly rượu huýt ky uống hồi tối đã tiêu hóa hết trong bao tử bọc thép của chàng. Vì vậy đại tá Chou vừa khui chai, rót ra ly giấy, Văn Bình đã cầm lấy nốc 1 hơi.
Chàng chìa ly xin thêm, song hắn từ chối:
-Theo tôi, 1 ly đã đủ. Đi phi cơ không nên uống nhiều rượu.
-Chẳng sao cả vì tôi là con sâu rượu. Tôi uống rượu như thể uống nước lạnh
Đại tá Chou vẫn cương quyết từ chối:
-Tôi là người có kinh nghiệm, ông nên nghe tôi. Vả lại, tôi có bổn phận hộ tống ông đến nơi đến chốn. Uống nhiều có hại, ông hiểu chưa? Đến nơi, ông muốn uống cả hầm rượu cũng có. Nhưng bây giờ thì …
Hắn ngưng bặt. Phi cơ từ từ bay lên không trung. Đại tá Chou ném chai huýt ky còn non nửa qua cửa sổ phi cơ. Chàng nhận thấy hắn không uống ngụm nào. Trong 1 giây đồng hồ, chàng chợt hiểu. Trời ơi, chàng ngu quá! Bệnh nghiện huýt ky đã mang lại cho chàng 1 hậu quả tai hại. Chàng dự định bắt bí ông tổng giám đốc MI-6, đòi thêm 20% phụ phí nhưng dự định mà chàng tưởng khôn ngoan này đã trở thành vô ích vì chàng chỉ có thể bắt bí nếu được biết rõ lộ trình giao liên của quốc tế Tình báo Sở từ Luân đôn về Bắc kinh. Đại tá Chou và Tình báo Sở không ngu như chàng nghĩ. Chính chàng mới ngu vì chàng đã tự ý há miệng thật lớn để lãnh thuốc mê của đại tá Chou.
Tác động của ly rượu pha hóa chất bắt đầu phát hiện trong cơ thể Văn Bình. Đại tá Chou cho chàng uống thuốc ngủ hay thuốc tê liệt châu thân? Chàng cảm thấy cồn cào ruột gan như người nhịn đói nhiều ngày vừa hớp nước lạnh. Dường như trong bao tử chàng có 1 vật tròn nằng nặng mỗi lúc 1 to dần. cục tròn này đè mạnh xuống gan và lá lách làm chàng mệt mỏi. Tuy vậy chàng vẫn còn tỉnh. Chàng cố vận công vào đan điền để chống lại cơn mê. Qua đuôi mắt, chàng thấy đại tá đang liếc nhìn chàng. Hắn hỏi chàng, giọng nhẹ nhàng:
-Ông buồn ngủ ư?
Chàng gật đầu:
-Phải. Ông hại tôi. Ông lừa tôi uống thuốc mê.
Đại tá Chou cười:
-bây giờ ông mới biết ư? Muộn rồi, ông ạ. Trong 60 giây đồng hồ, ông sẽ mê man. Ông giỏi khoa thôi miên nên thuốc ngấm chậm. Nếu là người khác thì mới uống thuốc đã buồn ngủ liền.
-Tại sao ông lại làm vậy?
-Để bảo vệ an ninh cho ông. Xin ông tha lỗi.
Mí mắt Văn Bình đang ríu lại. Nếu chàng vận hết chân khí để kháng độc thì còn lâu chàng mới bất tỉnh hoàn toàn. Nhưng Rô-bơn chì là 1 chuyên viên thôi miên y khoa, chàng không thể để lộ cho hắn biết chân tướng võ sĩ am tường nội ngoại công của chàng. Chàng đành phó mặc cho thuốc mê hoành hành. Hai bên tai chàng, những tiếng rè rè kỳ lạ cất lên. Mí mắt chàng đã nhắm lại. Chàng duỗi dài cánh tay, ngả lưng ra sau. Văn Bình từ từ đi vào giấc ngủ hóa học.
° ° °
Khi chàng tỉnh dậy thì thấy đang nằm trên giường. Đại tá Chou ngồi bên nhưng đồ phục sức của hắn đã thay đổi toàn diện. Hắn không còn đội mũ phớt xùm xụp nữa mà để đầu trần, tóc cắt thật sát như tóc khoá sinh quân trường, vầng trán vuông, rộng và nở ra ngoài làm hắn khôi ngô hẳn lên. Khuôn mặt điển trai được gia tăng nhờ cặp kiếng đen sì choán 1 diện tích lớn trên mặt. Tuy nhiên, Văn Bình lại khám phá ra hắn có cặp mắt hung bạo. Chàng chợt hiểu tại sao đại tá Chou đeo kiếng đen ban đêm. Không phải vì hắn muốn làm ra vẻ bí hiểm mà chính vì hắn không muốn thiên hạ nhìn rõ đôi mắt quái gở. Thật vậy, trán hắn đẹp và sáng mà mắt lại thuộc loại xung sát nghĩa là mắt lớn quá khổ, tròng đen lấn át tròng trắng, với nhiều tia máu đỏ li ti chạy dọc ngang trên tròng mắt. Chân mày hắn ngắn ngủn, tụ thành 1 cục, đuôi lệch không đều đặn như thể con sâu róm nằm vắt vẻo trên con mắt 1 mí. Chân mày này tướng số Tàu gọi là chân mày la hán. Kẻ có mắt xung sát và chân mày la hán thường sống cô độc, không vợ, không con, không gia đình thân thích. Tính tình vô cùng dữ tợn, giết người không gớm tay và tham dâm vô độ. Đời sống luôn luôn gắn liền với gái đẹp và thú vui trác táng.
Mày la hán, mắt xung sát là con nhà võ song là con nhà võ yểu mệnh. Tuy hắn mỉm cười thân mật Văn Bình vẫn cảm thấy lạnh giá như bên ngoài có tuyết. Hắn kéo cái mền ra khỏi người chàng và hỏi:
-Ông hết mệt rồi chứ?
Văn Bình ngồi phắt dậy, nắm lấy ve áo đại tá Chou:
-Đây là đâu?
Hắn vẫn cười:
-Karachi, thủ đô Pakíttăng.
-Nghĩa là tôi đã mê man dọc đường từ Luân đôn đến Karachi?
-Phải.
Đối với Văn Bình, Karachi không phải là thành phố xa lạ. Chàng đã ghé xuống nhiều lần. Pakíttăng ở sát nách Ấn độ và cũng nghèo xơ nghèo xác như Ấn độ song chàng lại thích Ấn độ hơn, cho dẫu Ấn độ là 1 trong những nơi khó tìm rượu huýt ky ngon và rẻ nhất thế giới. Nguyên nhân chính của sự lựa chọn này là đàn bà. Thật vậy, thủ đô Karachi gồm hơn 1 triệu dân mà không có lấy 1 xóm yên hoa ra hồn. Nghệ thuật dạ lạc đã bị luật lệ và tôn giáo ngăn chặn triệt để, song nếu được thả lỏng cũng còn bở hơi tai mới theo kịp được Sàigòn. Văn Bình từng lục lạo khắp hang cùng ngõ hẻm mà không tìm ra được 1 người đẹp xứng đáng. Hầu hết đều phảng phất cái bẩn thỉu của thành phố. Muốn giải sầu, du khách phải gõ cửa các động đào nhập cảng ( chị em ta ở Sàigòn hãnh diện nhé ).
Chàng không thương yêu thủ đô Karachi nhưng lại nhớ đến rất nhiều. Có lẽ chàng nhớ đến thành phố hôi hám và xấu xí này hơn cả các thành phố thơm tho và đẹp đẽ khác trên cõi Á châu nữa. vì thành phố này đã lưu lại trên cánh tay chàng 1 kỷ niệm đẫm máu, 1 kỷ niệm hằn sâu thành vết thẹo dài 8 phân tây, rộng 1 phân tây. Chàng không thể nào quên được, sau này phải tiếp da bằng phương pháp giải phẫu thẩm mỹ mới xóa bỏ được hết. Hơn 15 năm về trước, Văn Bình đặt chân lần thứ nhất xuống thủ đô Karachi. Hồi ấy, chàng đã hoạt động điệp báo nhưng còn là tay mơ, chưa già dặn kinh nghiệm và võ nghệ như ngày nay. Tuy nhiên, về khoản hiếu sắc có lẽ chàng khao khát mạnh mẽ hơn và lều lĩnh hơn. Chính vì sự khao khát của tuổi trẻ, và cũng vì chưa am hiểu phong tục của Hồi giáo nên Văn Bình suýt mất mạng, hoặc ít ra cũng suýt trở thành tàn phế vĩnh viễn.
Hôm ấy, như thường lệ, chàng la cà sau bữa cơm tối vào 1 nơi mua vui ở gần ngoại ô thành phố. Dưới ánh đèn lờ mờ, giữa đám đàn ông mắt đỏ ngàu thèm muốn và hung hãn, thanh niên đẹp trai Văn Bình đã lọt vào cặp mắt khá quyến rũ của 1 cô gái đôi mươi. Đang ngồi ăn 1 mình, chàng héo lánh đến bàn nàng, gạ ăn chung với nàng, và dĩ nhiên là nàng không phản đối. Bọn thanh niên trong tiệm cũng kéo đến, ngồi quây lấy chàng. Cậy giỏi võ, Văn Bình đối xử bằng thái độ kẻ cả. Chàng dùng tay trái rót nước ngọt để mời họ. Karachi là thành phố theo đạo Hồi nên việc uống rượu được coi là cấm kị, vì vậy chàng đành uống nước ngọt hầu tôn trọng nếp sống bản xứ. Song còn 1 điều vô cùng quan hệ mà du khách có bổn phận tôn trọng chàng lại không biết. Mãi đến khi bị ăn lưỡi dao bén vào bắp tay mới biết đã muộn. Chàng mời họ thấy họ không uống, nét mặt lại có vẻ bất bình nên mời thêm. Chàng mời lần nữa, lần này không những gã đàn ông ngồi bên bất bình, mà cả bọn đều bất bình. Và không những họ bất bình trên nét mặt, họ còn xô ghế đứng dậy, dáng điệu hùng hùng hổ hổ nữa.
Chàng chưa hiểu tại sao thì 1 nhát dao đã chém vào cánh tay chàng. Cũng may hung thủ không phải là kẻ dùng dao chuyên nghiệp, và cũng may lưỡi dao chém nghiêng, nếu không điệp viên Z.28 đã thành người cụt tay và có thể mất mạng ( và giờ đây, Người Thứ Tám đã hết đề tài để viết hầu bạn đọc ). Vết thương làm máu tuôn ra như suối. Cả bọn bỏ chạy tán loạn. Chàng hăng tiết đuổi theo nhưng mọi người trong nhà tìm cách cản chàng lại. Phản ứng của họ khiến chàng sửng sốt. Chàng không làm điều gì thất lễ. Theo nguyên tắc trọng khách cũng như nguyên tắc giúp đỡ người bị tai nạn, họ phải cấp báo nhân viên an ninh, chặn bắt hung thủ, hoặc ít ra cũng săn sóc chàng và đưa chàng vào bệnh viện băng bó. Nhưng đêm ấy, họ chẳng thèm để ý đến chàng. Trong chốc lát, toàn thể khách ăn uống trong nhà hàng đều rủ nhau rút ra ngoài. Cô gái liếc mắt đưa tình với chàng cũng bỏ chàng 1 cách giận hờn, pha lẫn khinh miệt. Chủ nhà lại đuổi chàng quầy quậy. Chàng đành thở dài, rút khăn tay cột vết dao chém., rồi ra xe tự lực lái bằng 1 tay đến nhà thương.
Sau khi được rịt thuốc và trở về lữ quán, thuật lại câu chuyện kỳ lạ với 1 người bạn đã sống lâu ở Pakíttăng chàng mới phăng ra sự thật. Té ra câu chuyện chẳng có gì là lạ. Pakíttăng là quốc gia Hồi giáo mà dân Hồi giáo có vốn có 1 số tục lệ đặc biệt. Khi ăn uống, tín đồ Hồi giáo chỉ dùng bàn tay phải, không bao giờ dùng bàn tay trái. Vì bàn tay trái đối với họ là bàn tay bẩn thỉu, chỉ được dùng để thực hiện công tác vệ sinh thân thể. Chàng mời bọn đàn ông mê gái uống nước bằng tay trái nên gây ra ngộ nhận. Họ tưởng là chàng chế riễu đạo Hồi. mời 1 lần, mời 2 lần, họ còn có thể tha thứ được, chứ mời đến lần thứ ba thì họ chịu đựng không nổi nữa.
Từ đấy, mỗi khi đến 1 xứ lạ nào chàng cũng dò hỏi cẩn thận tập quán địa phương. Đạo Hồi có mấy trăm triệu tín đồ: toàn cõi Trung Đông, ngoại trừ Do thái, đều theo đạo Hồi, ngoại trừ đảo Chypre nơi đạo Hồi chỉ chiếm thiểu số, ngoại trừ 1 nửa Libăng dân số chiếm nửa tín đồ đạo Hồi, nửa tín đồ Thiên chúa giáo.
-Ông dùng cà phê nhé?
Câu hỏi của đại tá Chou làm Văn Bình choàng tỉnh mộng. Không đợi chàng gật đầu, hắn đã le te bưng tách cà phê nóng hổi lại và đưa cho chàng bằng tay phải. Chàng nhận thấy hắn đưa tách cà phê cho chàng bằng tay phải. Vừa đưa, hắn vừa giải thích, giọng thân mật:
-Ông biết không người Pakíttăng theo đạo Hồi, mà theo đạo Hồi thì tay trái là tay phàm tục, tay bất xứng. Nếu ông dùng tay trái mời họ ăn uống thì chắc chắn bị ăn đòn.
Văn Bình đặt tách cà phê xuống bàn đêm không uống:
-Ông đã bị ăn đòn lần nào chưa?
Đại tá Choucười:
-Rồi.
Song nói tiếp:
-Cà phê ngon tuyệt, sao không ông uống cha ấm bụng?
Thấy chàng ngần ngừ, hắn vội phân bua:
-Nảo đảm với ông không có thuốc ngủ đâu.
Nói đoạn hắn cười hề hề, nhưng Văn Bình không cười. Chàng nghiêm mặt:
-Ông là người lật lọng. Tôi là thày thuốc, không thiếu gì thân chủ ở Âu châu. Vì nể người trung gian, và cũng tình đồng hương tôi mới nhận lời về tận Bắc kinh chữa bệnh. Tuy làm hợp đồng bằng miệng nhưng chính phủ ông đã long trọng cam kết là không được đơn phương thay đổi các điều khoản về di chuyển, vậy mà …
Giọng đại tá Chou vẫn ôn tồn:
-Ông lầm rồi. Cá nhân có thể nuốt lời hứa song 1 chính phủ không thể nuốt lời hứa. Trong hợp đồng có 1 khoản quan trọng ấy là chính phủ tôi phải làm bất cứ điều gì để bảo vệ an ninh cho ông. Tôi không thể để nhân viên MI-6 gặp ông trên máy bay. May mà hắn xuống Karachi, chứ nếu đi thẳng đến Quảng châu thì có lẽ cho đến phút này ông vẫn còn mê man. Lúc đó, chúng tôi bắt buộc phải đưa ông vào Hoa lục bằng 1 con đường an toàn khác.
Văn Bình nín lặng. Đại tá Chou đinh ninh sự nín lặng của chàng có ý nghĩ phục thiện. Thật ra sự nín lặng này bắt nguồn từ 1 lý do khác. Chàng không dám hỏi thêm vì ông M. không đá động tới bản hợp đồng giữa Rô-bơn và quốc tế Tình báo Sở. Tại sao ông M. giấu chàng? Tại sao ông M. sai nhân viên đáp máy bay đến Karachi? Tại sao nhân viên này chỉ đến Karachi thôi?
Đại tá Chou lại mời chàng uống cà phê lần nữa. Miễn cưỡng chàng phải chiều hắn. Hắn không thể biết rằng chàng từ chối hồi nãy chẳng phải vì sợ thuốc mê mà vì chàng vốn ghét cà phê, dẫu là cà phê điểm tâm buổi sáng. Nếu hắn đưa ra 1 chai huýt ky thượng hạng thì chàng đã vồ lấy, bất cần là bên trong có độc dược hay không. Vì chàng thừa biết Tình báo Sở đang cưng chàng như cưng trứng. Nếu có giết chàng, họ phải chờ đến khi xong việc. Và đến khi ấy, chàng đã cao bay xa chạy.
Đại tá Chou nhìn đồng hồ tay:
-Đã đến giờ. mời ông ra sân bay.
Xuống nhà dưới, không cần coi bảng tên khách sạn Văn Bình đã biết đây là Palace, khách sạn lớn nhất trong thành phố. Dường như ngày trước, các tiểu vương bản xứ ngụ tại đây nên phòng nào phòng nấy đều rộng mênh mông. Chàng trèo lên chiếc xe Rolls Royce màu cà rem sẫm, có tài xế lái. Pakíttăng là xứ thân Trung cộng có khác, đại tá Chou hoạt động nghênh ngang như trên đất nhà. Chốc chốc hắn lại nhìn đồng hồ nên Văn Bình đoán là hắn có hẹn. Có lẽ hắn đang chờ 1 nhân viên khác đến hộ tống chàng từ Karachi tới Hoa lục. Tuy hắn nói là cùng đi với chàng đến tận Bắc kinh song chàng không tin.
Chàng đoán trúng răm rắp. Xe chạy được 1 quãng thì dừng lại. Đại tá Chou mở cửa xe sửa soạn bước xuống. Chàng giả vờ băn khoăn:
-Chưa đến phi trường sao ông lại xuống?
Chou lắc đầu:
-Tôi chỉ được phép đưa ông tới đây thôi. Xin ông tha lỗi cho. Mãi đến trước giờ lên đường, cấp trên mới cho biết. Chẳng qua vì vấn đề an ninh.
Văn Bình dò hỏi 1 cách khôn ngoan:
-Ông sợ gặp lại gã yếu nhân tình báo Anh chứ gì?
Vô tình hắn mắc mưu chàng. Hắn đáp ngay, giọng vui vẻ cởi mở:
-Vâng, ông nói đúng. Tôi được tin hắn ở lại Karachi, nhưng biết đâu hắn có thể thay đổi lộ trình vào phút chót. Hắn đã quen mặt tôi suốt từ …
Nhận thấy lỡ miệng, hắn vội im bặt, nhưng Văn Bình đã hiểu. Chắc hắn định nói "suốt từ Âu châu về đến đây". Có lẽ chàng bị bỏ gọn trong 1 cái rương lớn chứa hàng hóa trên chuyến bay thương mãi về Karachi.
Đại tá Chou đổi đề tài 1 cách lúng túng:
-Từ đây ra đến phi trường, tài xế của tôi sẽ lo liệu đầy đủ, ông khỏi phải lo lắng gì.
-Còn từ phi trường đến Hoa lục?
-Chuyến phi cơ này của công ty hàng không Pakistan Air Lines chỉ bay đến Quảng châu. Ông sẽ đi 1 mình. Giấy tờ của ông đã có sẵn. Nói là đi 1 mình, nhưng trên máy bay vẫn có 1 nhân viên thân tín của chính phủ tôi luôn luôn săn sóc ông kín đáo. Ông không biết mặt người ấy, song người ấy lại biết mặt ông.
Đại tá Chou nhảy xuống lề đường. Trong giây phút hắn đã biến dạng vào màn sương hoàng hôn. Buổi chiều tha hương buồn, buổi chiều ở Karachi còn buồn hơn nữa vì người cũng như vật đều bẩn thỉu, chậm chạp và lười biếng.
Tài xế bỗng rồ máy cho xe phóng nhanh rồi quẹo sang bên trái. Hắn quay lưng lại nên chàng không thấy rõ mặt, nhưng chỉ thoáng nhìn 1 bên chàng cũng biết hắn là thuộc cấp chứ không phải là nhân viên quan trọng như đại tá Chou. Da mặt hắn sần sùi như vỏ cam sành chứng tỏ hắn là con nhà hạ tiện. Mặt hắn bạnh ra, đầu lại nhọn hoắt, không cân đối nhau. Văn Bình bỗng cảm thấy thương hại hắn vì không cần coi đường chỉ tay, coi tướng chàng cũng đoán biết hắn sẽ chết bất đắc kỳ tử. Thật vậy, mặt lớn, đầu nhọn là đặc điểm của kẻ bị chết bất đắc kỳ tử. Đại tá Chou cũng thuộc hạng đoản mệnh vì chân mày la hán, cặp mắt xung sát, cho nên Văn Bình bỗng thương hại lây quốc tế Tình báo Sở và các nhân viên hành động của họ đều là những kẻ đoản mệnh.
Khi xe đến phi trường thì trời đã tối. Chuyến bay Quảng châu chỉ có rất ít hành khách, phần đông là người Tàu. Thủ tục cảnh sát và quan thuế được tiến hành nhanh chóng, gần như qua quýt khiến chàng có ý nghĩ là đại tá Chou đã gởi gấm chàng từ trước.
Các nữ tiếp viên phi hành Pakíttăng chẳng có nét nào đặc biệt. Họ không đeo mạng che mặt, đồng phục của họ đã được tân tiến hóa với cái quần dài bó ống màu xanh nước biển khả ái song chàng không thấy khả ái gì hết. có lẽ vì nước da họ không được trắng, và thân thể họ thẳng tuột từ đầu đến chân, không có lấy 1 đường cong hấp dẫn. Hai cô ả đứng dưới chân thang không cười với chàng như các nữ tiếp viên phi hành thường cười tình với hành khách ở khắp nơi trên thế giới nên chàng cũng chẳng buồn chào hỏi.
Chiếc phi cơ 6 máy rộng thênh thang mà hành khách chỉ vỏn vẹn có 10 mạng. Máy bay trên quãng đường này thường vắng. Tuy vậy chàng vẫn không cho là vắng vì từ Vọng các đến Ngưỡng quang nhiều khi chỉ có 2, 3 hành khách trên chuyến bay đầy đủ tiện nghi có thể chứa được 60, 70 người. Theo thói quen, cửa phi cơ vừa đóng lại là chàng đã ngủ say. Nhưng lần này chàng phải chật vật lắm mới ngủ được. một phần vì phi hành đoàn cất cánh vụng về khiến chàng mỏi mệt, phần khác vì cái mùi khó chịu theo chàng từ lữ quán đến sân bay, bám chặt lấy quần áo và da thịt chàng. Đó không phải là mùi hôi hám mặc dầu thành phố Karachi chẳng lấy gì thơm tho, Sàigòn nổi tiếng không thơm tho nhưng xét kỹ vẫn còn thơm tho gấp Karachi cả chục lần. Mùi này không phải là mùi vị đàn bà vì từ lúc đến, đến lúc đi chàng chưa hề ra khỏi giường ngủ chứ đừng nói là cặp kè với giai nhân bản xứ nữa.
Chàng cảm thấy nghèn nghẹt nơi cuống họng. Để được dễ chịu, chàng đứng dậy vặn người kêu rắc 1 tiếng. Đối với người Tây phương thì cử chỉ của chàng có vẻ khiếm nhã. Nhưng đối với người Tàu, 1 dân tộc nổi danh từ cổ chí kim trên thế giới về tài vô địch nhổ vặt, nhổ vung vít, nhổ bừa bãi bất cứ nơi đâu thì chàng có khiếm nhã hơn thế nữa trên máy bay, họ vẫn thản nhiên như không.
10 hành khách ngồi phía sau chàng đều mặc đồ đen. Tuy quần áo của họ được may bằng nỉ dầy, họ vẫn không giấu được những bắp thịt ắn chắc chứng tỏ họ đều là dân giỏi võ. Đại tá Chou nói là trong số các hành khách có 1 nhân viên Tình báo Sở tháp tùng chàng. Nhân viên này là ai?H thuộc đủ hạng tuổi, già có, trẻ có, trung niên có, khuôn mặt cũng khác nhau: kẻ mặt vuông, người mặt tròn, kẻ mặt nhọn, người mặt méo, mỗi người 1 vẻ vậy mà Văn Bình lại thấy họ giống nhau như khuôn đúc.
Giống nhau nhiều nhất là y phục. toàn thể đều mặc 1 màu đen ảm đạm, 1 hàng nỉ cứng đét. Toàn thể đều mặc 1 kiểu cổ áo đứng, áo đính 4 túi, kiểu áo vét cán bộ do Mao trạch Đông sáng chế. Toàn thể đều mặc quần ống chân voi rộng thùng thình tưởng như bỏ cột đình vào cũng lọt. Thứ đến mái tóc. Toàn thể đều cắt tóc ngắn khiến chàng liên tưởng đến 1 nhóm tân binh quân dịch. Cử chỉ của họ cũng giống nhau lạ lùng. Họ không cười, không liếc ngang dọc, không bâng khuâng nhìn qua ô cửa, cũng không khệnh khạng hút thuốc. Toàn thể đều ngồi ngay ngắn trong ghế.
Nhìn họ, Văn Bình đâm sợ. Chàng sắp sửa phải đối đầu với 700 triệu con người cũng hà tiện cử chỉ, hà tiện ngôn ngữ như họ. Chàng sẽ lưu lại 72 giờ ở Bắc kinh. 72 giờ mà chàng có cảm tưởng là 72 tháng, 72 năm dài đằng đẵng.
Bỗng dưng chàng nghĩ đến những nhân vật chính trong điệp vụ "Người Yêu" mà chàng có bổn phận hoàn tất. Tướng Kan-Yeh, phó tổng giám đốc, đặc trách Hậu cần quốc tế Tình báo Sở. Kim-My, cô gái đôi mươi mắc bệnh lạnh lùng. Và Soe-Fuk, nữ điệp viên của MI-6.
VHẬU CUNG NỔI SÓNG
Khi ấy, tướng Kan-Yeh đang làm việc trong văn phòng ở ngoại ô Bắc kinh. Về tuổi đời, Kan-Yeh đã xấp xỉ lục tuần, nghĩa là ở vào thời kỳ sửa soạn khăn gói xuống nhà mồ, nhưng về tuổi tình thì hắn còn trẻ măng. Hắn sung sức như thanh niên 25, 30. tuổi 25, 30 này là tuổi sung sức, nhưng đó chỉ là sự sung sức bồng bột của ngọn lửa rơm phựt cháy 1 lát rồi tắt, còn sự sung sức của ông già Kan-Yeh lại dai bền như cao su, bền bỉ như sợi dây ni lông, rầm rộ như ngọn sóng thủy triều và lôi cuốn như nước hoa bùa mê Ai cập.
Người ta đồn rằng Kan-Yeh còn được sung sức bất chấp năm tháng trôi qua là nhờ 1 thứ rượu cải lão hoàn đồng đặc biệt. Riêng 1 số ít cộng sự viên thân cận mới biết rằng rượu thuốc cải lảo hoàn đồng này được pha với nhựa cây ô him bê, 1 loại cây rất lớn thường mọc trong rừng rậm Bô li vi, và Chí lợi thuộc Nam Mỹ. Các lãnh tụ phản gián Tây phương thường sửng sốt trước sự bành trướng nhanh chóng và rộng lớn của tổ chức Tình báo Sở tại vùng châu Mỹ la tinh, họ không ngờ được rằng 1 trong những lý do chính của sự phát triển vượt bực này là cây ô him bê. Tổng cục Hậu cần của tướng Kan-Yeh cần nhựa ô him bê để ngâm thuốc, cung cấp sức khỏe cho 1 số nhân vật lãnh đạo, nên Tình báo Sở phải tăng gia hoạt động tại Nam Mỹ, đặc biệt tại Bôi li vi và Chí lợi 1.
Quốc tế Tình báo Sở gồm nhiều tổng cục. Hành động Hải ngoại là ngành quan trọng không kém. Tổng cục Hậu cần có nhiệm vụ cung cấp cho nhân viên mọi phương tiện và dụng cụ cần thiết. Đành rằng nhân viên cần súng đạn, điện đài, tiền bạc, giấy tờ giả mạo, y phục cải trang, cục Hậu cần còn lưu tâm đến 1 nhu cầu thầm kín và thú vị khác : ấy là nhu cầu phụ nữ.
Sắc đẹp và xác thịt là 1 thứ khí giới hùng hậu -có lẽ là khí giới hùng hậu nhất của loài người cho dẫu thế giới ngày nay đã có bom nguyên tử- nên được Tình báo Sở tận dụng. Cục Hậu cần có 1 đoàn cán bộ riêng gồm toàn đàn ông trung niên đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong nước để tìm kiếm những bông hoa biết nói kiều diễm. Trung hoa là 1 nước rộng lớn mênh mông, hệ thống giao thông nội địa chưa ra khỏi tình trạng hậu tiến nên đoàn cán bộ của tướng Kan-Yeh được cấp nhiều phương tiện chuyển vận tối tân như phi cơ nhẹ, trực thăng, giang đĩnh, xe hơi, những phương tiện mà ngay cả giới tướng lãnh cũng không có.
Cục Hậu cần chỉ có trách nhiệm tuyển mộ gái đẹp nhưng không chịu trách nhiệm huấn luyện. Tậu được bao nhiêu, họ nộp hết bấy nhiêu cho cục Huấn bị. Tuy nhiên, 1 công đôi việc, tướng Kan-Yeh đã được thượng cấp ban cho trách nhiệm phân loại gái đẹp tuyển mộ, chọn lựa những nàng Kiều ngon lành nhất để riêng 1 nơi. Hậu cung này được mang bí số là M.9. Chỉ 1 số rất ít người Hoa lục được biết đến sự hiện diện của M.9. Biết được như vậy người ta mới hiểu sâu xa của việc trang bị phương tiện chuyển vận tối tân cho tổng cục Hậu cần. Nói trắng ra, sở dĩ đoàn cán bộ đặc biệt của tướng Kan-Yeh được ngự phi cơ nhẹ, trực thăng, giang đĩnh, xe hơi chạy nhanh, được chè chén linh đình đủ mọi sơn hào hải vị, có quyền hét ra lửa mửa ra khói là vì họ có bổn phận lùng kiếm gái đẹp, và nhất là gái tơ cho các quan lớn thủ đô.
Gái đẹp chỉ là điều kiện thứ nhì. Điều kiện thứ nhất là gái đẹp phải là gái tơ. Trong nước Trung hoa cổ xưa với tục lệ bó chân cho nhỏ hoặc cấm cung cho đến tuần cặp kê thì lùng kiếm gái tơ không lấy làm gì khó. Chỉ cần triều đình sức xuống cho tổng đốc địa phương, tổng đốc sức xuống cho quan lại huyện phủ là có gái tơ còn trinh ngay. Nhưng từ ngày họ Mao kiểm soát lục địa, phụ nữ -và đặc biệt con gái- không được ẩn núp trong phòng the nữa. Toàn thể phải ra đường làm lụng. Cuộc sống chung đụng đã làm tỉ lệ trinh tiết của con gái Hoa lục tuột xuống mức rất thấp. Cho nên đoàn cán bộ Hậu cần phải về tận làng mạc xa xôi, mở cuộc điều tra và kiểm kê tỉ mỉ mới thu dụng được những món hàng vừa ý. Trên nguyên tắc, đoàn cán bộ chỉ tuyển mộ toàn gái tơ. Họ tuyển nạp bằng nhiều cách, nhưng nếu ngày xưa triều đình thường dùng tiền bạc và chức tước để đền bù thì ngày nay cục Hậu cần đã tỏ ra hà tiện hơn. Đôi khi để giữa bí mật, họ còn tổ chức bắt cóc hoặc thủ tiêu giả hiệu. Thủ tiêu giả hiệu nghĩa là dàn cảnh ám sát rồi dùng 1 xác chết nào đó, thường là không đầu hoặc thiếu tay chân nhưng mặc quần áo của nạn nhân vứt cho trương phình trong rừng để đánh lừa gia đình nạn nhân. Trong khi đó, nạn nhân được mang về Bắc kinh.
Vì lý do bảo vệ bí mật, và cắt đứt mọi liên hệ giữa nạn nhân với gia đình, đoàn cán bộ M.9 được lệnh chiếu cố nhiều đến những đứa trẻ chưa đến 10 tuổi. Cũng như " giấm " chuối xanh cho chín vàng, bọn trẻ này được đem về nuôi nấng trong hậu cung M.9 theo phương pháp khoa học để đến khi nẩy nở thì dâng hiến trinh tiết trọn vẹn cho thượng cấp. Không rõ tại sao Hậu cung toàn gái tơ có nhan sắc khuynh quốc khuynh thành này lại được đặt tên là M.9, trùng với tên 1 loại máy ghi âm nổi danh của hãng Akai. Có lẽ vì tướng Kan-Yeh áp dụng thủ đoạn lộng giả thành chân, biến biến ảo ảo, mượn những danh từ quen thuộc và hiền lành sẵn có để ru ngủ những kẻ tò mò, mặc dầu tò mò được coi là tính xấu nhất của Hoa lục, và bị các cơ quan an ninh nhăn chặn, tiêu diệt triệt để.
Tướng Kan-Yeh đã mượn khá nhiều tên của công ty Akai để gọi những đặc ban hệ trọng trong M.9, chẳng hạn X.5 là đặc ban chuyên môn nuôi dưỡng gái tơ chưa đến thời kỳ xử dụng, vừa được mang từ các tỉnh về. Danh từ X.5 này rất có ý nghĩa vì đó là loại máy ghi âm nhỏ nhất và được coi là khá tốt về mã ngoài cũng như máy móc bên trong. Chẳng hạn SW.150 để chỉ văn phòng chỉ huy. Theo Akai, SW.150 là cặp loa phát âm thanh tròn trịa, du dương. Văn phòng chỉ huy của tướng Kan-Yeh phụ trách việc cung cấp gái đẹp … cũng tròn trịa và du dương nên danh từ này rất thích hợp.
Mỗi lãnh tụ điệp báo có 1 thú vui riêng. Cũng như ông Hoàng thích hút xì gà, và là xì gà Havan loại độc nhất vô nhị, thì tướng Kan-Yeh không khoái máy ghi âm của hãng Akai của Nhật bản. Trong nhà, trong bàn giấy, chỉ thấy toàn máy ghi âm Akai. Hệ thống ghi âm bên trong M.9 cũng của Akai.
° ° °
Đêm ấy, trong khi Văn Bình đang ngủ gà ngủ gật trên chuyến bay từ Karachi đến Quảng châu thì tướng Kan-Yeh lại tỉnh như sáo sậu trong văn phòng chỉ huy cách ngoại ô Bắc kinh 15 cây số đường chim bay.
Nếu tính khoảng cách trên địa đồ thì chỉ 15 cây số không hơn không kém, nhưng nếu muốn đến tận nơi, chạy qua cổng để lọt vào Thiên thai ngàn 1 đêm lẻ thì phải mất 45 cây số nghĩa là xa gấp ba. Sở dĩ đường dài gấp ba vì tướng Kan-Yeh cố tình cho đắp 1 con đường ngoằn ngoèo theo hình chữ chi. Chung quanh M.9 trong đường kính 10 cây số được coi là cấm khu, thường dân không được bén mảng tới. du khách càng không thể lại gần vì ở đâu cũng có trạm gác, tiếp theo bãi mìn, và sau cùng là 1 hào nước rộng và sâu bao bọc lấy trung tâm chứa gái đẹp như thể là pháo đài thời Trung cổ.
Văn phòng của tướng Kan-Yeh nằm chính giữa trang trại trên đỉnh 1 ngọn đồi tuyệt đẹp. Đứng trên đồi nhìn xuống, phong cảnh hữu tình đến nỗi những người có trái tim bằng xi măng cũng phải rạt rào thổn thức. Bắc kinh tọa lạc ở phía bắc, thời tiết luôn luôn lạnh lẽo, vậy mà khách chỉ thấy toàn cây cối xanh um, xa xa những giòng sông nhỏ nước cuốn xanh ngắt, sườn đồi, vườn tược tất cả đều trải màu xanh mát mắt, và gợi tình.
Phòng giấy chỉ huy được điều hòa khí hậu. Trời nóng thì có hơi mát, trời lạnh thì có hơi ấm, chỉ cần bấm nút nhỏ là có thể thay đổi được những trớ trêu của vũ trụ. Tướng Kan-Yeh ngồi giữa phòng, phía sau 1 cái bàn lớn hình thoi bằng gỗ trầm hương. Gỗ này không giống trầm hương thường thấy ở Đông Nam Á, nó hiếm hơn và thuộc hàng đại danh mộc. Xẻ ra, nó trắng phau phau, da thịt đàn bà Tây phương cũng vị tất trắng bằng, và đặc điểm của nó là để lâu ngoài khí trời không ngả màu vàng như các danh mộc khác. Nó còn có 2 đặc điểm nữa. Thứ nhất nó không bắt bụi, không thấm nước như lót 1 lớp ni lông bên trên, bất cứ nước bẩn nào rớt xuống chỉ lau sơ là sạch, không ăn vào thớ gỗ. Nhờ đặc điểm này, nó luôn luôn mới. Thứ hai, nó rất thơm. Nó không thơm lộng làm người ngửi tịt mũi hoặc khó chịu như 1 số gỗ trầm hương ở Lào và Diến điện. Mà là thơm nhẹ nhàng. Thơm thoang thoảng. thơm quyến rũ. Thơm như thể đâu đây có 1 cô gái tuyệt đẹp, còn trinh, vừa tắm xong, xõa tóc trước gió cho khô. Mùi thơm này là mùi thơm da thịt, mùi thơm của tóc. Vì mùi thơm này, người ta mới đặt tên cho nó là mỹ nhân mộc. Gỗ mỹ nhân chỉ có thể tìm thấy ở tỉnh Cam túc. Cây lớn như cây đa, cành lá xum xuê, quanh năm lá đều xanh không rụng, nếu ai lấy dao chặt ở thân thì cây tiết ra 1 chất nước trăng trắng có 1 mùi khác thường. Người tàu vốn dị đoan mê tín nên qua nhiều thế hệ, cây gỗ mỹ nhân ở vùng núi Cam túc được coi là thần mộc linh thiêng, thổ dân không dám đụng tới. Mãi sau này chế độ họ Mao được thành lập, cán bộ cộng sản mới cho đốn cây làm gỗ.
Cái bàn làm việc của tướng Kan-Yeh là 1 kỳ công của nghệ thuật điêu khắc Trung hoa. Cục Hậu cần huy động những tay thợ khéo nhất Hoa lục kỳ khu đục đẽo suốt 3 tháng trường dòng dã mới hoàn thành được cái bàn này. Riêng mặt bàn được để nguyên 1 phiến gỗ trắng không chắp nối, còn các diện khác đều được chạm trổ với mấy trăm miếng gỗ nhỏ ráp vào nhau thật khít. Hình chạm trổ đều là những nhân vật đời Tam quốc, nổi danh như quân sư Gia cát Lượng, đệ nhất gian hùng Tào Tháo, đệ nhất dõng tướng Quan vân Trường, ngay cả những nhân vật ít được ai biết tới như Lục Tốn của Đông Ngô, Trương Tu của Bắc Ngụy, Mạnh Hoạch của đất Thục, thảy đều được tạc hình. Cho đến cả bà vợ của Lưu huyền Đức cũng không bị bỏ quên. Người ta không biết ngoài cái bàn giấy bằng gỗ mỹ nhân này, tướng Kan-Yeh còn sai làm cái nào nữa không, nhưng chắc là có vì đám thợ giỏi bị giữ riệt luôn trong phạm vi M.9, không ai được phép về nhà. Song cũng có thể là họ đã bị thủ tiêu tất cả như những tay thợ xây lăng cho Tào Tháo.
Ngoài đặc điểm màu trắng, không vàng và thớ gỗ thơm mùi da thịt người đẹp, cái bàn mỹ nhân chắc còn 1 đặc điểm thầm kín khác nữa nên tướng Kan-Yeh mới gắn bó với nó, còn hơn ông già lọm khọm gắn bó hầu non nguyên si nữa. Tướng Kan-Yeh rất kín miệng nên không ai biết rõ, nhưng theo lời bọn cận vệ thì gỗ mỹ nhân còn có đặc điểm trợ tình. Uống rượu thuốc ngâm chất ôhimbê mà ngồi trên gỗ mỹ nhân thì trên đời này không còn mãnh lực trợ tình nào bằng.
Tướng Kan-Yeh ngồi từ lâu trước bàn giấy, cặp mắt đăm chiêu. Tuy đã gần 60 tuổi, Kan không có nét nào trên mặt tố cáo sự già nua. Mắt người ngũ tuần thường hõm xuống, khóe mắt có nhiều nếp nhăn, mũi và má rúm lại, tóc bạc phơ hoặc rụng nhiều. Trong khi ấy mắt Kan-Yeh vẫn sáng và mịn, má bình thường, mái tóc phớt trắng nhẹ nhàng, không cần phải dùng thuốc ruộm như đa số đàn ông trên 40 tuổi. Một đặc điểm của người già là da dẻ trở nên răn reo, sù sì, đường gân nổi đầy bàn tay, nhưng làn da của Kan-Yeh lại trơn tru, láng bóng và cứng cáp. Phần vì Kan-Yeh uống thuốc trợ tình và hồi xuân, nhưng phần khác vì ưa luyện tập võ nghệ. Hồi còn trẻ, Kan-Yeh là kỳ quan của quân đội giải phóng. Hắn theo Mao trạch Đông, Chu ân Lai và Chu Đức lên đường từ phía nam lên tận Diên an thuộc vùng tây-bắc đèo heo hút gió trong cuộc vạn lý trường chinh gian khổ năm 1936. Nhiều người chết dọc đường song hắn không chết. Hơn thế nữa, trong cuộc hành trình lâu dài này hắn đã tìm ra bí quyết cuộc sống: võ nghệ và đàn bà.
Trong đoàn quân Bắc tiến có nhiều võ sĩ. Kan-Yeh dốc lòng học nên quên được những nỗi thiếu thốn và khổ sở ghê gớm. Lên đến Diên an, 1 thị trấn nhỏ xíu, nằm bên giòng con sông Diên hà cũng nhỏ xíu không kém, dân cư thưa thớt, toàn rừng là rừng, nhà cửa đều xây trong hầm núi hoặc đào dưới đất để tránh bom đạn của phi cơ Nhật. Kan-Yeh đã có cơ hội dùng sức khỏe của tuổi 30 và vốn liếng võ nghệ để chống lại lam sơn chướng khí. Kan-Yeh điều khiển 1 đại đội đào hầm cho các cơ quan đầu não của Mao trạch Đông. Từ đại đội trưởng quèn, Kan-Yeh bò dần lên tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng rồi sư đoàn trưởng. ành rằng Kan-Yeh đào hầm rất giỏi nên được cất nhắc, nhưng nguyên nhân chính không phải là đôi tay giỏi xúc đất, gánh đất suốt ngày đêm như máy. Nguyên nhân chính là … đàn bà. Trong cuộc vạn lý trường chinh, ăn uống hoàn toàn thiếu thốn, thậm chí đến rễ cây trong rừng cũng tìm không ra để đánh lừa bao tử. Quan quân chết như rạ, quân đội Quốc dân đảng lại đuổi theo như bóng với hình. Vậy mà binh sĩ giải phóng, đúng hơn những lãnh tụ của quân đội giải phóng vẫn không thể quên được đàn bà.
Khi đến Diên an thì chỉ còn lại 35 phụ nữ còn sống sót, trong số đó có người vợ thứ hai của Mao. Kan-Yeh nhận thấy trong những lúc con người đói khổ nhất, nam nữ vẫn lưu tâm đến ái tình. Bằng chứng là vợ ba của Mao 2 mang trong mình 12 vết đạn trái phá mà dọc đường vẫn chửa đẻ 2 lần, và hàng vạn đứa con của đoàn vạn lý trường chinh đã ra đời. Kan-Yeh nẩy ra ý tưởng thiết lập 1 hậu cung chứa toàn gái đẹp từ đó. Và từ bấy đến nay mấy chục năm đã trôi qua, Kan-Yeh trở thành chủ thầu gái đẹp độc quyền của Hoa lục. Ghét của nào trời trao của ấy, Kan-Yeh làm nghề bán thịt người, lòng lạnh như tiền, vậy mà sau cùng lại thất điên bát đảo vì sắc đẹp của 1 cô gái trong hậu cung M.9.
Tên nàng là Kim-My.
Cũng như những bông hoa biết nói kiều diễm khác trong hậu cung, Kan-Yeh đã sai thuộc viên tuyển mộ Kim-My khi nàng mới lên 6 tuổi. Nàng sinh trưởng ở vùng tây-bắc nên thân hình cao lớn, da dẻ trắng nõn. Nàng có máu lai nên nước da trắng của nàng không giống nước da trắng bệch của phụ nữ tàu. Thoạt trông, ai cũng tưởng nàng là người phương tây với những đường cong siêu đẳng khi nàng lớn lên.
Kim-My được nuôi nấng từ tấm bé để đến tuổi dậy thì sẽ được xung vào hậu cung, nhưng không ngờ Kan-Yeh lại mê nàng 3. Hắn không mê nàng bằng mối tình xác thịt thuần túy mặc dầu thân thể nàng là lò lửa nhục dục độc nhất vô nhị. Hắn cũng không mê nàng bằng mối tình thoảng qua, chỉ sau 1 vài đêm, 3 - 4 tuần lễ rồi phai nhạt. Hậu cung thiếu gì gái đẹp, nếu không đẹp hơn nàng thì ít ra cũng đẹp bằng nàng. Nhưng chẳng hiểu sao Kan-Yeh chỉ chiếu cố đến nàng.
Kan-Yeh đưa nàng về nhà riêng để tính chuyện chăn gối. Hỡi ôi, người đẹp Kim-My lại mắc 1 chứng bệnh bất trị: bệnh lạnh lùng. Rốt cuộc Kan-Yeh phải nhốt nàng trong phòng kín, trong khi huy động guồng máy hùng hậu của Tình báo Sở để tìm thầy chữa chạy cho nàng.
Kan-Yeh thở dài nhìn bức ảnh bán thân của Kim-My dựng trên bàn giấy. Trong ảnh, nàng đang nhìn hắn. Mỗi khi gặp luồng nhỡn tuyến của nàng, hắn bỗng bủn rủn chân tay, chẳng nghĩ được gì, chẳng làm được việc gì nữa. Hắn ấn nút điện thoại gọi phòng bí thư:
-Gã thầy thuốc sắp đến chưa?
Nữ bí thư đáp:
-Thưa, giờ này hắn đã đáp xuống phi thường Quảng châu. Phi cơ riêng đã chờ sẵn để chở hắn ngay đến đây.
Mặt Kan-Yeh tươi hẳn lên. Hắn xoa 2 bàn tay vào nhau, giọng vui vẻ:
-Bây giờ tôi về phòng. Ai hỏi thì nói tôi mệt, đang ngủ. Công việc quan trọng đến mấy cũng không được phép đánh thức, trừ phi là gã thầy thuốc đến nơi.
-Tuân lệnh.
Nữ bí thư ở phòng bên đáp bằng giọng nghiêm trang pha lẫn kính nể, nhưng trong thâm tâm lại cười thầm. Những nhân viên của tướng Kan-Yeh tại hậu cung M.9 đều nghe quen danh từ "mệt, đang ngủ, không được phép đánh thức". Tướng Kan-Yeh cáo mệt luôn luôn, hàng tháng có đến chục lần váng mình sốt mẩy như vậy. Kể ra với số tuổi lục tuần chồng chất trên đầu, Kan-Yeh bị mệt là thường. Phần đông lãnh tụ Bắc kinh đều ở tuổi Kan-Yeh mà gân cốt đều lỏng lẻo, trời chưa lạnh đã rét run như cầy sấy, uống thuốc cảm mạo và tê thấp rề rề quanh năm. Nhưng Kan-Yeh lại là người không bao giờ biết mệt. Hắn khỏe như voi, có thể làm việc cả ngày cả đêm khỏi ngủ, và nếu cần, có thể làm việc cả tuần lễ nữa. Sức khỏe của hắn là do thuốc cải lão hoàn đồng mà ra, nhưng phần nào cũng do hắn được trời phú cho da thịt và tạng phủ bằng sắt thép. Trong cuộc vạn lý trường chinh, mọi người đều sống dở, chết dở, riêng hắn vẫn béo phây phây. Dường như trong máu hắn có 1 chất lạ giúp hắn chống lại vi trùng bệnh tật. Bởi vậy, từ nhỏ đến lớn hắn chưa hề mang bệnh.
Nếu có, thì chỉ là 1 thứ bệnh.
Bệnh phong tình.
Đi đêm có ngày gặp ma, tướng Kan-Yeh đam mê quá độ nên thiếu giữ gìn và bị đổ bệnh phong tình. Nhưng nhờ thuốc trụ sinh hắn đã bình phục nhanh chóng. Và để báo thù, hắn giết chết bọn gái mắc bệnh.
Tạo hóa oái oăm, Kan-Yeh không hề có bệnh song mọi người ở quanh hắn đều có bệnh. Và đều là bệnh bất trị. Từ ngày công thành danh toại về Bắc kinh, trở thành nhân vật hét ra lửa của Quốc tế Tình báo Sở đặc trách chủ thầu gái đẹp, tướng Kan-Yeh đã đem 3 cô gái về làm của riêng. Cả 3 đều có nhan sắc độc nhất vô nhị. Cả 3 đều là gái tơ. Nhưng không hiểu sao cả 3 đều bị chết 1 thời gian ngắn sau ngày được bí mật mang về trang trại M.9 ở ngoại ô Bắc kinh. Cô gái thứ nhất lìa trần trong đêm động phòng: Kan-Yeh hẹn với nàng sau nửa đêm thì trước nửa đêm nàng đã thành người thiên cổ sau 1 cơn nấc cục khó hiểu. Lễ hợp cẩn được đổi thành lễ khâm liệm. Kan-Yeh không dám hé răng mà chỉ bí mật điều tra về nguyên nhân cái chết. Thì ra người đẹp thiệt mạng vì tự ý quyên sinh. Nàng chọn cái chết bằng độc dược để tránh nâng khăn sửa túi cho lão già hiếu sắc. Kan-Yeh buồn rầu hàng tuần lễ. Hắn buồn rầu vì chẳng qua chưa được động phòng.
Cô gái thứ hai cũng từ giã cõi đời trong những hoàn cảnh rất khó hiểu. Nàng được chở bằng phi cơ riêng từ Hoa nam về trang trại M.9, chưa kịp vào trình diện thượng quan thì đã tự ải. tướng Kan-Yeh thường mời giai nhân đến hội kiến ban đêm, nhất là nửa đêm về sáng, song thuộc viên gõ cửa phòng nàng không nghe tiếng trở lời, phải xô vào thì thấy người đẹp treo cổ tòn teng trong tủ áo, 1 tủ áo bằng gỗ bạch đàn, đựng hơn 100 bộ y phục lộng lẫy may riêng ở Hồng kông. Đêm ấy, tướng Kan-Yeh đập bàn nổi cơn thịnh nộ. Tên vệ sĩ thân tín nhất xớ rớ đi qua bị hắn gọi giật lại và bắn cho 1 viên đạn vào đầu. Đến khi Kan-Yeh tỉnh cơn mê thì nạn nhân đã tắt thở. Vụ quyên sinh thứ hai làm Kan-Yeh đau đớn hơn trước vì lẽ nàng đẹp hơn, lại trẻ hơn, hấp dẫn hơn.
Tuy nhiên, cái chết của cô gái thứ ba còn ly kỳ hơn nữa. Lần ấy, Kan-Yeh bố trí canh phòng cẩn mật. Người đẹp đi đâu cũng có vệ sĩ bám sát từng giây, từng phút. Người đẹp đặt chân xuống trường bay Bắc kinh trên 1 chuyến phi cơ riêng từ trường bay về hậu cung cũng bằng xe hơi riêng, loại xe hơi bọc thép cản đạn, và được đưa ngay đến văn phòng của tướng Kan-Yeh. Tư thất được nhân viên võ trang máy điện tử và đàn chó bẹt giê dữ tợn canh phòng. Tướng Kan-Yeh đinh ninh người đẹp hoàn toàn thuộc về hắn. Thật ra, nàng đã thuộc về hắn, nhưng chỉ có nửa chừng. Vì hắn mới vào phòng nàng được 10 phút, mới uống xong ly rượu đại bổ chờ cho ngấm thì nàng ứa máu tươi ra mép và lăn đùng ra chết. Người tàu vốn dị đoan nên 1 số thuộc viên của Kan-Yeh cho đó là Thần trùng về bắt. Nhưng Kan-Yeh không tin có Thần trùng. Hắn cho là 1 bàn tay kín đáo đã tìm cách ngăn hắn vui thú với những cô dâu mới.
Bàn tay kín đáo này là ai? Kan-Yeh cố khám phá song chẳng tìm thấy đầu mối nào cả. Chung quanh hắn toàn là những người tin cậy, đồng sinh đồng tử sau bao nhiêu năm. Hắn nghi ngờ đám phụ nữ, nhưng trong trang trại M.9 có hàng trăm đàn bà, con gái, người nào cũng được hắn chiếu cố, ít ra là 1 lần. Người nào cũng ngấp nghé được nâng lên làm thiếp, biết nghi ngờ ai? Ghen tuông là tính trời cho của phụ nữ, có thể vì ghen tuông họ đã gây ra các vụ án mạng, nhưng chẳng lẽ mang tra tấn và hành hình cả đám phụ nữ trong hậu cung?
Tướng Kan-Yeh đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Song mặt khác, hắn đã tăng cường biện pháp an ninh đến mức tối đa. Nhất là từ ngày tậu được người đẹp không tiền khoáng hậu Kim-My.
Kim-My không quyên sinh. Kim-My không ghét hắn. Nhưng Kim-My lại mang bệnh sinh lý trầm trọng. Vì vậy, hắn càng yêu nàng hơn nữa. Hắn nguyện nếu phải hy sinh cả cục Hậu cần của hắn để chạy chữa cho nàng bình phục, hắn cũng không ngần ngại. Kan-Yeh bấm nút điện giấu trong ngăn kéo. Văn phòng của Kan-Yeh không có cửa. Bên ngoài trông vào, ai cũng tưởng là cái hộp vuông bằng bê tông cốt sắt, nhưng kỳ thật ở bức tường nào cũng trổ cửa sổ. Cửa chính phải xuyên qua phòng nữ bí thư. Nữ bí thư gọi điện thoại vào, ở bên trong Kan-Yeh bấm nút thì cửa mới mở ra. Ngoài ra còn có 2 cửa phụ: 1 cửa cứu cấp chỉ để xử dụng trong trường hợp nguy hiểm, và 1 cửa xuống hầm, hầm này ăn thông từ văn phòng đến tư dinh của Kan-Yeh và 1 số cơ sở của M.9. Lệ thường, sau buổi làm việc đêm, tướng Kan-Yeh vẫn dùng đường hầm trở về phòng. Đêm nay, hắn lại nổi hứng mở cửa ra phòng nữ bí thư. Thấy cửa sắt dạt ra, đại úy nữ bí thư giật mình đứng dậy. Cũng như thượng cấp, Kan-Yeh có rất nhiều vợ song vẫn độc thân, nữ bí thư Tsoong-ha vẫn còn độc thân tuy đã trải qua các giai đoạn của đời đàn bà. Độc thân là luật lệ ngầm của M.9. Trên nguyên tắc, muốn được phục vụ tại M.9 không bắt buộc phải độc thân, nhưng trên thực tế, trai có vợ và gái có chồng đều không được chấp nhận. Đôi khi, nếu việc vợ chồng xảy ra sau ngày được kết nạp thì họ bị thuyên chuyển về địa phương chứ không được làm việc trong Trung tâm. Nữ bí thư Tsoong-ha không còn trẻ nữa, nhưng nếu tướng Kan-Yeh không còn trẻ mà vẫn sung sức, khỏe mạnh thì nàng cũng không đến nỗi thua em kém chị. Xuân xanh nàng trạc 37, 38 nghĩa là tuổi xế chiều của nữ giới nhưng trên đầu nàng chưa có sợi tóc nào muối tiêu. Trên mặt nàng cũng chưa có vết răn nào lộ lễu. Và nhất là trên thân thể nàng tuyệt không có 1 lượng mỡ thừa bèo nhèo như thường thấy ở mọi đàn bà cùng tuổi. Nàng đã chia ngọt xẻ bùi với Kan-Yeh và trong những ngày đêm lang thang chiến đấu, nàng còn chia mền xẻ gối nữa. Nàng lại không biết ghen (nói đúng hơn, nàng không dám ghen ) nên mới được lưu nhiệm làm bí thư.
Kan-Yeh mỉm cười với nàng. Trước mặt người ngoài, nàng thường gọi Kan-Yeh là ông tướng, hoặc đồng chí bằng giọng khô khan, đượm vẻ kính nể, nhưng mỗi khi chỉ có 2 người, nàng lại kêu hắn bằng tiếng "anh" thân mật, gần như xuồng xã.
-Anh chưa về ngủ ư?
Kan-Yeh vẫn cười:
-Còn em, em còn ngồi đó làm gì?
-Anh vừa ra lệnh cho em xong. Anh dặn là anh về phòng, ai hỏi thì nói là ông tướng bị mệt vì làm việc quá sức, phải ngủ để lấy lại sức, y sĩ bảo thế. Công tác quan trọng đến mấy cũng …
-Nhớ rồi. Nhưng đêm nay có trăng, về phòng ngủ rất uổng.
-Vâng, đêm nay là đêm 16. Trăng 16 luôn luôn tròn, sáng, và đẹp hơn trăng rằm.
-Từ nhiều năm nay tôi chưa được thưởng thức trăng rằm. Em xếp giấy tờ lại, ra vườn dạo mát cho vui.
Tsoong-ha bàng hoàng. Bên ngoài trời lạnh nhưng cắt ruột. Văn phòng được sưởi ấm mà nàng còn mặc áo lạnh, chắc bên ngoài lạnh không chịu nổi. Nàng vội đáp:
-Thưa anh, trời lạnh lắm.
Kan-Yeh nhún vai:
-Hừ, lạnh thì 2 người đi chơi bên nhau sẽ ấm chứ sao!
Không đợi mời lần thứ hai, nữ bí thư Tsoong-ha khoác áo ấm rồi tay mình vào tay tướng Kan-Yeh ra vườn. Trang trại M. 9 gồm nhiều khu vườn, những khu vườn bên ngoài trồng toàn kỳ hoa dị thảo, còn những khu vườn bên trong lại trồng toàn cây thuốc. Những cây trổ bông hoặc có hột chứa đựng dược chất làm tình yêu gia tăng hoặc giảm bớt đều có mặt. Khí hậu Bắc kinh thường lạnh nên các loại cây xứ lạnh đều được trồng thành luống và bồn, còn các loại cây ôn đới và nhiệt đới, chở từ Phi châu hoặc Nam Mỹ về được chăm sóc cẩn thận trong những phòng kính điều hòa khí hậu bằng máy sưởi tối tân, có thể tính sát từng nhiệt độ. Vườn thuốc này do 1 tiểu đội thảo mộc gia đặc biệt đảm trách dưới quyền điều khiển của văn phòng bí thư. Khu vườn được tường cao che kín, những toán lính gác bên ngoài không thể nhìn thấy bên trong. Nhiều buổi trưa nắng, tướng Kan-Yeh cho mang đệm mút ra trải dưới bóng mát để nghỉ ngơi với người đẹp, không cần buông rèm vì trên là trời, chung quanh là cây cỏ vô tri với 4 bức thường thành cao hơn 6 thước, cửa cổng được bọc bằng tôn dầy.
Nữ bí thư Tsoong-ha lặng lẽ sánh vai tướng Kan-Yeh dưới ánh trăng, e lệ như cô dâu sắp sửa động phòng. Thật ra, nàng không còn biết e lệ là gì từ 20 năm nay. Sở dĩ nàng lặng lẽ vì trong thâm tâm vừa bùng nổ lên 1 niềm lo ngại.
Trước mặt 2 người là những luống đất mới xới chạy dài thành hàng thẳng tắp trồng nấm. Đây không phải nấm ăn, mà là nấm độc mặc dầu bề cao và màu sắc không khác nấm ăn là mấy. Tự tay nàng chọn lựa nấm độc Tây bá lợi á trồng trong vườn. Nấm mútximôn được dân bộ lạc bán khai ở Tây bá lợi á nhai nhồm nhoàm trong miệng như nhai kẹo cao su mỗi khi sức lực sút kém. Nấm độc này làm cho thân thể say lâng lâng, tâm trí nhẹ nhõm như bay bổng chín tầng mây. Tướng Kan-Yeh dùng nước cốt nấm mútximôn giã nhỏ, cô đặc lại và chà thành bột, 1 thứ bột trăng trắng và thơm thơm để cung cấp cho những đồng chí không đủ bản lãnh trong phòng the. Dùng ít bột nấm mútximôn gây ra khoái cảm tuyệt diệu, nhưng nếu dùng nhiều, khoái cảm tuyệt diệu sẽ dẫn đến cái chết. Trong quá khứ, nàng đã biết rõ nhiều vụ do tướng Kan-Yeh hạ sát đối thủ chính trị bằng gái đẹp và bột nấm. Những cây nấm silôsibin được trồng bên cạnh tuy không độc bằng, song tác động cũng không kém phần kinh khủng. Các bộ lạc cổ lỗ ở trung bộ châu Mỹ nghiền nấm này pha với rượu để uống trong đêm liên hoan, lễ lạc tôn giáo để khích dâm trai gái. Uống nhiều có thể mắc chứng điên. Chính Tsoong-ha đã được tướng Kan-Yeh sai biếu 1 trung tướng Tình báo Sở vò rượu mai quế lộ ngâm nấm này. Sau 2 tháng miệt mài truy hoan, trung tướng phải vào dưỡng trí viện. Rồi 3 tháng sau treo cổ lên cành cây. Chết.
Bất giác Tsoong-ha rùng mình.
Nàng liếc nhìn tướng Kan-Yeh. Hắn đang mải ngắm những cây cà độc dược trổ hoa. Thứ cà này được đưa từ miền nam Địa trung hải và Nam Mỹ về, song không phải để chữa bệnh sốt rét ngã nước cho nhân viên phục vụ tại miền rừng núi. Những cây nhục đậu khấu mang trái hình bầu dục, vỏ cứng, phát xuất từ Mã lai, Nam dương, và được người bản xứ chế biến thành gia vị cũng là 1 mê thảo ghê gớm. Tsoong-ha đã thí nghiệm tác dụng ghê gớm của cà độc dược và nhục đậu khấu nhiều lần. Và không riêng gì những độc dược rút trong cây cỏ, nàng còn có sẵn trong văn phòng hàng chục độc dược khác được hóa hợp có thể làm nạn nhân mê man trong chớp mắt. Tất cả những chất này đã giúp tướng Kan-Yeh trèo thật nhanh lên đài danh vọng, dĩ nhiên của sự tiếp tay hữu hiệu của nàng từ gần 20 năm nay.
Toàn thân Tsoong-ha gấy lạnh. Hơi lạnh đêm khuya chưa đủ để nàng nổi vẩy ốc. Nàng sinh trưởng ở xứ lạnh. Hồi nhỏ, từng dầm người xuống nước Ô tô lý giang thì hơi lạnh Bắc kinh nàng chưa coi vào đâu. Nàng lại khoác ngoài cái áo lông cừu đắt tiền, trong người nàng mặc toàn đồ len bó sát da thịt. Sở dĩ nàng lạnh vì 1 lý do thầm kín khác. Lý do này đã tiềm tàng trong lòng nàng, nay có cơ hội mới vùng dậy. Tướng Kan-Yeh quay mặt về phía nàng. Ánh trăng vờn lung linh trên khuôn mặt dài của gã đàn ông già nua, nàng nhận thấy miệng hắn mím lại, mắt hắn hấp háy, tròng trắng nổi lên những đường gân đỏ. Thái độ này thường có ở tướng Kan-Yeh mỗi khi hắn sửa soạn giết người.
Tsoong-ha run lên nhưng cầy sấy.
Kan-Yeh đụng ngón tay vào ngực nàng, giọng sắc nhọn:
-Tại sao em run?
Nàng lắp bắp:
-Trời lạnh quá. Anh cho phép em trở về nhé! Không khéo em bị cảm hàn.
-Hà, hà, người như em cảm hàn sao được. Em nổi tiếng là xương đồng da sắt ở M.9 này rồi mà. Em có thể thú thật cho tôi biết tại sao em lại run không?
-Thưa anh, em lạnh thật đấy. Em có giấu giếm anh điều gì bao giờ đâu mà em phải thú thật?
Kan-Yeh cười:
-Em đã mất bình tĩnh. Thôi, để anh làm em vui.
Hắn kéo nàng vào lòng. Nàng đờ người cho hắn hôn. Tuy già, hắn vẫn còn lối hôn dũng mãnh của thanh niên 30. Hắn hôn nàng thật lâu, người nàng tiếp tục run bần bật. Môi nàng đã lạnh lại càng lạnh thêm. Cơn sợ hãi phi thường đã ngăn chận sự rung động của thân thể nàng. Kan-Yeh xô Tsoong-ha ra, giọng dịu dàng:
-Ô kìa, em chẳng đáp ứng gì cả!
Tsoong-ha nín thinh. Kan-Yeh ấn nàng ngồi xuống, nàng ngoan ngoãn thả mình trên nệm cỏ xanh, dưới bóng rợp 1 thân cây lớn, vỏ xù xì, lồi lõm như cây quế. Đó là cây ôhimbê, vỏ nó chứa 1 chất thuốc trợ tình kỳ lạ. Tuân lệnh tướng Kan-Yeh, nàng đã cho người sang tận Nam Mỹ bấng 1 số cây ôhimbê đem về trồng, và cũng do chỉ thị bí mật của tướng Kan-Yeh, nàng đã cung cấp rượu thuốc ôhimbê cho 1 số yếu nhân của chế độ.
Ôhimbê cũng giống như ma túy LSD, ai đã vướng phải thì khó thể rút ra. Y học Tây phương dùng ôhimbê để chữa bệnh căng mạch máu, nhưng nếu đem pha trộn thêm với hợp chất, nó biến thành 1 thứ thuốc độc … khoái lạc. Bằng rượu thuốc này, tướng Kan-Yeh nắm vững chế độc Bắc kinh trong tay. Nắm vững để làm gì giờ đây nữ bí thư Tsoong-ha mới hiểu. Nhưng hiểu thì đã muộn. Nàng càng run mạnh thêm. Tướng Kan-Yeh ghì chặt nàng, giọng sặc sụa dục tình như chàng trai đôi mươi:
-Em đang nghĩ gì thế?
Nàng lắc đầu:
-Thưa anh, không.
-Em lại nói dối rồi. Tôi biết rõ là em đang nghĩ đến chuyện ghê gớm.
-Vâng, em sợ lắm.
-Sợ ai?
-Em cũng chẳng biết nữa.
-Chắc là em sợ tôi.
-Thưa anh …
-Hừ, em sợ tôi là phải. Vì em là kẻ có tội. Tội rất nặng. Làm việc với tôi lâu năm, em hẳn biết tôi có đức khoan hồng, song cũng hết sức tàn bạo.
-Anh ơi, anh đừng nghe người ta. Dầu sao, em cũng sống bên anh gần 20 năm trời. Anh ơi, gần 20 nêm trong rừng rậm, nằm gai nếm mật, cho đến ngày cách mạng thành công trở về Bắc kinh quyền uy, chức trọng, em không hề dám đòi hỏi, dẫu rằng …
-Dẫu rằng em tự nhận có công lớn giúp tôi đạt được tột đỉnh ngày nay, phải không?
-Xin anh để em nói. Nếu em có tư tưởng ấy, em đã không ngồi lì quanh năm suốt tháng trong căn phòng vắng với chức bí thư. Anh ơi, từ lâu lòng em đã chết.
-Đồ ngụy biện. Em bám lấy chức bí thư là để có điều kiện theo dõi tôi, kiểm soát tôi. Em là con đàn bà ghen tuông 1 cách hiểm độc và kinh tởm vì lòng em chứa đầy thuốc độc.
-Đàn bà thì ai chẳng ghen, nhưng em chỉ dám ghen tuông trong sự chịu đựng thầm lặng.
-Hừ, chịu đựng thầm lặng. Chịu đựng thầm lặng nên em đã ra tay hạ sát 3 cô gái sắp thành thân với tôi. Em che đậy tuyệt khéo. Vụ giết người thứ nhất được ngụy trang dưới bệnh nấc cục, vụ thứ hai bằng sợi giây ni lông treo trong tủ gỗ bạch đàn, còn vụ thứ ba bằng ly rượu độc làm ứa máu ra ngoài mép.
Tsoong-ha nhổm dậy :
-Oan em lắm. Em không hề nhúng tay vào 3 vụ này. Em xin thề độc với anh.
Giọng tướng Kan-Yeh vẫn đều đều:
-Trong đời, tôi đã nghe nhiều người thề độc, nên tôi không còn tin ai nữa. Tsoong, tại sao em dám giết 3 vợ hầu của tôi?
-Thưa anh …
-Em hãy trả lời đi. Tại sao em làm như vậy? Dĩ nhiên, vì em ghen tuông, nhưng chắc chắn bên trong còn 1 động lực nào khác. Động lực này là vai trò của địch.
-Trời ơi, anh hết buộc tội em ghen tuông, lại choàng tội chết vào cổ em. Một người đã trung thành gần 20 năm với anh, còn trung thành hơn cả con chó đối với chủ mà có thể làm tay sai cho địch được ư?
-Có thể lắm chứ. Bệnh ghen tuông phi lý thường làm con người đui mù. Em muốn được tôi cưới làm chính thất, nhiều lần em đã ngỏ ý với tôi, nhưng tôi thẳng tay gạt bỏ nên em đặt kế trả thù.
-Nghĩa là anh nhất định coi em là thủ phạm?
-Nhất định.
-Em hiểu rồi. Anh đã nghe lời ton hót và mưu đồ bẩn thỉu của con Soe-Fuk.
-Tại trung tâm M.9, chỉ có 2 người đàn bà được sống gần anh, em và Soe-Fuk. Soe-Fuk đã bán thân bất toại từ nhiều năm nay, và từ nhiều năm nay, Soe-Fuk không màng đến ân ái nữa. Em độc ác ngoài sự tưởng tượng, em đã lừa Soe-Fuk uống lầm thuốc để thành tàn tật. Em gây ra tội, giờ đây em phải đền tội.
-Vậy anh còn đợi gì mà chưa ban cho em 1 phát đạn?
-Tôi muốn em viết giấy thú tội trước khi có thái độ vì Kan này ưa làm việc quang minh chính đại, trước khi trừng phạt ai phải thu thập đầy đủ bằng chứng.
-Tất cả chỉ là những bằng chứng giả tạo. Anh muốn giết em để bảo vệ những thủ đoạn ghê tởm của anh, thế thôi. Anh được tin 1 số ủy viên trung ương đảng rục rịch mở cuộc điều tra về những hành động quỷ khốc thần sầu của anh, nên anh bịt miệng nhân chứng. Hơn ai hết, anh thừa hiểu là em không có tội, chẳng qua chỉ là tội biết nhiều, biết quá nhiều. Em biết quá nhiều nên em phải chết. Chết để cho anh sống.
-Em muốn biện hộ cách nào tùy ý, nhưng tôi không thể tha chết cho em. Đây này, em ký vào đi.
Tướng Kan ấn vào bàn tay run rẩy của nữ bí thư Tsoong-ha 1 tờ giấy trắng chi chít chữ. Dưới ánh trăng mười sáu sáng vằng vặc, ánh trăng mong đợi của những kẻ yêu nhau, nữ bí thư Tsoong-ha lại nhìn thấy trên trang giấy vuông vắn 2 màu trắng và màu đen, màu trắng rợn người và màu đen cũng rợn người. Đối với người Trung hoa, màu trắng là màu tang chế. Từ ngày chế độ mới cầm quyền ở Bắc kinh, màu trắng được thay dần bằng màu đen vì vấn đề tiết kiệm. Bình sinh, nàng rất sợ 2 màu đen trắng lẫn lộn. Có lẽ đó là ấn tượng còn sót lại của nhiều năm sống trong vùng núi rừng Diên an. Trong nhiều năm liên tiếp, nàng cùng Kan-Yeh trốn chui trốn nhủi dưới hầm đá trắng hếu như pha chất phấn vôi. Hàng ngàn, hàng vạn binh sĩ chết trận rủ nhau nằm xuống và được tẩm liệm trong những ô vải đen sì. Hai màu đen trắng lẫn lộn đã trở thành ám hiệu của sự chết trong trung tâm M.9. Khi tướng Kan-Yeh còn tin cậy nàng, mỗi lần hắn muốn giết ai, hắn chỉ cần viết tên nạn nhân bằng bút lông mực son lên 1 vuông vải trắng. Còn muốn tống giam, tra khảo ai, hắn dùng vuông vải đen.
Kan-Yeh thúc giục:
-Ký đi, em ký đi.
Tsoong-ha nhìn tờ giấy định mạng, khóe mắt rưng rưng. Nàng vốn là con người khô khan, cuộc sống vào sinh ra tử đã trui luyện nàng thành khối đá vô tri vô giác. Nhưng đêm nay nàng lại khóc, vì lần đầu tiên nàng mới cảm thấy sự ngu xuẩn của mình. Kan-Yeh đã bỏ rơi nàng 1 cách bình thản như người ta bỏ rơi 1 cái áo lót rách nát. Nàng sẵn sàng tuân lệnh Kan-Yeh song không thể hạ bút ký vào bản án tử hình của nàng. Vì thật ra nàng vô tội.
Nàng hoàn toàn vô tội. Kan-Yeh có biết nàng vô tội hay không? Nàng muốn hỏi Kan-Yeh nhưng lại nín lặng. luồng mắt lạnh như băng của Kan-Yeh chứng tỏ hắn không chấp nhận 1 lời biện hộ nào của nàng nữa. Nàng phải chết dẫu nàng chưa hề phạm tội.
Nàng quắc mắt:
-Anh bắt em ký gì?
Kan-Yeh gằng giọng:
-Em là nhân viên thứ nhất trong M.9 dám cưỡng lệnh tôi.
Nàng cũng gằn giọng:
-Vì tôi hoàn toàn vô tội.
-Hoàn toàn vô tội không phải lý do khiến em không ký. Tôi yêu cầu em ký, và em phải ký.
-Nếu tôi từ chối?
-Ồ, nếu em ký nhận tội, em sẽ được chết 1 cách êm thấm, tên em sẽ không bị bôi nhọ, gia đình em được yên thân. Tôi sẽ đặc biệt cấp dưỡng cho thân nhân em.
-Tôi chẳng còn ai là thân nhân cả.
Kan-Yeh cười hềnh hệch:
-Còn chứ. Em chóng quên quá. Còn mẹ em. Còn mấy đứa con của em, những đứa con không cha mà em đẻ rơi trong thời gian 20 năm hoạt động bên tôi nữa.
Tsoong-ha rít lên:
-Anh là đồ bạc tình. Trong số những đứa trẻ đẻ rơi dọc đường này, có cả con anh. Và anh không có 1 con mà là 2 con với tôi, anh nhớ chứ Anh giết con, xuống âm phủ anh sẽ gặp chúng, anh sẽ chịu tội với Trời.
-Hà, hà … em đã trở thành duy tâm phản động. Chỉ riêng việc lệch lạc tư tưởng này cũng đủ làm em mất mạng rồi. Em là đảng viên lâu năm, em không thể quên rằng chủ nghĩa chúng ta không tin có âm phủ cũng như không có ông Trời.
-Tôi không còn là đảng viên, là đồng chí của anh nữa.
-Được. Nhưng trước khi đoạn tuyệt, em phải ký.
-Chết tôi cũng không ký.
Thái độ bướng bỉnh của người đàn bà từng thờ hắn như ông vua trong gần phần tư thế kỷ đã làm Kan-Yeh đùng đùng nổi giận. Mặt hắn bừng đỏ như gấc chín. Hắn thở bằng miệng phì phì. Hắn thường có tật khi nổi giận thì nháy mắt láo liên và thở phì phì bằng miệng. Tsoong-ha sống bên hắn đã lâu nên biết rõ sở đoản của hắn. và nàng cố tình lừa cho hắn nổi giận. Khi hắn nổi giận, chân khí trong cơ thể bị phân tán, nàng có thể xử dụng độc thủ để tẩu thoát. Nếu nàng triệt hạ được Kan-Yeh, nàng không sợ bị ai bắt lại vì nàng là nhân viên có quyền thế ở M.9. Nàng chưa định đi đâu, nhưng việc cần làm trước tiên là loại trừ Kan-Yeh. Sau đó nàng sẽ tính. Kan-Yeh xòe bàn tay chuối mắn ra toan tát Tsoong-ha. Nàng ngồi xây lưng về phía hắn, hoàn cảnh vô cùng thuận tiện cho nàng tấn công chớp nhoáng và hữu hiệu bằng thế võ "thoát bào nhượng vị" của Thiếu lâm tự. Thế võ này là 1 trong nhiều thế đánh cùi chỏ hiểm độc trong trường hợp 2 đối thủ đối diện nhau và cùng đứng thẳng. Địch tấn công trước thì ta bước tréo qua bên trái né đòn, rồi xuất kỳ bất ý đánh quật lại bằng cùi chỏ trái vào ngực, đồng thời với cùi trỏ phải vào sống mũi địch.
Tsoong-ha đang ngồi trên cỏ song thế "thoát bào nhượng vị" của nàng lại ác liệt không kém thế đứng vì thật đây ra chỉ là 1 biến thể kỳ ảo của thế trên. Sau ngày thành lập và bành trướng M.9, tướng Kan-Yeh đã ra lệnh cho các võ sư thuộc cấp nghiên cứu những thế võ sấm sét nhất của quyền Thiếu lâm, chế biến lại để huấn luyện cho 1 số nhân viên cao cấp. Tsoong-ha đã học hết khóa trung đẳng của quyền Thiếu lâm chế biến. Nàng chưa xử dụng thế hiểm này bao giờ nhưng tin tưởng là có thể khuất phục được Kan-Yeh vì dầu sao hắn cũng đã gần lục tuần. Hắn còn trẻ, nhưng chẳng qua chỉ còn trẻ trong phòng the, khi ân ái với đàn bà. So với người trung niên khí lực sung mãn, hắn chưa phải là đối thủ đồng cân lạng, phương chi nàng lại ra đòn nhanh như chớp xẹt.
Kan-Yeh lãnh trọn cái cùi trỏ trái của nàng vào mỏ ác. Hắn nhào sang bên để tránh miếng đánh giữa mặt. Hắn gầm lên như con thú bị đạn:
-À, con quỷ cái này giỏi thật !
Tuy vậy, hắn không đánh trả. Hắn không lạ gì trình độ quyền cước của nữ bí thư Tsoong-ha. Nàng có thể giết hắn trong khi hắn ngủ say hoặc chưa kịp phòng bị. Giờ đây hắn coi nàng như là trò chơi. Đánh hụt, Tsoong-ha quên cả sợ hãi, nàng mắng như tát nước vào mặt Kan-Yeh :
-Tao là con quỷ cái thì mày là thằng Tào Tháo gian hùng.
Kan-Yeh nhe răng cười :
-Ấy chết, sao em lại nói bậy như vậy? đời Tam quốc có 3 nhân vật cừ khôi, ngoài Khổng Minh và Quan vân Trường còn có Tào Tháo, được xếp vào hàng tam tuyệt.
-Mày đừng tưởng thế là hay, tao gọi mày là Tào Tháo vì mày muốn soán ngôi.
-Soán ngôi ai?
-Ai thì mày biết lấy. Nhưng rốt cuộc công lao của Tào Tháo cũng mất vào tay họ Tư mã. Mày chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu. Tao sắp chết nên tao chẳng cần giữ mồm giữ miệng nữa.
Đột nhiên tướng Kan-Yeh đổ đầy bồ hôi tuy trời khuya ngoài vườn ở Hoa bắc khí hậu lạnh rét căm căm. Hắn toát bồ hôi vì sợ. Từ bao lâu nay, hắn vẫn khoái các nhân vật Tam quốc nên đã cho thợ khéo trạm hình trên bàn giấy bằng gỗ mỹ nhân. Hắn không nói ra song trong thâm tâm vốn có sẵn cảm tình đối với Tào Tháo do mê gái đẹp nên cho xây đài Đồng Tước, còn hắn lập trung tâm hoan lạc M.9 của cục Hậu cần với số gái đẹp đông gấp trăm, và phương tiện khích dâm, hưởng lạc đầy đủ gấp ngàn lần. Hắn cũng có ý định "soán ngôi" nhưng hắn khác Tháo ở chỗ ý định chưa thành sự thật. Hắn sợ vì Tsoong-ha vừa nói hắn chẳng còn sống được bao lâu nữa. Tháo thọ được 66 tuổi thì chết, nay dầu sao hắn cũng đã lục tuần. Trước kia, những lúc say sưa yến tiệc, bên cạnh người đẹp nghiêng nước nghiêng thành, hắn từng khoe tậu được quan vàng, quách bạc lộng lẫy không thua quan quách của Tháo, và bắt chước Tháo đào 72 huyệt. Nhưng phút này hắn mới thấy giấc mộng cao xa của hắn khó thể thực hiện. và hắn sẽ chết, chết 1 cách đau đớn, chết 1 cách nhục nhã, rồi thi thể lủng nát vết đạn bị quẳng xuống hố, tiểu đội trưởng hành hình chỉ vứt lên trên 1 miếng vải trắng tượng trưng.
Hắn đặt bàn tay lên cổ họng Tsoong-ha, giọng hăm dọa:
-Tao chẳng cần mày ký nữa, tao sẽ bóp nát yết hầu của mày.
Tư thế chẹn cổ của tướng Kan-Yeh vừa tạo cho Tsoong-ha 1 cơ hội bằng vàng để thoát hiểm. Tại trường, nhân viên đặc biệt M.9 được học 1 thế đánh vô cùng lợi hại mỗi khi bị địch thủ to lớn chẹn cổ. Thế này cũng là 1 biến dạng của miếng "song chỉ cầm long" trong Thiếu lâm quyền. Theo miếng "song chỉ cầm long" cổ điển, khi địch đánh tới thật mạnh thì dùng cánh tay phải gạt đòn rồi phóng 2 ngón tay vào mắt địch. Nếu địch né tránh được thì tiếp tục phóng ngón tay lần thứ hai, hoặc lần thứ ba. Nhưng nếu "song chỉ cầm long" cổ điển thường nhằm vào con mắt thì thế biến dạng này tập trung vào huyệt u-tô mà nhu đạo coi là tử huyệt, nằm giữa 2 mắt. Trúng huyệt u-tô thì tướng Kan-Yeh phải chết.
Tsoong-ha quyết tâm hạ sát Kan-Yeh, nhưng có lẽ vì tấn công vụng về và chậm chạp nên lại bị hụt đòn. Và hụt đòn phen này là chết. Tướng Kan-Yeh quát lên 1 tiếng dữ dằn, và chặt sống bàn tay xuống cổ nàng. Nàng té nhào xuống nệm cỏ ướt, oằn oại 1 phút rồi lịm luôn.
Kan-Yeh xoa tay đứng dậy. Hắn ngắm xác chết nằm sóng sượt của nữ bí thư đầu ấp tay gối trong 20 năm qua, 1 vệt trăng nhảy múa trên gương mặt kiều diễm. Nàng chết, xương cổ bị đánh dập nát mà diện mạo vẫn không thay đổi. Nàng lại nằm chết 1 cách khêu gợi như thể đang ở trên giường. Những đêm ân ái với hắn, nàng vẫn có lối nằm khích động như vậy. Nàng nằm hơi nghiêng, 2 chân xoạc rộng, 1 cánh tay gối dưới gáy, dường như mời hắn quan sát tường tận những chỗ gợi tình trên thân thể đều đặn của nàng. Hắn lảo đảo dẫm lên luống cây thuốc, nhưng chỉ mấy phút sau hắn bỗng nín cười. Hắn quay mặt nhìn Tsoong-ha rồi hốt hoảng quỳ xuống bên nàng, cầm tay xem mạch. Tim nàng đã ngừng đập, cườm tay không còn hơi mạch nữa. Hắn vạch mí mắt nàng. Tròng mắt đứng yên. Hắn lay vai nàng, gọi thất thanh:
-Tsoong, Tsoong, em ơi, em chết rồi sao?
Hắn tự tát mạnh vào má:
-Lạ thật, tại sao Tsoong lại chết? Thôi đúng rồi, chính mình đã giết nàng nhưng ô kìa, tại sao mình lại giết nàng?
Mảnh giấy chi chít chữ mà hắn bắt nàng ký tên đang nằm tênh hênh trên đất. Một hơi gió thổi qua nâng tờ giấy bản mỏng bồng bềnh lên không, dật dờ như oan hồn người chết. Tướng Kan-Yeh vùng nhớ lại sự việc xảy ra. Té ra hắn ép nàng ký tên vào 1 bản mật lệnh. Hắn định giao bản mật lệnh này cho nàng để nàng thi hành trong thời gian gã thày thuốc thôi miên Rô-bơn lưu lại Bắc kinh. Tờ giấy này không phải là bản ám tử hình. Hắn cũng không hề có ý định giết Tsoong-ha. Hắn thường bực bội trước thái độ ghen bóng ghen gió của nàng, song hắn cho rằng nàng hờn giận có lý. Nàng đã sống bên hắn như bóng với hình suốt 1 thời gian dài. Nàng đã hy sinh tất cả cho hắn. Trong cuộc nội chiến, người chết như rạ vì thiếu ăn, thiếu mặc, nàng vẫn lo liệu cho hắn đầy đủ. Không những hắn được cung cấp thực phẩm rồi rào, hắn còn có rượu ngon để uống, lại còn tận hưởng tình yêu xác thịt nữa. Đến khi cách mạng thành công, nàng lại giúp hắn diệt trừ các đối thủ, mua chuộc quan thày để hắn vọt nhảy thênh thang lên đài dang vọng tuyệt đỉnh.
Hai hàng nước mắt chảy xuống gò má Kan-Yeh. Hắn vừa tìm ra lý do bị u mê. Các chuyên viên hóa học trong trung tâm đã khuyên can nhiều lần mà hắn không chịu nghe. Chất ôhimbê như con dao 2 lưỡi, không để ý thì có ngày đứt tay. Hắn cần uống nhiều rượu để gia tăng khí lực, nhưng rượu thuốc ôhimbê đã biến hắn thành người điên. Tướng Kan-Yeh nói lảm nhảm 1 mình:
-Thế là hết. Có ai biết được nỗi khổ của mình không
° ° °
Tướng Kan-Yeh đã lầm.
Vì khi ấy đã có 1 người biết rõ nỗi khổ của hắn. Người này cũng sống gần hắn như nữ bí thư Tsoong-ha. Gần hắn như bóng với hình. Người này là 1 giai nhân, mặc dầu đã đến lứa tuổi trung niên. Tên nàng là Soe-Fuk. Nàng cũng nói 1 mình, nhưng không lảm nhảm, mà rất sáng suốt:
-Rồi mi còn sống được bao nhiêu ngày nữa? --------------------------------
| 1 | tức là yohimbe. Chất nhựa rút ra trong vỏ cây của cây yohimbe ở miền trung bộ Phi châu thường dùng để khích dâm. Tuy nhiên, cây ô him bê mọc ở Nam Mỹ, đặc biệt ở Chí lợi, Bô li vi, và Á căn đình gọi là cây quebracho có đặc tính khích dâm mạnh mẽ hơn. người ta dùng chất này làm bùa yêu ở Nam Mỹ và Tây Phi. Nó rất hữu hiệu vì tác động trực tiếp tới bộ óc và hệ thống thần kinh dọc xương sống. |
| 2 | con số này là sự thật. Vợ thứ ba của Mao là Ho Tze Nien. Vợ cả của Mao do cha mẹ cưới nên bị Mao bỏ. Vợ hai thì bị Quốc dân đảng giết. Vợ ba này bị Mao ly dị năm 1939 để kết hôn của đào cải lương Giang Thanh. Hiện Giang Thanh nắm quyền hành rất lớn tại Hoa lục. |
| 3 | tin này cũng đúng sự thật. Ho Tze Nien sinh hạ được 2 đứa con trong cuộc trường chinh, và mang con cho dân chúng nuôi dọc đường. Sau khi thành công, Mao sai người về tìm, song dường như 2 đứa con này đã chết. Các sĩ quan giải phóng quân từ sau năm 1949 cũng sai người về các tỉnh ở dọc đường tìm con. Số trẻ con đẻ rơi và vứt bỏ được tìm lại chỉ lên tới 5%, 95% đã bị thất lạc hoặc chết bệnh, chết đói, chết vì chiến cuộc. |